Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc: Phụ Lục (Minh Võ)

PHẦN PHỤ LỤC

Một lá thư dài của Tổng Thống Ngô Đình Diệm


ngodinhdiem12
Đây là thư riêng của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đề ngày 29-5-1956, trả lời thư của ký giả Joseph Buttinger viết cho ông trước đó 9 tháng. Trong cuốn Vietnam, The Unforgettable Tragedy xuất bản năm 1977 Buttinger đã phổ biến cả hai lá thư này để thanh minh với bạn bè trong báo giới về liên hệ phức tạp giữa ông và ông Diệm. Đồng thời cũng chứng tỏ ông đã từng vận động với ông Diệm để các lãnh tụ đối lập có chỗ trong chính phủ lúc ấy như thế nào.

Chúng tôi chỉ dịch đăng bức thư phúc đáp của Thủ Tướng Diệm, để nói lên sự liên hệ thân tình của ông đối với một ký giả Mỹ, đồng thời cũng cho thấy nhận xét và thái độ của thủ tướng đối với vài nhân vật đảng phái lúc ấy, tại sao ông không trọng dụng họ theo đề nghị của Buttinger.

Trong phần tiểu sử Tổng Thống Diệm, chúng tôi đã trưng dẫn lời ký giả Buttinger hết lời ca tụng thủ tướng Diệm, coi việc ông làm như một phép lạ chính trị. Cho đến mãi năm 1957, ông còn được Tổng Thống Diệm tin dùng để cho ông làm thông dịch viên chính thức trong các cuộc diễn thuyết hay họp báo tại Hoa Kỳ, nhân chuyến viếng thăm chính thức của Tổng Thống Diệm

Nhưng sau khi ông Diệm bị lật và bị giết, nhất là sau khi Hồ Chí Minh đã toàn thắng và chiếm trọn miền Nam, thì lập trường của Buttinger thay đổi 180 độ. Ông quay ra mạt sát Tổng Thống Diệm và hết lời ca tụng Hồ Chí Minh, và nặng lời chê trách các nhà lãnh đạo Mỹ. Bạn đọc của Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp của Minh Võ, chương 19 hẳn đã biết.

Joseph Buttinger (1906-1992), người Đức gốc Áo, từng là chủ tịch ban chấp hành đảng Dân Xã Áo Quốc khi mới 28 tuổi. Năm 33 tuổi ông sang Mỹ. Và 4 năm sau thành công dân Mỹ. Ông viết nhiều tác phẩm về Việt Nam trong đó có: Con Rồng Nhỏ, lịch sử chính trị Việt Nam, 1958; Dân thiểu số ở Việt Nam, 1961; Con Rồng nghênh chiến, lịch sử chính trị Việt Nam, 1967; Con Rồng Thách Đấu, lịch sử Việt Nam, 1972 và Việt Nam: Thảm Kịch không thể nào quên, 1977. Đọc Con Rồng Nghênh Chiến gần 1300 trang thì thấy rõ tác giả có xu hướng xã hội tả phái rõ rệt.

Sau đây là thư phúc đáp của Thủ Tướng Diệm:
(bản dịch của MV từ bản dịch Anh văn của J. Buttinger từ nguyên bản bằng Pháp văn)

Sài Gòn ngày 29 tháng 5 năm 1956

Ông Buttinger thân mến,

Gần đây, nhân khi sửa chữa văn phòng, nhân viên của tôi đã tìm thấy lá thư tôi trả lời thư tháng 8 năm ngoái của ông…, kẹt giữa 2 ngăn kéo… Xin ông thứ lỗi cho sự chậm trễ vô tình này khiến ông đã phải lo phiền trong một thời gian quá lâu cho Việt Nam mà ông đã tỏ tình thân hữu rất tích cực..

Nhưng sự bất tiện, phiền hà này lại có lợi cho tôi. Vì nó cho tôi dịp đọc lại một lần nữa với sự xúc động sâu xa thư của ông, một lá thư chứa chan mối thương cảm đối với đất nước tôi và cả sự quan tâm lo lắng nữa. Đó là điều rất đáng trân trọng.

