THÉP ĐEN I: 21-30 (Đặng Chí Bình)

Chương 21

Tài Liệu “M”,
Đối Tượng Là Ai?

Buổi sáng hôm sau, là ngày 14 tháng 6, chỉ còn một ngày nữa là đến hẹn. Hôm nay, tôi lại phải ra bờ hồ. Trước khi đi tôi cúi xuống xem chiếc máy. Họ chủ quan, cho là tôi không biết, nên lúc dán băng keo, lại dán dịch đến 3 phân so với chỗ hôm qua.

Tôi ra đường, sáng hôm nay trời Hà Nội thật đẹp, không mưa không nắng. Không khí dìu dịu làm tỉnh lòng người. Giữa mùa Hè oi ả, có một ngày thế này ai cũng thấy dễ chịu.

Tôi lại thả bộ về bờ hồ. Khi tới ven hồ, tâm hồn tôi cũng ngây ngất với thiên nhiên. Gió hiu hiu của buổi ban mai mùa Hè như mơn trớn da thịt mọi người. Tôi hiểu là hiện giờ cơ quan phản gián của Hà Nội, đang đặt ra nhiều câu hỏi về tôi. Họ chỉ thấy tôi lang thang đây đó suốt ngày, chẳng giao thiệp với ai, chẳng vào cơ quan nào, cứ như là đi tham quan Hà Nội vậy. Để cho chủ trương của tôi sau này thêm hữu hiệu, mắt tôi mơ màng nhìn cảnh vật, trong khi chân bước đều đều từ nhà Thủy Tạ dọc Lê Thái Tổ xuống Trường Thi.

Khi tới một cây phượng vĩ bên hồ, tôi thấy hai hòn đá to ngày xưa, lúc còn nhỏ, tôi vẫn thường ngồi đấy câu tôm, bây giờ vẫn còn đấy. Tôi đứng trước hai hòn đá nhìn chăm chăm một lúc, như thiết tha, như quyến luyến cảnh cũ, rồi cúi xuống lấy tay nhè nhẹ vuốt sờ. Sau đó, tôi lùi ra xa mấy bước, lại đứng nhìn, như gửi gấm, hàn huyên gặp lại cố nhân. Tôi đưa mắt từ gốc cây lên đến những bông hoa đỏ ối. Ôi! Những cánh phượng của tuổi học trò. Tôi nhớ mãi câu thơ chẳng biết của ai:

Đây mùa phượng vĩ xa xôi.
Đây tình niên thiếu, tình tôi nhớ… người.

Tôi cúi xuống nhặt một cánh phượng rơi theo gió, đưa lên mũi ngửi, rồi mở cuốn sách trìu mến, nhẹ ép vào. Tôi biết lúc đó, ít nhất có 10 con mắt ở xa hoặc gần đang chăm chú quan sát từng cử chỉ hành động của tôi, để về tường thuật báo cáo. Những tên ở bàn giấy và thường ra lệnh sẽ phải điên đầu. Chả lẽ, một tên gián điệp, một sống hai chết xâm nhập Hà Nội, để nhặt cánh phượng vĩ rơi ép vào sách? Nhưng đó là thực tế đấy!

Tôi cứ lững thững đi dọc ven hồ, xuống Trường Thi rồi quẹo lên phía bưu điện. Hai cô gái ở chiếc ghế đá cười với tôi, rồi một cô vời vời. Chà, tôi hiểu ngay hai cô là gái kiếm tiền, nhưng các cô không biết tôi đang là con “vi trùng bệnh dịch hạch” hay sao? Các cô mà mó tới tôi bây giờ, là đời các cô sẽ vào …ấp. Để tránh cho các cô, tôi nghiêm mặt coi như không biết, đi thẳng. Các cô còn nguýt theo, tưởng tôi mô phạm, làm cao. Đến cầu Thê Húc, tôi lên cầu, vào chùa. Lang thang ra mãi phía các gốc si già, tôi trèo ra những gố si là là mặt trước.

