THÉP ĐEN III: 1-10 (Đặng Chí Bình)

Chương 10

Những Ngày Đầu Trong Lán Thủ Công

Sau đó, tôi định bước vào chỗ mấy ống bễ, thì phía lán của toán 2 đang ầm ầm những tiếng nói to như cãi nhau. Tôi vội vàng trở về lán vì cũng nhác thấy tên cán bộ toán và Lân đang từ trong buồng con đi ra và đang tiến về chỗ đám cãi nhau.

Một đám đông, độ mười mấy người trong đó có cả Phan Thanh Vân, Bùi Tâm Đồng cạnh chỗ một đống to vỏ bào ở góc sân. Có hai người đang đỏ mặt tía tai giằng co mấy tấm ván gỗ. Khi tên cán bộ đến, thì hai anh này đều bỏ tấm ván xuống rồi tranh nhau báo cáo. Tên cán bộ mặt đanh lại, chỉ vào người có dáng mảnh khảnh (sau này tôi mới biết tên anh là Châu), cho báo cáo trước. Anh Châu, tuy đã tỏ ra lễ phép nhưng vẫn còn toát ra nỗi uất giận trong giọng báo cáo:

– Báo cáo cán bộ, những tấm ván này, mấy hôm trước anh Lân toán trưởng đã phân về cho tổ chúng tôi. Chúng tôi chưa kịp lấy về thì tổ anh Vân hôm nay đã cho người ra khuân về.

Anh kia, người lùn tịt, hẳn là ở tổ Vân, cũng hấp tấp báo cáo:

– Thưa ông cán bộ, anh Châu đã nói không đúng, những tấm ván này, ngay từ tuần trước, tổ chúng tôi đã mất thời gian chọn lựa từ trong đống gỗ ra. Chúng tôi đã sắp xếp chuẩn bị từng khâu theo kế hoạch lao động của tổ chúng tôi.

Tên cán bộ nhăn mặt lại, dõng dạc giọng miền Nam:

– Bây giờ, không được ai dùng những tấm ván này. Tất cả hãy về chỗ, không được lãng phí thời gian trong lúc lao động.

Mọi người đều dãn ra, đâu trở về đấy, không còn một tiếng ho hay hắng dặng. Nhìn và nghe cảnh này, tôi cũng chịu. Có lẽ tôi không hay chưa hiểu nổi vì sao. Tôi đang định chuồn ra phía sau để tránh mặt tên cán bộ thì Lân đã trông thấy. Nhìn tôi, Lân cao giọng:

– Anh Bình lên cho cán bộ gặp!

Tên cán bộ liếc nhìn tôi như ý bảo theo y, rồi quay lưng lại đi về phía căn nhà con. Tôi lặng lẽ, chậm chạp đi theo phía sau y. Khi tới cửa, tôi ngừng lại, thì y đã chỉ chiếc ghế đẩu trước bàn của y rồi nhìn tôi nhẹ nhàng:

– Anh vào ngồi đây!

Y cúi xuống, lật qua mấy tờ ở tập sổ hay hồ sơ ở trước mặt, đoạn ngẩng lên nhìn tôi, thong thả:

– Anh tên gì?

– Dạ thưa, Đặng Chí Bình.

Y lại nhìn xuống cuốn sổ. Tôi liếc nhìn toàn bộ trong chiếc phòng con. Trong góc chỉ có một chiếc tủ con bằng gỗ mộc, một cánh khép hờ. Trên mặt tủ, một cành hoa giấy mầu vàng nhạt, chắc vì lâu ngày nên đã xỉn lại. Bên cạnh là một chiếc lọ mực Waterman cũ kỹ không có nắp. Trên vách, phía sau lưng y, tấm hình tên Hồ già dán vào vách nứa. Đôi mắt lão lờ đờ vàng kệch vì tấm tranh đã sờn mép. Bên dưới có khẩu hiệu viết tay: “Hồ chủ tịch muôn năm”, nét chữ còn mới, rất mềm. Nhất là hai bông hồng hai bên vẽ thật tươi, đầy sinh động, nhìn như hoa thật. Tôi cứ lơ đãng nhìn hai đóa hồng, trong lòng thầm ca ngợi người họa sĩ thì y lại hỏi:

– Trước đây, anh có biết tí gì về nghề mộc không?

Câu hỏi giống hệt anh chàng Phan Thanh Vân, tôi vội trả lời:

– Thưa, tôi không biết!

– Anh có nghề gì?

Tôi vừa lắc đầu, vừa nói “không”. Y hơi cau mày, hỏi tiếp?

– Vậy trước đây ở miền Nam, anh làm nghề gì?

Tôi định nói, tôi biết làm nghề thợ vàng, nhưng tôi trả lời:

– Trong Nam, tôi chỉ đi học!

