THÉP ĐEN III: 11-20 (Đặng Chí Bình)

Chương 17

Phỉnh Phờ, Dụ Dỗ

Đã từ mấy ngày nay, tôi vẫn nhớ một cậu có nét mặt trẻ măng, vẫn nhìn tôi bắng ánh mắt tràn đầy thiện cảm. Chính một lần cậu ta đã nhắc nhở tôi phải coi chừng Toàn. Qua Châu, tôi đã biết cậu ta cũng ở trong Nam và cùng ở trong toán biệt kích của Shè Khửu Sáng. Hiện nay, cậu ta ở toán 3 (xẻ), nằm trong góc, sàn trên phía trước. Tôi cũng hơi ngập ngừng khi định trèo lên thăm hỏi, chuyện trò với cậu ta. Chỉ vì, ngay ở toán mộc, còn nhiều người; họ hoặc tôi chưa dám tiếp xúc với nhau, huống chi cậu ta lại ở toán 3.

Nhưng từ bản tính thích tìm hiểu những điều mới lạ, lại cùng một buồng thăm hỏi thì có sao đâu. Nghĩ thế, tôi đã trèo lên sàn chỗ cậu ta. Thấy tôi nhô đầu lên, cậu ta vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên, lại vừa mừng, vồn vã ân cần tiếp chuyện tôi.

Khi biết tên cậu là Hùng, Hoàng Mạnh Hùng, tôi chợt liên tưởng tới anh Hoàng Hùng, tiểu đoàn phó “một chiến sĩ của Điện Biên” năm xưa, đã dẫn đại đội của mình, cắm lá cờ đầu tiên lên nóc hầm của tướng De Castrie. Tôi đã nằm với anh ở buồng số 2, xà lim II của khách sạn Hilton Hà Nội. Một thoáng chạnh lòng, ngậm ngùi nghĩ đến anh. Chẳng biết anh còn sống hay đã chết, trong cái đêm oan nghiệt của đời anh?

Tôi còn đang ngỡ ngàng khi biết Hoàng Mạnh Hùng là người Thổ, dân tộc thiểu số, mới có 23 tuổi đời mà đã bị bắt 3 năm rồi, thì đã thấy Shè Khửu Sáng từ sàn dưới trèo lên. Sau khi ngồi yên chỗ, Sáng nói như thì thầm:

– Khi biết anh cũng ở trong Nam ra, chúng em đã nhiều lần muốn đến thăm anh mà chưa dám.

Tôi cứ nhìn con mắt của cậu Sáng. Con mắt trái hoằm sâu vào, một dòng nước nhờn trắng đục như rỉ, đang sùi ra một cục. Mặt cậu thật hiền hòa, toát ra một nét chất phác của tuổi đời 26. Rồi tôi lại nhìn Hùng, nước da trắng trẻo, mặt như còn hơi sữa. Lòng tôi dâng lên niềm dạt dào mến thương các cậu. Một sự gần gũi ân tình anh em, chiến hữu cùng trong một cảnh ngộ đã sưởi ấm hồn nhau.

Do buổi tối này, anh em bên nhau thì thầm, nhỏ to trò chuyện, tôi đã biết sơ lược về toán của các cậu như sau:

Toán gồm tất cả 7 người. Vào lúc 2 giờ, một đêm cuối tháng 4/1965, toán đã nhẩy xuống một vùng rừng già thuộc tỉnh Cao Bằng. Toán trưởng là Nông Quốc Hải, 26 tuổi (1965) người dân tộc Thổ. Toán có nhiệm vụ lúc đầu là bắt mối, liên lạc với địa phương, gây một cơ sở đầu cầu cho những toán kế tiếp. Sau đó, thâu tập một số tin tức tình báo thuộc địa bàn hoạt động. Nhưng khi toán nhẩy xuống điểm đã được quy định, chỉ 2 giờ sau đã bị bao vây. Trong lúc đêm tối, hỗn loạn chiến đấu, người chết, người bị thuơng tán loạn chẳng ai biết rõ về ai. Cho tới khi bị bắt về trại giam thì chỉ có 5 người. Trong số đó có Nông Quốc Hải, toán trưởng bị đạn xuyên qua đùi, nhưng không gẫy xương. Shè Khửu Sáng bị một viên đạn lồi hẳn con ngươi ra ngoài. Còn 2 người nữa, không biết rõ là mất tích hay bị chết, cho đến nay (1968) chưa hề nghe tin tức gì về họ cả.