Tôi nhớ lại ngày 14-7-1953 lúc trước, Pháp và quân đội quốc gia (lúc đó thuộc Liên Hiệp Pháp) tổ chức ngày Quốc Khánh Pháp ở Hà Nội. Trên bờ, có trưng bầy một số vũ khí và 10 chiếc xe “Molotova” còn mới tinh, ở chỗ quán Mụ Béo và nhà Thủy Tạ. Họ nói đó là chiến lợi phẩm thu được của Việt Minh. Dưới nước, ngày hôm đó Pháp chở đến 10 chiếc ca nô loại đổ bộ, chạy xé nước rầm rầm. Trong khi trên trời máy bay biểu diễn cho lính nhảy dù xuống hồ. Chúng tôi còn nhóc, ngây ngất say sưa, lang thang đi xem. Điều đặc biệt: Hàng trăm con rùa lớn nhỏ ở trong hồ, xưa nay sống cuộc đời yên tĩnh. Hôm ấy, tiếng máy ca nô chạy gầm rú ầm ầm, chắc làm các “cụ” nhức đầu, nên cứ chúi vào chỗ mấy gốc si già mọc chằng chịt dưới nước, phía sau đền. Thỉnh thoảng ngộp quá, rùa phải thò đầu lên để thở. Con to, con nhỏ, có con đầu to tướng, hai mép vàng khè. Chúng tôi cứ ngồi sẵn trên những cành si sát mặt nước, chờ “cụ” nào thò đầu lên lại sờ một cái. Có lần một “cụ” đầu mốc meo thò lên đụng ngay vào tay tôi, làm tôi giật mình, suýt ngã xuống hồ. Suốt ngày hôm ấy, chúng tôi gọi nhau tíu tít từ phố Hàng Bạc ra, để sờ đầu… rùa.

Tôi trở ra, vòng lại cầu Thê Húc. Đứng trên cầu, nhìn làn nước xanh rì, từng ngọn sóng nhấp nhô, như cau mày giận hờn, phản đối lũ cầm quyền tàn bạo, khát máu người dân.

Ngày xưa, đã hơn một lần tôi thắc mắc, tại sao nước hồ Hoàn Kiếm lại xanh như vậy? Và tôi được trả lời: Một số các nhà địa chất, sau khi thăm dò nghiên cứu những mẩu đất đá nhiều nơi tại Hà Nội, đã kết luận rằng: Chếch ngang phía dưới lòng hồ là một mỏ đồng. Nếu bây giờ khai mỏ, cả khu trung tâm, nghĩa là một nửa thành phố Hà Nội, sẽ không còn. Vì thế, nước hồ Gươm muôn đời vẫn xanh, xanh hơn cả nước biển khơi.

Ra tới đầu cầu, tôi nhìn khoảnh đất nằm dài hình chữ “T” giữa cầu và đền Bà Kiệu, xưa kia những ông đồ già, ngồi lom khom viết câu đối và mấy người bày những bàn cờ thế, để thách thức khách thập phương. Cảnh cũ còn đây, nhưng người xưa đâu thấy! Chỉ có “đôi vợ chồng” quen mặt, tôi đã gặp ở ngỏ Hàng Giầy khi đi ăn cháo, đang ngồi như tâm sự yêu đương trên một chiếc ghế xi măng, cạnh gốc phượng già.

Mặc chúng mày! Tôi rẽ xuống vườn hoa Con Cóc, để chuẩn bị một địa thế thuận tiện cho ngày hẹn ước, trao tài liệu “M”. Sau một hồi loanh quanh, tôi đã tìm được một chỗ ưng ý. Tôi trở ra đường Đinh Tiên Hoàng, đón tầu điện đi thẳng xuống Bạch Mai. Khi tầu điện đi qua rạp Majestic cũ, bây giờ đổi tên là rạp Tháng Tám, đang trình chiếu cuốn phim “Cô Gái Lọ Lem” của Rumaine. Ở Sài Gòn tôi đã xem rồi, nhưng do Pháp thực hiện; giờ thử coi của Rumaine xem sao? Tôi nghĩ như vậy, nhưng vẫn ngồi trên xe điện đi thẳng xuống chợ Hôm. Đường phố ở đây thực bụi bặm rác rưởi. Ngó sang rạp xi nê Hà Nội, trông lại càng tiêu điều hơn. Một vài tấm bích chương quảng cáo treo trên tường cũ mèm, rách tả tơi. Lưa thưa đây đó, dăm đứa trẻ chơi đùa ở trước cửa rạp.

Tôi rẽ vào khu chợ trời. Ôi, thật là hỗn độn, hổ lốn, lộn tùng phèo đủ mọi loại người chen chúc. Đây đó, thấp thoáng trong cái xô bồ của một bãi rộng, là những anh chàng cảnh sát đồng phục mầu vàng, và những anh những chị mặc thường phục đeo băng đỏ, xông xáo chạy lăng xăng. Thế mà chuyện cắp trộm, lừa lọc vẫn thường xuyên xảy ra. Chỗ này, một anh cảnh sát đang lập biên bản giữ một chiếc xe đạp, của anh phó chủ nhiệm một hợp tác xã, mua phải xe ăn cắp. Chỗ kia, mấy anh du kích đang giong đi trong đám đông, một tên ăn cắp chừng 20 tuổi bị trói tay. Trong lúc chen lấn, lợi dụng sự đẩy xô của đám đông, tôi ôm chầm vào vai của một cái “đuôi”, làm cho anh chàng lúng túng, lủi lẹ. Khi y phải tường thuật báo cáo, chỉ huy của chúng sẽ càng phải đau đầu với tôi. Như vậy là tôi đã chẳng biết gì cả.