Nó cũng đặc biệt trong sáng và biểu lộ sự sáng suốt của tác giả. Vì một năm trước, ông đã tiên liệu là cộng sản sẽ hành động vận dụng danh từ “tổng tuyển cử” mà thế giới tự do rất nhậy cảm, để tìm cách thôn tính miền Nam VN. Chắc ông biết rằng chúng tôi đã theo lời khuyên của ông để tổ chức các cuộc bầu cử tự do ở miền Nam, bất chấp những cố gắng phá hoại của Việt Cộng và sự e sợ vụ lợi của các đảng phái gọi là yêu nước.

Một số vấn đề ông nêu lên trong thư đã được giải quyết đúng cách. Mặc dầu thời gian đã trả lời cho nhiều câu hỏi khiến ông bận tâm lúc ấy, tôi vẫn còn muốn cùng ông trao đổi về đề tài này, vì tôi nghĩ ông khó có thể đi sâu vào trọng tâm của người và việc của xứ sở này như tôi. Tuy nhiên tôi không mong muốn ông phải có kinh nghiệm đó.

Gần trăm năm đô hộ của thực dân và mười năm chiến tranh khốc liệt đã để lại hậu quả sâu đậm đối với Việt Nam, về thể chất đã đành, nhưng trên hết là về mặt tâm hồn. Thế hệ của những kẻ cấu thành giới thượng lưu để lãnh đạo xứ sở này, tất cả đều được đào tạo tại các trường của Pháp. Vào thời gian họ theo học ở đó, có một cái mốt thời thượng, hoài nghi những điều nghiêm chỉnh, ảnh hưởng cả đến thái độ thờ ơ và thế tục.

Nước Pháp đã trả giá và hãy còn đang trả giá đắt cho sự sa sút tinh thần và trí tuệ trong khoảng thời gian 1930 đến 1940. Nhưng phản ứng của sự sa sút về văn hóa này là những thanh niên Việt khác tự lao đầu vào chủ nghĩa Phát-xít hay chủ nghĩa Cộng Sản. Chính do nhóm sau này mà các đảng CS ở Đông Dương ra đời. Trong khi đó lần lượt theo thứ tự thời gian các nhóm Việt Quốc, Cao Đài, Đại Việt, Hòa Hảo cũng thành hình. Trái với CS được đào tạo một cách nghiêm chỉnh, các đảng quốc gia Việt và các nhóm Phát-xít vắng bóng giới trí thức không thích dính líu, vì vậy chẳng đóng vai trò gì quan trọng cho Việt Minh hay tổ chức nào khác, những đảng quốc gia của chúng tôi rất kém cỏi về mặt chủ thuyết cũng như về tổ chức.

Vì vậy mà họ dễ bị Việt Minh loại trừ và thực dân chế ngự. Không thực tiễn và thiếu tinh thần, họ nghĩ chỉ cần tự xưng là chống cộng cũng đủ để thắng cộng, và họ còn nghĩ tất cả những gì cần làm là tự xưng cách mạng để được phép làm mọi sự dưới ánh sáng mặt trời. Trong chương trình hành động của những đảng phái này, không thấy có một chữ chống phong kiến hay chống nạn bè phái.

Ngoài ra, mặc dù những tuyên bố của họ, không có lấy một đảng nào thực sự tin tưởng là có thể chống lại CS. Tôi chỉ đã nhận ra điều đó sau sáu tháng cầm quyền. Khi tôi ở sân bay Orly để lấy máy bay về nước với tư cách thủ tướng chính phủ Sài Gòn, ông Hoàng Xuân Hãn đã bảo tôi, ông ta sẽ sẵn sàng để tôi dùng nếu tôi sẵn lòng thương thuyết với Việt Minh. Đàng khác ông Nguyễn Mạnh Hà lại đang cố gắng thực hiện kế hoạch sống chung (với CS). Còn ông Hồ Hữu Tường, một người từng theo phe Tờ-rốt-kít (đệ Tứ) thì đã thiếu lương thiện hơn những kẻ khác, khi giấu không cho ông (Buttinger, MV) biết cái chương trình “Trung Lập Chế “ (Neutralism), mà ông ta có ý dùng làm bình phong che giấu chủ nghĩa sống chung cùng tồn tại với Việt Minh, nhưng là cam chịu sự chỉ dẫn của Việt Minh. Qua trung gian một người em là điệp viên CS, Tường đã bắt liên lạc với ông Phạm Công Tắc, hòng đưa Cao Đài vào bẫy Việt Minh. Một trung tá Cao Đài từng là chính trị viên và cận thần của Phạm Công Tắc đã tiết lộ rằng tất cả những mánh lới đó đã khởi sự ngay từ tháng 7 năm 1954, sau cuộc gặp gỡ giữa Phạm Công Tắc và Phạm Văn Đồng ở Genève.