Mặt y có vẻ hơi dịu lại. Chiếc môi xam xám của y hơi rung rung. Nhìn tôi có vẻ nhẹ nhàng, tay y gập tập sổ lại, nói với một giọng mà tôi cảm thấy chân thành:

– Hiện nay ban giám thị chiếu cố cho anh hưởng 15 kg chất bột một tháng. Anh phải ra sức tích cực cải tạo lao động, nghiêm chỉnh chấp hành mọi điều khoản nội quy trại đã đề ra; ra sức phấn đấu trong lao động và học tập tiến bộ. Bây giờ anh xuống gặp anh Lân, toán trưởng đưa anh về tổ anh Quý.

Qua dáng dấp, cách nói, cách nhìn của y, tôi cứ cảm thấy y tương đối có tấm lòng thẳng thắn, bộc trực của người miền Nam. Cho nên tôi cũng nhìn lại y bằng ánh mắt dìu dịu tình người trước khi chào y và đi xuống lán.

Vừa xuống đến lán, anh Lân từ một cầu bào phía đầu lán đã đi lại phía tôi. Sau khi tôi nói với anh là cán bộ phân công tôi về tổ anh Quý, nhưng anh tỏ vẻ như đã biết rồi. Anh vẫy tay tôi đi theo vào một căn nhà xép làm nối liền với lán về phía sau. Đi qua một cái giậu gỗ thấp, vừa bước lên mấy bực thềm tôi đã thấy anh Lê Sơn, người đã cho tôi suất sắn sáng hôm nay; chiếc đĩa nhôm của anh tôi vẫn còn giữ. Anh đang cúi khòm người xuống nền đất viết, kẻ một khẩu hiệu lên một miếng bìa mầu trắng vừa to, vừa dài. Đây đó những hộp sơn, những bút vẽ để bừa bãi. Chung quanh vách, trên bàn còn treo nhiều băng khẩu hiệu vẫn còn tươi mầu mực, chắc là đang để cho khô.

Lán phụ này tuy có hai gian, nhưng chỉ thấy có hai người làm việc. Anh Lân vào gặp một anh phía trong cũng đang lúi húi quét sơn, hay dầu bóng vào một cái đầu giường còn mới nốt bào. Thấy Lân đến, anh đó đã đứng lên, tôi hơi ngạc nhiên vì anh chỉ có một tay. Anh Lân chỉ tay về phía tôi, quay nói với anh đó vẻ đầy thân tình:

– Bình nó về tổ Quý đấy nhé!

Từ nãy tới giờ, tôi đang băn khoăn; sao tự nhiên hôm nay Lân đối với tôi có vẻ vồn vã, thân tình hơn thì Lân đã hạ thấp giọng làm tôi đã hơi hiểu:

– Như vậy là Bình cũng ở trong Nam ra à?

Nghe thấy thế, Lê Sơn và Quý đều liếc nhìn lại phía tôi, Lân vẫn vừa cười, vừa nói tiếp:

– Thấy cậu ăn mặc chỉnh tề, tưởng cậu là cán bộ hay sinh viên du học bị bắt chứ, ai ngờ!

Trong khi nói thế, mắt anh ta vẫn cứ nhìn trân trân vào chỗ hàm dưới thiếu mấy cái răng cửa của tôi. Lê Sơn, từ lúc tôi vào vẫn cặm cụi tô vẽ, bây giờ đứng hẳn lên niềm nở, vẫn giọng Nghệ An nặng chình chịch:

– Hay quá, đang bù đầu, vào đây làm với anh em mình cho vui.

Khi Lân đã quay ra, trở xuống lán mộc thì anh Quý nhìn tôi nói nhỏ nhẻ, tuy cũng giọng miền Trung:

– Bình được vào tổ này là hay đấy! Đây là tổ vernie chỉ có tôi và Lê Sơn. Khi nào công việc nhiều thì mới gọi thêm người phụ, bình thường chỉ có hai người, nên văn nghệ lắm; không rắc rối, sinh hoạt như những tổ khác.

Nhìn thoáng qua công việc làm, tuy không phải năng khiếu của tôi, nhưng tôi cũng cảm thấy thích thú hơn là đi học mộc. Hơn nữa, thấy hai người tính tình cởi mở, gần gũi đã làm giảm hẳn nỗi nặng nề, lắng lo trong lòng tôi lúc mới bước chân vào khu thủ công này; cho nên tôi cũng tỏ sự chân thành:

– Những việc này tôi chưa hề biết làm, mong các anh chỉ dẫn dần dần cho.

Lê Sơn chỉ bức khẩu hiệu đang kẻ dở dưới sàn hỏi tôi:

– Những chữ này chắc anh kẻ, viết thừa sức?