Năm người bị bắt, sau hơn một năm bị hành hạ khai thác ở Cao Bằng, cũng chẳng được đưa ra tòa xử mà bị nhận lệnh tập trung cải tạo, rồi chuyển về trại E này. Hiện nay cả 5 người đều ở buồng II. Hai người ở toán xẻ gỗ (toán 3) là Nông Quốc Hải, toán trưởng, 29 tuổi (1968); Hoàng Mạnh Hùng.

Ba người ở toán 2 (mộc) là: Shè Khửu Sáng – 26 tuổi, người Nhắng. Nguyễn Văn Châu – 25 tuổi, người Kinh; La Văn Thịnh – 23 tuổi, người Thổ.

Tất cả 7 cậu đều ở Tùng Nghĩa, Lâm Đồng. Khi các cậu được tuyển mộ vào ngành biệt kích, tuổi đời đều trên dưới 20. Trước đây, đôi lúc tôi cũng băn khoăn, nhớ khi bị bắt tuổi đời tôi mới 24, nhưng bây giờ nhìn về toán biệt kích này, tôi càng không khỏi bùi ngùi, khi vào tù các cậu chỉ mới ở tuổi đôi mươi. Câu chuyện của các cậu, dù tôi chưa biết được tỉ mỉ, chi tiết, nhưng cứ chập chờn len lỏi vào hồn tôi lúc rõ, lúc mờ trong giấc ngủ muộn.

Sáng hôm sau, thứ Hai. Điểm xong, khi ra khỏi cửa buồng, tôi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, khi nhìn thấy sương mù. Chưa bao giờ tôi thấy nhiều sương mù như vậy. Cả một bầu trời trắng đục, ngay cái hội trường chỉ cách gần 2 chục mét trước mặt mà cũng mờ mờ trong sương. Nhìn xuống phía dưới sân trại, những bóng người nhấp nhô, ngược xuôi thấp thoáng, di chuyển như trong một đám khói dầy. Tôi vừa chạy trong sương xuống phía giếng nước, vừa ngẫm nghĩ: chẳng biết ở những miền rừng núi thường có sương mù như thế, hay chỉ trong khu vực Hoàng Liên Sơn này?

Lúc tôi chạy trở về gần ngang buồng, cứ nhìn những bóng người thấp thoáng trong sương mờ, hồn tôi lại lắc lư, bồng bềnh liên tưởng về một ngày xưa xa lắm. Khi ấy, tôi còn rất bé, nhìn một bức tranh địa ngục với những bóng ma, quỷ tội đồ, xiềng xích. Họ làm việc khổ hình cũng trong khói sương thuộc quyền của Diêm Vương. Mập mờ, thoáng thấy bóng anh Lân và Lý A Chén cùng một số người đang ồn ào bàn tán. Thì ra hôm nay, toán trang trọng cử tự giác Chén ra đồng, sang toán 5 lĩnh lá cải bắp già về bồi dưỡng cho toán.