Vì thế Hồ Hữu Tường đề nghị “cung cấp cho ông Phạm Công Tắc phương tiện tài chính tối cần thiết để thành lập phong trào trung lập tại Đồng Tháp Mười trước đó đã tuyên bố tự trị.

Cũng chính Hồ Hữu Tường khi trở thành cố vấn của Bảy Viễn đã thúc đẩy Bảy Viễn khai chiến chống chính phủ. Vào thời gian anh ta phàn nàn với ông rằng anh ta bị chính phủ săn đuổi, chính là lúc anh ta di chuyển tự do từ Sài Gòn tới Paris nhiều lần. Ai cũng biết anh ta không thể có phương tiện tự túc để có thể di chuyển rất nhiều chuyến đi loại đó.

Còn về bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, ông này đã ba lần từ chối làm việc với tôi, viện cớ rằng chỉ có bộ Quốc Phòng, chứ không thể bộ nào kém hơn, mới xứng với tham vọng của ông ta. Đàng khác các phe Cao Đài, Bình Xuyên và Hòa Hảo, không phe nào đồng ý cho Nguyễn Tôn Hoàn nhận bộ đó, vì tất cả đều âm mưu tranh đấu để riêng phe mình nắm bộ Quốc Phòng. Đúng là Nguyễn Tôn Hoàn có nói với tôi rằng anh ta sẽ đảm nhận bộ đó với sự cộng tác của một nhóm nhỏ Hòa Hảo dưới quyền Lâm Thành Nguyên, và nếu không được trao bộ quốc phòng thì sẽ nhận chức đại sứ tại Thái Lan. Thực ra, điều mà Hoàn thực sự hằng ước mơ là trở thành lãnh tụ của một phái Đại Việt mới có quân đội riêng và một vùng tự trị. Anh ta đã luôn luôn theo đuổi giấc mộng đó một cách hăm hở không ngừng nghỉ. Anh ta đã hợp tác với người Pháp, để có được một vùng riêng cho mình. Chẳng may, thủ lãnh biệt động quân Đại Việt mà Pháp đặt ở Cai Lậy, có thể trở thành cái nhân của một phe phái mới, lại ly khai khỏi nhóm Nguyễn Tôn Hoàn để tranh đấu cho mộng riêng của anh ta. Tới nước đó, Hoàn bèn phải quay trở lại vói Lâm Thành Nguyên, một tiểu tướng của Hòa Hảo ở Châu Đốc. Nguyên lúc ấy đang cố xin tôi cho y coi tỉnh Hà Tiên trong vịnh Xiêm La như phần thưởng về lòng trung tín. Nguyễn Tôn Hoàn cũng đang vận động một cách hào hứng cho việc thương lượng đó. Khi Hoàn nói sẵn lòng nhận chức đại sứ ở Băng Cốc, thì một trong những lý do của anh ta là để có thể giúp Lâm Thành Nguyên một tay (buôn vũ khí, xây dựng chiến khu bí mật ở Thái Lan với những dân tỵ nạn nhờ sự giúp đỡ của bạn hữu, những người thuộc phe Hòa Hảo). Một lý do khác là anh ta không tin rằng có thể có cách nào chống lại nổi Việt Minh hay Pháp. Đó chính là điều anh ta nói với Ngô Đình Nhu em tôi khi anh ta xin chú ấy can thiệp với phe Bình Xuyên, đang nắm Cảnh Sát Công An, cấp chiếu khán cho anh ta có thể bay sang Pháp.