Rời khu chợ trời, tôi trở ra phố Huế, về rạp Tháng Tám, tôi lấy vé vào xem. Trình độ nghệ thuật Thứ Bẩy của Rumaine còn khá hơn của Liên Xô, nhưng phần cuối của nội dung cuốn phim có phần đổi khác. Làm sao cô bé Lọ Lem này, ở trong chuyện cổ tích xa xưa, lại có một số lời nói và hành động cứ như là, thích chủ nghĩa Cộng Sản ấy. Xin chịu thầy!

Tôi về Hàng Buồm ăn cơm tối. Thấy một nhà trọ ngay cùng phố, tôi thuê một phòng giá 1 đồng 20, không về Ngã Tư Sở nữa. Ngày hôm sau, 15 tháng 6, tôi hơi mệt, định nằm luôn nghỉ một ngày, nhưng nghĩ đến ngày mai là ngày ước hẹn, hôm nay nằm nhà, mai đi sẽ gây cho các “đuôi” đặt vấn đề hơn. Ngày nào cũng đi lang thang mới là chuyện bình thường, Nghĩ thế, tôi ra đón xe điện đi Cầu Giấy, tôi lang thang đi bộ vào chùa Láng. Cảnh chùa thật vắng lặng đìu hiu. Nơi đây những hội hè tấp nập năm xưa, chỗ hẹn hò lôi cuốn bao nhiêu trai gái Hà Thành, bây giờ hương khói vắng tanh thế này? Thế mà từ góc một bức tường rêu, thập thò ở gốc cây muỗm già sát bờ ao, lấp ló trong bụi dâm bụt phía sau chùa, vẫn những bộ mặt chó chết của lũ cộng thù. Chẳng qua vì cái thế, ta phải tạm chịu các ngươi, chứ trong lòng ta vẫn coi thường các ngươi!

Đến đây, tôi nhớ đến mấy câu thơ của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cháu xin phép cụ đổi vài từ trong bài “Khôn Dại” để phù hợp với tâm tạng của cháu lúc này:

Ở đời, biết ai là dại, biết ai là khôn?

Khôn ấy hết thời, khôn ấy dại.

Dại mà gặp thế, dại mà…khôn.

Đố ai biết được, ai khôn dại.

Mới lọ là người biết dại…khôn!

Gần trưa, tôi thả bước về đền Voi Phục, tìm lại dư âm của buổi ấu thời. Ngay từ cổng dẫn vào chùa, hai chú voi đá, một chú đã sứt vòi vẫn nằm đấy, vẫn rêu phong cùng tuế nguyệt. Nhìn vào phía trong, mái chùa loang lở đen xì, cạnh những tàng cổ thụ khòng khèo vì dãi dầu với năm tháng. Xa xa về phía trái của đền, những mầu đất đỏ au đây đó, lẫn vào mầu xanh bạt ngàn của cây lá. Đó là công viên Thủ Lệ, bởi nhà cầm quyền Cộng Sản đang vận động, thúc đẩy hàng chục ngàn thanh niên nam nữ nội, ngoại Thành đến công trường lao động hằng ngày, để tạo lập công viên. Trong chùa, cũng loáng thoáng dăm ba người, có thể là những người thích thiên nhiên, hoặc danh lam thắng cảnh của đất nước, hay có khi chỉ là người vào trú những cơn nóng Hè.

Bình thường khi đến thăm một ngôi đền cổ, sau khi chiêm ngưỡng những đặc cảnh của đền, tôi thường vào thăm hỏi các vị tu hành, hoặc người trông coi ngôi đền đó. Nhưng ở đây, tôi không được phép, vì ý thức trách nhiệm, biết sẽ gây khốn đốn, khó khăn cho các vị sau này. Cho nên, tôi đành ra một cháng cây đa già, đang nghiêng mình nằm sóng xoài nơi bóng mát hữu tình, như mời gọi người lữ hành mệt mỏi cơ thể, cũng như tinh thần vì những chuân chuyên, chìm nổi của cuộc đời.