Ngay từ hôm thứ Bẩy, anh Lân đã vận động với ông cán bộ toán, liên hệ với cán bộ toán 5; sau khi anh Lân đã đến riêng với anh Xuân Tảo, toán trưởng toán 5. Theo anh Lân, anh đã phải vận dụng hết khả năng ngoại giao, mở cả một chiến dịch chạy chọt hai, ba nơi. Phải nêu những thành tích sản xuất vượt bực của toán 2, nói sùi cả bọt mép v.v… Bởi vì, theo kế hoạch phân phối đã từ lâu của trại thì những lá già của các loại rau xanh, chỉ dành riêng cho bên khu chăn nuôi của cơ quan và trại giam mà thôi. Nếu toán 3 xin riêng được, thì toán khác cũng xin được. Như vậy, còn gì cho trại và cho chăn nuôi? Chưa hết, anh Lân lại còn phải lấy giấy giới thiệu của ông Kích, cán bộ toán để đến ông cán bộ nhà bếp xin 3 lạng muối nữa!

Một nguồn tin còn quan trọng gấp nhiều lần hơn tin bác Hồ trở lại thăm hang Pắc Pó. Nó làm cho khí thế lao động của toán 2 hôm nay, được nâng cao rõ rệt. Mặt anh nào cũng tươi rói, chào hỏi nhau, vồn vã khác thường.

Khi trò chuyện trong lúc kẻ khẩu hiệu với Lê Sơn sáng nay, tôi đã lựa lời hỏi về anh Khải bị đi kỷ luật tuần trước. Không ngờ, anh Khải còn một người bố nữa là Nguyễn Từ Hải, cũng đang ở toán 3 xẻ. Hai bố con cùng một tội phản tuyên truyền trong phong trào “trăm hoa đua nở” và “nhân dân giai phẩm”. Hai bố con cùng ở Hà Nội, anh Khải là con trai cả, 28 tuổi, chưa lập gia đình. Cả hai bố con đã từ gần 10 năm rồi với cái lệnh tập trung cải tạo 3 năm.

Nghe Lê Sơn nói như vậy, tự nhiên tôi muốn biết cái cảnh cùm kỷ luật ở trại ra sao nên hỏi anh. Lê Sơn đang cắm cúi, nắn nót kẻ một đường kỷ hà trên tấm khẩu hiệu:

Chiến dịch Đông Xuân: Bộ đội đổ máu nơi chiến trường. Nông dân đổ mồ hôi trên đồng ruộng.

Nghe thấy tôi hỏi. Anh đứng giật dậy, quay hẳn lại phía tôi sôi nổi:

– Bình chưa biết cái cùm ở đây đâu. Một tác phẩm vĩ đại của Hoàng Thanh.

Trong khi tôi mở to mắt, đăm đăm nhìn. Tay Lê Sơn đang cầm chiếc bút vẽ cứ hất vung ra, mỗi khi anh giằn giọng. Mặt anh còn toát ra sự uất hận nén đầy; làm cho Quý Cụt từ mãi trong góc nhà cũng quay ra nghe chuyện:

– Nó bằng 2 súc gỗ lim to tướng, đóng thành một cái hộp, mà mọi người gọi là “cái cùm hộp”. Đã bị cùm thì chân không còn nhúc nhích. Ai mà bị cùm chỉ một tuần hay nửa tháng, lúc được thả ra đều phải bò về buồng. Nhiều người đã bị thối chân ra vì cái loại cùm này rồi.

Thấy tôi cau mày, hơi vẻ bàng hoàng. Quý Cụt hất hàm về phía Lê Sơn, rồi cũng lên tiếng như thể thừa nhận:

– Lần trước, cách đây mấy tháng. Lê Sơn khỏe như thế, chỉ bị cùm gần một tháng, khi ra phải hai người giúp, khênh về buồng, người chỉ còn xương với da. Sơn, nó cũng mới lại người đấy!

Đến đây, mắt Quý sáng lên, môi dưới hơi dề xuống ngọ nguậy nói tiếp:

– Lê Sơn mới xoay được tiền để mua chuột bồi dưỡng, nếu người khác thì đừng hòng!

Tôi chặc lưỡi, càng tỏ vẻ trầm trồ. Lê Sơn lại gằn giọng phẫn uất:

– Thằng Hitler bây giờ có sống lại, cũng phải quỳ xuống vái tụi này là tổ sư!