Khi Hoàn từ chối không nhận tham gia chính phủ trung ương, tôi đã đưa ra một giải pháp khác mời Đại Việt hợp tác ở những cấp thấp hơn. Bằng cách đó, họ đã được giao ngành Cảnh Sát, Công An và nhân dân tự vệ cấp tỉnh của một tỉnh quan trọng là Quảng Trị ở ngay vĩ tuyến 17. Nhưng Hoàn cho đàn em tin rằng họ sẽ được Mỹ và Pháp ủng hộ, và ra lệnh cho đảng viên ở Quảng Trị và Thừa Thiên, cấu kết với phe Nguyễn Văn Hinh, và với sự khuyến khích của Pháp, quay lại ly khai với chính phủ và thành lập một khu bí mật ở Ba Lòng. Tuy được Pháp vũ trang và tiếp tế, nhóm ly khai này đã bị đánh bại hầu như ngay tức khắc. Bởi vì hầu hết binh sĩ đã từng theo họ đã rời bỏ khi vừa nhận ra mình bị lợi dụng và phản bội. Nhóm Đại Việt Nguyễn Tôn Hoàn hiện đang ẩn náu nhờ người Pháp che chở, trước nhất ở trong trại Chanson. Tại đây người Pháp đã lập cho họ một đài phát thanh mạnh dùng để đả kích loạn xạ chính phủ hàng ngày bằng những luận điệu tuyên truyền bỉ ổi. Sau đó là ở Seno (Ai Lao. MV) là nơi họ tiếp tục vai trò phản bội. Vừa đây Việt Tấn Xã đã công bố một lá thư của Nguyễn Tôn Hoàn gửi cho Guy Mollet xin Pháp can thiệp để bảo vệ Việt Nam. Nguyễn Tôn Hoàn không phải là thí dụ duy nhất về chính trị gia, không được huấn luyện (về chính trị), tìm cách chiếm quyền bằng sức mạnh, mà họ cũng chẳng có.

Một số khác cố vận dụng một nhóm Cao Đài ly khai để thực hiện mộng đảo chính kiểu Phát xít với sự trợ giúp của ngoại bang, như trường hợp bác sĩ Phan Quang Đán chẳng hạn. Anh này đánh lừa tướng Nguyễn Thành Phương bằng cách làm cho Phương tin rằng anh ta được đảng Dân Chủ Mỹ ủng hộ, và được coi như con cưng của đảng Dân Chủ. Một người trong nhóm Phan Quang Đán là Nguyễn Bảo Toàn đã dựng một cửa hàng tại Nữu Ước. Anh ta tới đó sau khi lấy cắp 5 triệu Đồng tức toàn bộ ngân quỹ của đảng Dân Xã Hòa Hảo do tướng Nguyễn Giác Ngộ lãnh đạo. Hiện tướng Ngộ đang chờ anh ta về để nhả số tiền đó ra. Nguyễn Bảo Toàn thường nói tiếng nói Dân Chủ thuần túy, nhưng lại là kẻ chống bầu cử ở miền Nam. Đã bao lần Toàn đến gặp tôi để khuyên không nên dùng biện pháp bầu cử để bầu quốc hội, lấy cớ là chắc chắn Việt Minh sẽ thắng. Theo ông ta, cách khôn ngoan hơn là trưng cầu dân ý về một chủ tịch đoàn gồm những thành viên của nhiều đảng phái khác nhau mà có lẽ tôi sẽ có thể chỉ định. Thực ra đã không có ai trong những vị đó dám đưa tên ứng cử trong các cuộc bầu cử hồi tháng 3. Vì vốn không được nhân dân tín nhiệm, họ sợ sẽ thất bại.