Tôi ngồi đăm chiêu suy nghĩ đến ngày mai. Nhiệm vụ tôi xâm nhập Thủ Đô hoạt động, nơi đầu não của chế độ Cộng Sản Việt Nam, đã thực hiện ngót ngét nửa phần. Còn tài liệu “M” nữa. Ngày mai, tôi cầu xin anh linh của dân tộc, khí thiêng của sông núi cho tôi hoàn thành nhiệm vụ, rồi thân xác của tôi có theo về với gió bụi, tôi cũng cam lòng. Gọi là để đóng góp phần nhỏ bé của một thanh niên vô tên tuổi, khi quê hương, đồng bào rên xiết lầm than, trong bàn tay đầy máu của lũ giặc cộng. Để khỏi thẹn mặt, cúi đầu trước mặt Cha Anh và các chiến hữu, đã nằm xuống cho tự do của mọi người. Đất nước, dân tộc đau thương, mỗi người dân Việt mỗi trách nhiệm!

Chiều tàn, tôi lại trở về nhà trọ Hàng Buồm, tắm rửa, ngủ nghê cho khỏe để chờ ngày mai. Sáng hôm sau, ngày 16 tháng 6. Tôi vẫn ăn mặc quần áo như ngày hôm trước tôi đi chơi chùa Láng: nghĩa là quần xanh, áo sơ mi trắng, đầu đội mũ xanh công nhân, chân đi đôi dép Thái Lan quai đỏ, vai đeo túi dết. (đó là những vật hiệu quy định khi trao tài liệu “M”).

Hôm nay, tôi phải dùng hết khả năng nghề nghiệp, quan sát, xác định rõ bao nhiêu cái “đuôi” của tôi. Vì thế, ngay khi tôi ra khỏi cửa nhà trọ, giữa phố Hàng Buồm đông đúc khách bộ hành ngược xuôi, tôi đã điểm tất cả những bộ mặt, cũng như dáng người chung quanh tôi. Từ gần tới xa, tối đa mắt của tôi, có thể nhìn thấy. Chỉ có hai người tôi đã biết mặt, còn vài người nữa, tôi khả nghi. Tôi dẫn chúng về ngõ Hàng Giầy, ra Tạ Hiền, xuống Hàng Bạc, sang Hàng Bồ, rẽ Hàng Quạt đến Hàng Gai ra nhà Thủy Tạ bờ hồ. Tôi đi loanh quanh một đoạn đường ngoắt ngoéo như vậy.

Tôi mua một ổ bánh mì, một tờ báo Quân Đội Nhân Dân, rồi tôi lững thững đến một chiếc ghế đá sát bờ hồ, khu trước rạp xi nê Phillamonique trông ra. Ngồi tại chiếc ghế xi măng này, tôi có thể nhìn thấy toàn bộ cầu Thê Húc, cách đó gần 300 mét.

Lúc đó là 8 giờ kém 15 phút. Ngồi nhai ổ bánh mì, lợi dụng những động tác vươn vai, hoặc ngúc ngắc đầu cho khỏi mỏi, tôi đã thấy đủ hai người cũ và hai người nữa tôi đã thấy mặt ở Hàng Buồm lúc vừa ra khỏi nhà trọ. Một người rất khôn khéo đứng nấp sau tấm biển quảng cáo phim, ở trong khung cổng rạp xi nê. Làm sao sót được mắt tôi lúc ấy. Tôi hơi băn khoăn, mọi hôm ít nhất 5 người, sao hôm nay chỉ có 4? Hay còn một tên nữa rất quái quỷ, nấp ở chỗ nào đó trong cái phố xá đông đúc này mà tôi không biết? 10 phút sau, tôi lại tốn công tìm động tác giả, để quan sát một lần nữa. Vô ích, vẫn chỉ 4 mống. Phải chăng cơ quan phản gián Hà Nội thấy hàng tuần lễ nay, ngày nào tôi cũng đi lang thang đây đó, chẳng thấy tỏ ý định làm một cái gì, hay giao thiệp với ai, nên chúng đã giảm người theo? Sở dĩ chúng phải cho nhiều người theo dõi, vì nếu tôi gặp, nói chuyên với ai, số người ấy phải chia ra để theo dõi người đó. Nếu tôi gặp hai, hay ba người trong một ngày, chúng phải tăng cường. Dù sao, đây cũng chỉ là sự phán đoán của tôi, chưa phải là kết luận, cho nên tôi vẫn phải cảnh giác tối đa.