Tôi đang nhìn chăm chú một cành hồng tươi roi rói, còn thắm au lên mầu mực mới. Những chiếc lá uốn éo, mềm mại tự nhiên, những cánh hoa lả lướt lung linh làm tôi cảm thấy như có làn hương ngan ngát, thoang thoảng của một cành hồng nở rộ đón Xuân sớm. Cho nên khi nghe câu anh hỏi, tôi chỉ lắc đầu và hỏi lại anh một cách trầm trồ:

– Thế hai đóa hồng trên buồng ông cán bộ cũng do anh vẽ đó ư?

Anh cười hềnh hệch, đôi mắt lươn của anh càng nhắm tít lại. Luồn trong giọng trả lời của anh có nét tự kiêu:

– Ông ta muốn thì tôi phải chiều. Tôi chỉ phóng tay mươi phút, thế mà cũng được hai điếu Điện Biên đấy!

Chắc để hưởng ứng cái tài của Lê Sơn, anh Quý cũng tiến lại vừa cười, vừa nói:

– Lê Sơn có tài hai tay vẽ như một. Hầu hết những ngày lễ, Tết của trại cũng như của ban giám thị, bao nhiêu khẩu hiệu cũng đều do Lê Sơn vẽ cả. Thậm chí, những trang trí phòng ốc để đón các phái đoàn quan khách cũng đều phải gọi đến Lê Sơn. Ngay ở ngoài trại chính, khi có việc cũng cử cán bộ vào gọi Lê Sơn.

Tôi nhìn Lê Sơn bằng đôi mắt ngưỡng mộ, sốt sắng hỏi anh:

– Ngoài những cánh hồng tươi thắm, nổi bật như thật là biệt tài của anh; anh có vẻ được những loại hoa khác hoặc như chim, bướm v.v…?

Anh gật gật đầu, mắt anh càng như nhắm lại, sôi nổi trả lời tôi:

– Tôi không phải là họa sĩ, nhưng nhiều thứ tôi làm được.

Nói rồi, anh liếc nhìn về Quý, lúc này đã lại cặm cụi vào chiếc đầu giường cách xa 4 – 5 mét; anh quay lại hạ thấp giọng chỉ đủ mình tôi nghe:

– Ở trong này, chúng nó bóc lột mình đến xương tủy, tội gì mà đưa máu cho chúng nó hút!

Tôi ngẩn người ra nhìn, nghe anh ta nói. Tôi chưa hiểu gì về anh và anh cũng chưa hiểu gì về tôi; thế mà anh phát biểu một câu động trời như vậy, tôi chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Nhưng xem ý anh ta cũng chẳng quan tâm, để ý xem thái độ của tôi khi nghe anh nói thế, ra sao. Tôi ngồi sát lại bên anh, chỉ băng khẩu hiệu anh đang kẻ, nói nhẹ nhàng:

– Tôi không có khả năng kẻ chữ như anh, nhưng để tô những nét anh kẻ rồi thì tôi làm được.

Mỉm cười, tôi nói tiếp như đùa:

– Tôi không có khả năng sáng tạo, nhưng lại có khả năng mô phỏng. Nghĩa là anh cứ chỉ dẫn, tôi sẽ làm được theo ý anh.

Nói rồi, tôi lựa một cái bút vẽ, cũng gò người cặm cụi tô những chữ anh đã kẻ. Như vậy cũng có thể thay được cái thời gian mà anh phải tô, để bắt đầu kẻ khẩu hiệu khác. Vừa làm vừa chuyện trò, chỉ có hai người nên cũng thoải mái. Hơn nữa, công việc này cũng ít nhiều là nghệ thuật nên không bị thúc ép mấy. Chính những lúc chuyện trò, trao đổi này, sơ lược tôi được biết về anh:

Anh là thiếu úy, làm quân báo hơn một năm, rồi về làm cận vệ cho ông Hồ Tùng Mậu. Anh đã theo ông Mậu đi khắp nơi trong những nẻo núi rừng Việt Bắc trong cuộc chiến tranh trường kỳ chống Pháp. Thậm chí anh đã lặn lội 2 – 3 lần theo ông Mậu sang Trung Quốc. Nhưng sau, phần vì cá tính của anh trực, thẳng thắn xen lẫn ý ngông cuồng. Phần khác, anh đã lập được nhiều công trạng với khả năng của anh, nhưng anh đã không được đền đáp xứng đáng. Trong khi nhiều kẻ không có tài, chỉ biết cách luồn cúi, nịnh bợ thì lại nhẩy lên vùn vụt trên đường hoạn lộ. Chính vì anh mang sẵn trong lòng sự bất mãn để cuối cùng anh bị bắt vào tù với cái tội “phát ngôn bừa bãi” và “chểnh mảng nhiệm vụ được giao”. Bắt anh là lệnh tập trung 3 năm. Nhưng hiện nay anh đã sang lệnh thứ 4, nghĩa là đã 11 năm rồi.