Đây là một vài loại người hay tổ chức cho rằng họ có thể cai trị xứ này, ở giữa những hoàn cảnh ngoại lệ như hoàn cảnh mà Việt Nam đang trải qua. Ngay cả những chính quyền tự do nhất cũng luôn luôn dự trù phải có một hệ thống chuyển quyền đối với một dân tộc đang trải qua trạng thái từ một thuộc địa chuyển sang một nước độc lập, vì sợ sẽ thụt lùi về trạng thái nô lệ với những thành phần phong kiến đang tồn tại. Hoặc giả vì thiếu nhân tài để điều hành chính phủ hay để bảo vệ xứ sở khỏi những tham vọng của đế quốc ngoại lai. Khi nhìn vào những khó khăn gặp phải hàng ngày từ mọi lãnh vực, người Việt chúng tôi hầu như muốn tin rằng những thế lực (đảng phái) nói trên có thể có lý khi họ nghĩ vậy. Bỏi vì chúng tôi đã phải cố gắng liên tục căng thẳng không ngừng nghỉ trong khi cơ chế chính quyền quốc gia bị ung thư Cộng Sản tàn phá. Nhưng tự buông thả để rơi vào sự cám dỗ của những giải pháp dễ dàng nhưng cũng ảo tưởng là một sự phản bội đối với vận mệnh của chúng tôi. Bởi vì không có gì dễ dàng trong cuộc sống của một con người hay của một dân tộc. Điều chính yếu là phải có một lý tưởng và cố gắng thực hiện lý tưởng đó bất chấp mọi gió bão thời cuộc. Đó chẳng phải là tinh túy của dân chủ sao?

Bởi vì dân chủ không phải là thứ gì có thể đạt được một lần là xong, mà là một cố gắng kiên trì đi tìm những phương tiện thích hợp để bảo đảm cho nhân loại một sự tự do tối đa, một trách nhiệm tối đa và một cơ hội tốt nhất cho cuộc sống tinh thần. (Xin xem thông điệp tôi gửi Quốc Hội ngày 12-4-1956). Mục đích của chúng tôi là với những phương tiện hiện có và trong giới hạn mà lịch sử áp đặt lên chúng tôi, tạo được một thể chế cởi mở, để phân biệt khỏi một hệ thống chính trị đóng kín được dựng lên xung quanh một người hay một đảng.

Trong quá trình tranh đấu và tiến bộ của chúng tôi, lối đi càng ngày càng mở rộng, nhờ Ơn Trên. Chúng tôi đã có một quốc hội dân cử. Nay mai sẽ có hiến pháp. Khi nghĩ đến những nước khác ở Đông Nam Á dù không gặp những khó khăn như chúng tôi mà cũng cần tới 5 năm, hay 8 năm mới có được bản hiến pháp, thì chúng tôi có thể cảm thấy hài lòng về những gì đã đạt được trong một thời gian ngắn như vậy. Tình hình hiện nay chắc hẳn đã tốt hơn cách nay một năm. Nhưng năm nay là năm quyết định của chúng tôi. Không thể có chỗ cho những chính khách mạo hiểm hay tay mơ. Phải đối diện với một kẻ thù không thể thắng, bậc thầy về nghệ thuật chính trị, chúng tôi cần phải đưa ra một mặt trận vững chắc để kháng cự, không tì vết nứt rạn từ mọi góc độ.

Nêu ra như thế để, thưa ông Buttinger thân mến, cho ông biết tôi biết ơn dường nào đối với ông và các bạn của chúng ta ở bên ấy đã nâng đỡ chúng tôi. Tôi hy vọng ông sẽ có dịp trở lại Việt Nam này một lần nữa. Nơi đây chắc chắn ông sẽ được tiếp đãi một cách nồng hậu nhất. Dịp đó ông nên dẫn ông Sachs theo, vì không dễ dàng để mà viết về lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam từ Paris. Trong vòng một năm qua đã có nhiều thay đổi tại đây. Các ông sẽ có thể thấy rõ hơn nhiều những gì đang xảy ra khi đến xem tại chỗ.

Nhưng tôi thấy đã muộn rồi và phải chuẩn bị tiếp khách đã lấy hẹn. Trong khi mong chờ cái thú được gặp lại ông sớm, xin gửi ông lời chúc tốt đẹp nhất.

NGÔ ĐÌNH DIỆM.

(xem tiếp trang sau: Lời cuối sách và Thư Mục

This entry was posted in Một thời để nhớ, MINH VÕ: Ngô-Đình-Diệm và Chánh Nghĩa dân Tộc, Nền Đệ I Cộng Hoà, Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.