Thấy Lê Sơn phát biểu mạnh quá, làm tôi cũng hơi khớp. Khớp về sự kiện Sơn đưa ra thì ít, mà vì ngỡ ngàng thấy không khí riêng tư của buồng vernie này khác hẳn với bên ngoài trại. Tôi liếc mãi nhìn khoảng cách dưới lán mộc với nhà vernie, rồi chuyển hướng câu chuyện:

– Thế Hoàng Thanh là ai?

– Rồi Bình sẽ gặp, ông ta là trung úy giám thị phân trại E này.

Quý vừa nói xong, thoáng thấy bóng Nguyễn Huy Lân từ dưới lán mộc đi lên, cả 3 người lại cúi xuống làm việc. Lên đến hè, nhìn tôi, Lân nghiêm nghị:

– Bình lên gặp ban giám thị!

Quý Cụt và Lê Sơn đều quay lại nhìn tôi đầy nét dò hỏi. Phần tôi, cũng bắt đầu lo lắng. Tôi chậm chạp đi theo anh Lân. Thấy Lân dẫn sang phía toán 3, đi sát lại, tôi hỏi khẽ:

– Ông Hoàng Thanh à?

Anh Lân chỉ lắc đầu, tôi chẳng hiểu là anh không biết, hay không muốn nói? Thái độ của anh Lân lạnh lùng, khác hẳn với sự cười cợt thân mật mọi khi. Anh dẫn tôi đến trước căn nhà con của cán bộ toán 3. Chỉ vào cánh cửa gỗ đang khép hờ, anh nói nhẹ:

– Bình vào trong ấy!

Nói rồi, anh trở về lán mộc ngay. Hơi đắn đo, rồi tôi bước lên những bậc đất, đến trước cánh cửa khép. Một giọng Bắc, ngai ngái miền Bắc Ninh rất nhẹ phía trong:

– Anh cứ đẩy cửa vào đi!

Một người chừng 50 tuổi, hơi nhỏ con, tóc đã muối tiêu, đặc biệt có cặp lông mày thật rậm; đã ngồi sẵn phía sau chiếc bàn con để mộc. Hai bên ve áo, có hai chiếc lon hình chữ nhật lệch đỏ chóe. Trên mỗi chiếc lon có 4 ngôi sao và một chiếc vạch mầu vàng ươm, phía dưới. Tôi bước vào, hơi nghiêng người tỏ vẻ chào ông ta. Hơi hất hàm ra phía cửa, rồi ông ta nhìn xuống chiếc ghế đẩu, đang để chơ vơ phía trước bàn:

– Đóng cửa lại, rồi ngồi đây!

Một giây im lặng, ông ta cất tiếng nhè nhẹ như chuyện trò thăm hỏi:

– Hơn một tuần nay, lên đây rồi, anh thấy khung cảnh trại thế nào? Anh phát biểu tôi nghe!

Qua giọng nói nhỏ nhẹ, nhất là đôi mắt của ông ta dìu dịu như le lói, chút ít tình người. Tuy vậy tôi vẫn dè dặt:

– Dạ, thưa ông, tôi thấy tinh thần lao động của mọi người rất hăng say, tích cực.

Ông ta gật gật đầu nhưng miệng lại hỏi:

– Ngoài vấn đề lao động ra, tôi muốn anh phát biểu về những lảnh vực khác.

– Thưa ông, tôi mới nhập trại nên chưa biết gì.

Tôi đã hơi hiểu ý ông ta muốn những cái gì rồi, nhưng tôi vẫn trả lời như trên. Có lẽ thấy tôi ngập ngừng dè dặt, ông ta bắt đầu, hơi gằn giọng:

– Tôi biết tư tưởng anh chưa ổn định. Anh cón nhiều hoang mang, giao động khi phải chuyển đến một nơi chưa biết.