8 giờ đúng, bắt đầu tôi căng mắt rõi về phía cầu Thê Húc. Lòng tôi cũng thấy hồi hộp, xốn xang đợi chờ. Đối tượng là ai? Già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà? Chắc chắn không phải là một ông cha, hay ông sư đầu trọc lốc. Nếu thế, cũng phải mặc quần áo bình thường và đội mũ che giấu đầu trọc.

8 giờ 15 rồi, vẫn chẳng thấy gì? Quái thật, phút đợi chờ làm cho tim tôi đập nhanh hơn lúc bình thường. 8 giờ 30 phút. Tôi đã bắt đầu sốt ruột. Theo quy định thời gian trao tài liệu “M” là từ 8 tới 10 giờ. Tôi muốn ngồi từ xa, khi nào thấy đối tượng tôi mới đến. Như vậy có nhiều điều lợi. Tôi chủ động được vấn đề, và quan sát sự an ninh của đối tượng, để từ đấy tùy nghi ứng biến. Tôi lại nghĩ: Hay biết đâu, chính đối tượng cũng có ý nghĩ như tôi thì sao? Nghĩ thế, tôi đứng dậy đi dọc theo bờ hồ, tới ngang cầu, rồi cứ theo bờ hồ đi xuống mãi, hơn 300 mét. Không hề có một ai mặc quần áo như quy định. Người đúng cái này, lại sai cái kia hay ngược lại.

Đã trót xuống phía đó, tôi lại kiếm một cái ghế xi măng ngồi. Chiếc ghế này hơi bất tiện, vì bị một cây che mất cầu. Dù vậy, thỉnh thoảng tôi hơi nghiêng người về phía trước, vẫn thấy toàn bộ cầu. Trong lòng tôi cũng thấy thấp thỏm như chờ người yêu. Tôi có đọc đâu đó một đoạn thơ, không nhớ rõ là của Lưu Trọng Lư hay Hồ Dzếnh:

Em cứ hẹn, nhưng em đừng đến nhé,

Anh sẽ trách, cố nhiên nhưng rất nhẹ!

……

Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần,

Anh sẽ nói: Gớm làm sao nhớ thế!

Với tôi bây giờ là: Gớm làm sao lâu thế! Và, tôi cũng đang nhìn điếu thuốc nghi ngút khói, mặt hướng về cầu Thê Húc.

9 giờ đúng. Một nỗi buồn ở đâu len lén vào lòng tôi. Hay đối tượng có trở ngại gì? Trục trặc gì? Nếu vì lý do nào đó, tôi không trao được tài liệu này, lòng tôi sẽ khắc khoải suốt cuộc đời. Bao nhiêu gian nan, nguy hiểm, sống và chết, bao nhiêu đợi chờ mong ngóng của tôi! Bây giờ, người ơi, sao cứ biền biệt. Tuyệt vọng rồi lại hy vọng, hay có thể đối tượng lại đang ngồi phía tôi ngồi lúc sáng! Dù thế nào, tôi cũng không đi lại phía ấy nữa. Vì làm như vậy, những cái “đuôi” có thể nghi tôi đang sốt ruột chờ đợi cái gì. Nếu thế, đành để ngày 18 vậy.

Tôi đang đầy vơi với nỗi niềm nặng chĩu, thì kia rồi! Tim tôi khẽ bóp nhẹ. Đối tượng lại là một cô gái mới chết chứ! Đúng rồi: Áo nâu, quần ka ki xám, tay cầm vở hoặc sách, và dép…? Tôi chưa nhìn rõ vì xa gần 200 mét. Tôi vẫn ngồi yên. Đối tượng đi qua cầu đến gần sát cổng đền Ngọc Sơn, ngừng lại, đứng tựa vào lan can cầu và đang cúi nhìn cái gì đó ở dưới nước.

Tôi chợt nghĩ, nếu đối tượng cũng có “đuôi” thì sao? Trường hợp này, Cục tình báo miền Nam, và cả Mỹ, chưa nêu ra cho tôi. Tôi đặt giả thuyết: Đối tượng hiện giờ có “đuôi” nghĩa là cũng đang bị phản gián Hà Nội theo dõi. Nếu chúng tôi gặp nhau, địch sẽ cởi được một mắt xích. Nếu không gặp nhau, gần nhau mà không khéo để địch phát hiện có liên quan, thì kết quả cũng như trường hợp trên.