Mải mê làm việc, và cũng mải mê trao đổi nghe chuyện của anh thì một hồi kẻng, dòn vang lên từ phía cổng trại làm tôi ngơ ngác nhìn Lê Sơn. Anh đã từ trong góc nhà, chỗ gần chiếc bàn có chồng bìa để kẻ khẩu hiệu đi ra, miệng rối rít giục:

– Bình xếp gọn sơ các thứ lại cho gọn ghẽ còn ra tập họp điểm số, 11 giờ rồi!

Tôi liếc nhìn ra lán mộc. Cả một bản đại hòa tấu các loại âm thanh hỗn độn lúc này đã ngưng bặt. Mọi người đang lục đục xếp gọn dụng cụ. Khi chúng tôi xuống đến lán mộc thì toán 2 và 3 đã xếp hàng đầy ở sân rồi. Anh Lân đang điểm người toán 2, quay lại nhìn chúng tôi đang chạy ra. Chắc rằng anh đã thấy đủ số, nên tiến đến chỗ 2 tên bộ đội vũ trang đang đeo súng đứng gần đấy. Anh Lân lại phải đứng nghiêm chân, thẳng người báo cáo con số.

Toán nào về đến cổng trại đều phải đứng lại. Trước khi toán vào trại, tên trật tự Phạm Huy Tân và tên Cẩn trực trại đến đầu toán. Lần lượt từng anh một, giơ hai tay thẳng lên đầu. Tên Tân dùng hai tay vuốt hai bên nách; vuốt lưng, bụng, hai chân từ háng trở xuống trước sự chứng kiến của tên trực trại Cẩn. Những ngày sau tôi đã hiểu rõ: nội quy cấm đưa vào trại mọi loại kim khí, mọi thức ăn (rau, sắn, gạo v.v…) củi, đóm, trà. Nếu trật tự khám thấy ở trong người anh nào thì anh đó phải đứng ra một bên phía trong cổng trại, chờ cán bộ sẽ xử lý kỷ luật. Nhẹ nhất là mấy chiếc đóm nứa để hút thuốc lào. Hoặc một mẩu sắn con, hay nắm rau dại luộc. Anh đó cũng bị đứng giam trơ trơ ra ở cổng trại. Ráng chịu rét về mùa Đông; nắng cháy về mùa Hè hàng nửa giờ, có khi hàng giờ. Trong khi cơm nước không có ai đi lấy cho, tới khi được tha thì cơm đã nguội. Phải ăn hộc tốc, vội vàng để còn kịp giờ lại phải đi lao động. Thôi thì phải chịu nhiều thứ khó khăn sau đó. Chưa nói đến tối hay cuối tuần còn bị tổ, toán nạo cho mềm người.

Tên trật tự Tân, phần vì phải tích cực làm tròn hết mình nhiệm vụ được giao. Càng tìm khám ra được các thứ vi phạm nội quy thì càng có thể, được lòng tin của giám thị và cán bộ. Phần khác, nếu trật tự thông cảm hay tốt với người quen chẳng hạn. Thí dụ: sờ bụng anh đó thấy gói trà, lờ đi để anh đó mang được trà vào trại. Buổi tối hay Chủ Nhật, họ sẽ lén lút, vụng trộm đun nấu trà để uống (nội quy cấm tuyệt đối không được đun nấu trong trại, trừ nhà bếp). Uống trà, nấu thì phải có khói nên những tên joóc (antene) sẽ báo cáo, hoặc chính cán bộ rình bắt được. Lúc đó, khuyết điểm của tên trật tự sẽ lòi ra. Bởi vậy, để không phải lo hậu họa, tên Tân chẳng để qua cho một ai. Khi đến lượt tôi phải giơ tay lên cho tên Tân vuốt người. Một nỗi sượng sùng, nhục nhã cứ rỉ ngấm dần vào để lòng se sắt ngậm ngùi cho một kiếp tù.

Sau khi tên Tân khám xét xong, bấy giờ tên Cẩn mới lùi về phía cổng trại thì anh Lân tiến lên đứng nghiêm trước mặt y rồi hô ta, dõng dạc:

– Toán 2 xuất trại 49. Nhập trại 49, đủ. Xin cán bộ cho nhập trại.

Chương 11 – 20

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Đặng Chí Bình. Bookmark the permalink.

1 Response to THÉP ĐEN III: 1-10 (Đặng Chí Bình)

  1. mr sam says:

    Thep den qua la 1 tap truyen hay toi rat thich

    Like

Comments are closed.