Ngưng lại một lúc, thấy tôi vẫn cúi đầu ngồi yên, ông ta lại tiếp:

– Chính vì thế, lẽ ra tôi chưa muốn gặp anh. Nhưng một cái cây, mới đem trồng vào đất khác; nếu nó nghiêng, có khi rồi nó sẽ đổ gục; hoặc nó sẽ cứ nghiêng mãi. Tôi muốn cái cây ấy mọc thẳng đứng ngay từ đầu.

Ngồi nghe ông ta nói, tuy chưa biết rõ ý đồ, mục đích của ông ta gặp tôi để làm gì, trong lòng tôi cũng nhiều lần tự hỏi, tên này tuy là đại úy nhưng chưa biết y ở cương vị nào. Xem vẻ y rất mềm mỏng, muốn đi sâu vào tâm hồn của đối tượng. Lạt mềm thì buộc chặt, loại này càng phải cảnh giác, thận trọng khi tiếp xúc, quan hệ. Thực ra trong lòng tôi, vẫn luôn luôn mang sẵn một quả bom nổ chậm. Chưa thể nói là đã lấy được hết ngòi nổ ra. Tuy rằng sau gần 6 năm khai thác, cuối cùng chúng đã đưa tôi ra tòa xử án, Nhưng dưới chế độ Cộng Sản, thực tế đã cho mọi người đều hiểu: xử án xong không có nghĩa là vụ án đã kết thúc. Bởi vậy, từ chuyện Z5 Hoàng Đình Thọ, đến tài liệu “M” v.v…luôn luôn làm tôi phải ngấp nghé, phập phòng mỗi khi phải gặp một tên cán bộ lạ.

Tôi vẫn cúi đầu nhìn xuống mép bàn, để lòng chảy về những năm tháng cũ ở Hỏa Lò thì ông ta đằng hắng:

– Anh Bình, anh phát biểu ý kiến của anh đi! Anh hoang mang à?

Thấy ông ta nói vậy, để cho xuôi và hợp lý, tôi phát biểu:

– Thưa ông, tôi xin nói thành thật là trước khi đến trại này tôi có hoang mang, vì tôi chưa từng ở một trại giam xa xôi thế này. Nhưng sau năm, sáu ngày ở đây, qua những sinh hoạt ăn ngủ, lao động, tôi đã tin tưởng vào đường lối chính sách cải tạo, giáo dục của đảng và nhà nước. Tôi không còn hoang mang nữa.

Ông ta gật đầu rồi nói đều đều như nhắn nhủ, như nhắc nhở:

– Tôi tin vào cái nhìn sâu, sát của anh. Vì vậy anh phải thực hiện thật tốt 4 tiêu chuẩn cải tạo mà nhà nước đã đề ra. Trong đó không những anh phải phấn đấu lao động, cải tạo tư tưởng cho bản thân mà còn có trách nhiệm phải giúp đỡ mọi người khác cùng tiến bộ. Đó cũng là cách tích cực nhất, anh đã tự mở con đường cải tạo thênh thang cho chính anh. Ngoài ra, tổng quan tình hình của trại, thấy những vấn đề gì làm trở ngại cho bước đi lên, anh cứ mạnh bạo đề xuất sáng kiến. Tôi sẽ gặp anh sau! Ông ta vừa nói, vừa đứng dậy.

Sau khi chào ông ta, tôi đã quay đi ra đến cửa, thì ông ta đến bên, nói như thân tình:

– Bất cứ khi nào anh cần gặp tôi, hãy đề bạt với ông cán bộ toán.

Tôi phải chào y lần nữa và bước ra khỏi cửa. Trên đường về lán mộc, lòng tôi thấy nhè nhẹ vơi hẳn cái lắng lo khi sớm. Nhưng tôi cũng mờ mờ cảm thấy, ông ta muốn tôi làm một con chó săn cho ông ta. Cá to thì phải câu cần to; cá nhỏ thì câu cần nhỏ. Cá nào cũng câu, chỉ còn tùy thuộc vào từng con cá, có cắn câu hay không. Đó là chủ trương của những người Cộng Sản giam giữ tù.