Cách giải quyết duy nhất: phải hết sức tinh tế, không để một cử chỉ nào, dù là một ánh mắt, cho những cái đuôi phán đoán được hai người có liên hệ với nhau. Tôi coi như không chú ý đến cầu, chân bước, quay gáy lại phía cầu. Mắt lơ đãng, nhìn giòng xe đạp xuôi ngược trên đường phố. Khi ngang qua cầu, làm như không chủ định trước, chợt thích ghé vào chơi như mọi khi. Thấy mấy em nhỏ dưới bờ hồ, chỗ chân cầu đang câu tôm, tôi rẽ xuống đứng xem, cầm một con tôm, hỏi chuyện các em. Tôi liếc nhanh đối tượng. Đối tượng chưa nhìn thấy tôi, vì còn cách một cái cầu dài 50 mét. Đối tượng đứng phía cổng đền, tôi đứng phía bờ.

Bây giờ, tôi nhìn rõ. Dép râu và 3 quyển vở rõ ràng. Rõ ràng hơn nữa, cô chừng 22 tuổi, có bộ mặt trái soan, da trắng bóc nổi rõ màu đen huyền của đôi mắt. Vô lý! Một cô gái tuổi như thế này, lại “giao thiệp” với Sài Gòn? Nhưng, có thể cô chỉ là một mắt lưới, mà đường dây bí mật đã phái cô đến chỗ hẹn, theo quy ước để nhận tài liệu của Sài Gòn. Tôi đang suy nghĩ, chợt một anh chàng có dáng dấp thành thị, tiến đến đối tượng. Tôi mở to mắt ngạc nhiên theo dõi. Qua thái độ của cô gái và thái độ anh chàng đó, tôi hiểu là anh chàng đi chơi, thấy một cô gái đẹp, sà đến tán. Đúng vậy, cách bỏ đi vào chùa và bộ mặt rất nghiêm lạnh, bực tức của cô gái, đã trả lời sự phán đoán của tôi.

Tôi quan sát 4 cái đuôi của tôi, trông rõ vị trí đứng ngồi của chúng. Yên tâm, tôi tiến lên cầu. Trên cầu còn hai, ba đứa trẻ và một vài cậu nhơ nhỡ có vẻ học sinh vì cặp sách, một gái, hai trai. Tới giữa cầu, tôi đứng lại nhìn xuống hồ. Chợt nhớ ra: Tôi xắn tay áo lên vài lượt như thể nóng quá. Tay tôi vẫn cầm tờ báo “Quân Đội Nhân Dân” gấp đôi. Tôi hơi băn khoăn, vì đối tượng đeo một túi dết mầu xám, điều này không hề có trong quy định trước.

Rồi tôi nghĩ, cũng như tôi, có túi dết mà không quy định. Vì còn có mật hiệu phải trả lời nữa chứ. Nguyên tắc quy ước là gặp trên cầu. Nhưng vừa rồi vì lý do anh chàng tán gái, nên cô đó đã phải đi vào chùa, phải linh động. Tôi cũng đi vào chùa, vừa đúng lúc đối tượng từ phía Trấn Ba Đình, định đi vòng lại ra phía cầu.

Đối tượng thoáng thấy tôi. Mắt đối tượng mở to, tươi hẳn lên, vừa như ngạc nhiên. Tôi làm sao biết đối tượng đang nghĩ gì, chỉ thấy đối tượng hơi đỏ mặt và hơi lúng túng. Tôi coi như không biết, vờ đứng chăm chú xem cái biển gỗ sơn xanh viết chữ trắng: “Đây là di tích lịch sử đã được liệt hạng…”

Biết đối tượng đang nhìn, hai tay tôi gấp tư tờ báo, rồi gấp 8, theo quy ước. Một phút, hai phút, bằng ánh mắt nhìn ngang, tôi thấy đối tượng đứng xa tôi gần 15 mét, làm như vô tình, chuyển ba quyển vở từ tay này sang tay kia. Tôi rất phấn khởi, thái độ ấy, chứng tỏ đối tượng rất điềm tĩnh. Vậy khi nãy đối tượng hơi không được tự nhiên là vì lý do khác. Bây giờ đã trấn tĩnh nên tỏ ra có nghiệp vụ cao. Sự hoan nghênh và phấn chấn dậy lên trong lòng tôi. Một chiến hữu, một đồng chí có khả năng, như vậy mới có thể là đối thủ của kẻ thù.

Tôi lững thững đi ra. Mắt tôi liếc nhanh. Nếu “đuôi” đứng ngoài 10 mét, dù chú ý cũng khó phát hiện cái liếc ấy. Hai “đuôi” vẫn chỗ cũ, hai “đuôi” khác đã tiến dịch vào phía cầu. Và, bây giờ thêm một “đuôi” nữa, mà từ sớm tôi không thấy. Anh chàng có bộ mặt vẻ học sinh trong hiệu cháo Sinh Ký, đang đứng một phần ba cầu phía ngoài. Tôi tự hỏi “Thế từ sáng, tên này nấp đâu? Hay vừa mới tới?” Họ tưởng tôi sẽ vào chùa chơi lâu, như mọi khi nên đang định tiến vào, thấy tôi trở ra, họ vờ vịn lan can cúi xuống hồ nhìn nước. Thực ra, ngay lúc ấy, trong khoảng một phút thôi, sau khi thấy đối tượng “chuyển vở qua tay”, tôi giơ tài liệu cho đối tượng trông thấy, rồi vất ngay xuống đất, làm như đánh rơi, để đối tượng đi sau lấy rồi cũng xong. Nhưng, tôi hơi ngập ngừng áy náy, chẳng biết đối tượng có phản xạ kịp không, nếu không, sợ rằng lại có thể đẻ ra những tình huống khó khăn khác, nên lại thôi.

Tôi cứ chậm chạp tiến về vườn hoa Con Cóc, cách đấy khoảng 700 mét, sà vào một bệ đá, chỗ vòi phun của một con cóc, nơi tôi đã có chủ ý từ hôm qua. Chỗ này có một số đá lổn nhổn, lẫn cỏ với lá khô. Tài liệu của tôi mầu nâu, đồng mầu với lá khô. Hơn nữa, ở đấy có một bụi cây rậm, có rễ mọc nổi, thuận tiện chỗ để. Thò tay vào sờ thì thấy, còn nhìn bên ngoài sẽ không thấy, mà bụi cây lại che được một góc chết.

Tôi ngồi thong thả mở báo ra đọc, liếc nhanh các đuôi, rồi lựa thế che dưới tờ báo rộng, tôi để tài liệu. Xong, tôi tiếp tục đọc báo. 10 phút sau tôi ngửng lên, vặn người. Tôi đã thấy đối tượng ngồi cách xa tôi 150 mét trên một ghế đá, cùng với một bà đang cầm cái chổi dài, có lẽ là người dọn vườn hoa. Đối tượng thỉnh thoảng lại nhìn tôi. Tôi vẫn vờ xem báo, hết lật trang này lại giở trang kia. Vừa lúc đối tượng nhìn, tôi gãi khuỷu tay phía để tài liệu, một ngón tay cong cong chỉ thẳng vào chỗ tôi đã bỏ tài liệu “M”. Tôi đưa ánh mắt như chăm chú nhìn một cành cây gần tôi, hơi chéo nơi đối tượng ngồi. Quả thực đối tượng là người điềm tĩnh, không báo cho tôi biết ngay mà mãi hai, ba phút sau, mặt nhìn hơi khác và giơ tay lên gãi đầu. Lúc này, các “đuôi” có mắt cũng như mù, làm sao đoán được hai hành động rời rạc ấy lại ăn khớp với nhau, trừ phi đã biết trước.

Lúc này, lòng tôi thật khó diễn tả. Vừa nhẹ nhàng lâng lâng, trang trải món nợ quê hương, vừa bâng khuâng lưu luyến một cái gì, như gần gũi mà lại thật xa xôi; vừa tái tê với cuộc đời đã nằm trên thớt của kẻ thù, mịt mù sống chết lúc nào không hay.

Tôi đứng lên, chân không muốn bước mà vẫn phải đi, ngập ngừng giã biệt. Chẳng biết đối tượng có hiểu những nỗi niềm đầy vơi, trong lòng tôi lúc này không? Tôi đang ngày đêm nằm trong nước sôi lửa bỏng. Chợt một ý nghĩ, nếu tôi không có “đuôi” lúc này thì sao? Đời tôi đã chả từng cay ghét chữ “nếu” rồi sao? Tôi đi mãi, ghé ra bờ hồ, để tôi có thể nhìn chéo 40 độ về phía đối tượng cách rất xa tôi chừng hơn nửa cây số. Tôi chỉ còn thấy bóng dáng (không thể nhìn rõ mặt) đối tượng vẫn ngồi yên chỗ cũ. Tôi vừa thẫn thờ đi từ đó tới đây, cũng phải mất hơn 10 phút, vậy đối tượng đến lấy tài liệu chưa? Theo phán đoán của tôi thì chưa. Chỉ qua hai lần tiếp xúc bằng ánh mắt và cử chỉ, tôi đã thấy đối tượng tỏ ra là người trầm tỉnh. Hơn nữa, không bao giờ đối tượng đến lấy rồi lại ngây thơ trở về chỗ cũ ngồi. Vậy thì chưa đâu! Tôi yên tâm, đưa mắt lơ đãng đuổi theo những tảng mây trắng nõn, như những búi bông khổng lồ, đang chầm chậm bò trên nền trời xanh thẫm, về miền Nam xa xôi. Mãi 15 phút sau, bóng dáng của đối tượng mới từ từ tiến đến chỗ tôi ngồi khi nãy, làm như bâng khuâng nhìn vòi nước phun tung tóe từ miệng con cóc bằng xi măng, rồi ra vẻ như mệt, đối tượng ngồi xuống.

Tôi vẫn quay mặt ở một góc 40 độ với đối tượng, mục đích khi đôi tượng đứng lên đi, tôi quan sát theo dõi xem đối tượng có “đuôi” hay không? Sao mà ngồi lâu thế! Tôi vừa trách, lại vừa không muốn đối tượng đi, thật là mâu thuẫn. Đối tượng đi là vĩnh biệt rồi.

Chẳng hiểu trong lòng đối tượng nghĩ gì mà ngồi mãi không đi, lâu lâu lại nhìn phía tôi. Phải chăng tâm trạng của đối tượng cũng như tôi?

Do những điều kiện khắt khe tôi đang nằm trong lưới của kẻ thù, nên khi nhìn đối tượng, một ý nghĩ lởn vởn trong óc tôi, ước gì tôi có thể lên tiếng cùng đối tượng một vài lời nhỉ? Gần 20 ngày qua, tôi đã buộc kín lòng mình, đến trở thành cô độc, lẻ loi trên mảnh đất thân yêu này Chỉ còn có người, một chiến hữu, một đồng chí, tuy ngồi ngay trước mặt, cùng thở hít chung nhau một bầu không khí, cùng bâng khuâng đầy vơi ngắm chung một cảnh hồ, mà người ơi, xa vời vợi! Rồi đây, tuy chúng ta cùng chung một lý tưởng nhưng hai đường đời. Xin cầu chúc cho người gặp nhiều thuận tiện, may mắn, đạt những thành quả vẻ vang trên đường đi của dân tộc. Thôi, tôi xin cúi đầu biết ơn đối tượng. Thế lả đủ cho kẻ bất hạnh này ghi nhớ mãi mãi, trong những ngày gian khổ tới đây.

Mãi gần 12 giờ trưa, mặt trời chói chang đã đốt khô cảnh vật, tôi mới thấy đối tượng đứng lên, không quên nhìn về phía hồ một lần nữa và chẳng hiểu sao, đối tượng quay lưng lại vừa đi vừa gãi đầu, nghĩa là khoảng cách giữa đối tượng và tôi dần dần xa vời vợi.

Đối tượng không có “đuôi”, tôi cũng mừng. Chỉ có số phận hẩm hiu của tôi là có “đuôi”, mà những 5, 6 cái.

Trời Hạ lúc này trong xanh, chỉ còn một vài vẩn mây, không gian, cảnh vật bừng sáng lung linh. Tôi nhìn thẳng ra Tháp Rùa đứng chơ vơ như hòn non bộ, chiếc bóng nghiêng nghiêng lung linh dưới nước như nhún nhẩy reo vui mừng rỡ. Hai con rùa chẳng biết bò lên chân tháp tự bao giờ đang nằm ấp lên nhau phơi nắng, như hai cái nồi ba mươi đen xì. Những chùm phượng vĩ đỏ ối tràn lan chung quanh hồ, đang sói bóng trên mặt nước, nổi bật lên giữa cái xanh ngắt của bầu trời và màu xanh của lá cây tạo thành một bức tranh sơn mầu rực rỡ. Một trận gió Nồm Nam thổi dọc từ phía “Gô Đa” về. Những chiếc lá me đong đưa đẩy như trăm ngàn bàn tay nhỏ tí đang vỗ, gây lên những tiếng xào xạc lẫn vào tiếng ve kêu vang vang như hồi kèn thắng trận. Thoang thoảng đâu đây mùi nồng nồng ngan ngát của nước hồ tù, mùi dìu dịu ngây ngây của những chùm phượng, mùi ngòn ngọt man mát của mấy bông hồng trong vườn hoa phía bên kia đường, tất cả quyện vào nhau thành một thứ hương ngây ngất hồn người.

Tôi đứng dậy, lòng nhẹ lâng lâng, tinh thần sảng khoái. Hôm nay hơi đặc biệt, tôi tự thưởng công 3 đồng, đi thẳng lên ngõ Hàng Giầy chén một bữa nem cua rán.

—>Chương 22

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Đặng Chí Bình. Bookmark the permalink.