Đành rằng, ngay trong 4 tiêu chuẩn cải tạo đã có câu: “phát hiện và tố giác mọi phần tử xấu chung quanh, từ lời nói cũng như hành động”. Nhưng tới đây, tôi cũng mới chỉ mơ hồ nhận thấy những phương pháp: ngăn cách, ly gián, hư thực, thực hư…; lấy cái đói khổ (cái dạ dầy) sự khích lệ, tâng bốc, phỉnh phờ, kết hợp với áp lực của vũ khí. Nhào lộn nhuần nhuyễn để tùy theo áp dụng với từng người, sao cho đạt mục đích tối hậu là mọi phạm nhân trong trại, sẽ yên định như những chiếc nêm cối xay lúa. Nghĩa là, không thể nhúc nhích, yên lành sống, ngoan ngoãn trong cảnh tù đày; như không có chuyện gì xảy ra cả. Còn nhiều điều, nhiều khâu, tôi chưa nhìn được rõ ràng. Phải đợi những ngày tới, qua những tình huống và sự việc cụ thể, bằng người thực, việc thực mới giúp tôi nhìn sáng tỏ vấn đề này hơn.

Khi về qua chỗ cầu bào của Lân, anh gật đầu gọi tôi lại. Anh nhìn tôi chằm chặp rồi ngập ngừng:

– Có chuyện gì thế?

Để khỏi phải dài dòng, tôi thủng thẳng:

– Ông ta hỏi cảm tưởng mấy ngày ở trại và một vài sự việc trong vụ án của tôi.

Tôi hỏi lại anh Lân, ông ta tên gì và làm việc ở đâu, thì được biết ông ta tên Chuân, Nguyễn Chuân, giám thị ở trại chính. Tôi sắp từ giã, thì anh Lân ghé gần tai nói nhỏ:

– Hãy cẩn thận thằng Quý Cụt. Trước đây nó tiến bộ lắm, tố cáo lung tung mọi người, nhưng kỳ này bớt rồi. Tuy vậy “cẩn tắc, vô ưu”.

Rời chỗ Lân để trở lên nhà vernie, tôi vừa đi vừa suy nghĩ: mấy người, trong năm ngày nay tôi hay chuyện trò, anh này bảo cảnh giác anh kia, như vậy người ta có thể nghi ngờ hết cả mọi người, kể cả tôi. Như thế là đúng như dụng ý của kẻ coi tù rồi! Tuy thế, chỉ có Lê Sơn thì chưa có một ai bảo tôi phải cảnh giác cả.

Lúc về đến nhà vernie, tôi cũng hỏi Lê Sơn và Quý Cụt như đã nói với anh Lân về chuyện gặp ông Chuân. Qua Lê Sơn, tôi còn được biết rõ hơn về Nguyễn Chuân. Giám thị của toàn trại Trung Ương số 1, gồm 5 phân trại là ông Toán, thiếu tá. Nhưng bí thư Đảng ủy lại là ông Chuân. Tuy chỉ là đại úy, nhưng quyết định mọi việc lớn của trại, đều do ông Chuân, đại diện của Đảng. Tôi cũng được biết là ông Chuân ít khi vào trại này và cũng năm thì, mười họa mới gặp phạm nhân mà thôi. Hơn một năm trước, có một lần ông ta vào gặp Vân và một lần gặp ông Hinh Mù, người mà đã một lần tôi trông thấy đang lần bước trên hè nhà số 1. Ông có thân hình to, cao như Lê Văn Kinh, ông chừng 55 tới 60 tuổi rồi.

Buổi trưa ở trong trại, sau bữa cơm ngô vội vàng, tôi đang nằm liu riu, mơ màng bên cạnh Vân để chờ giờ đi lao động buổi chiều, thì thoáng nghe tiếng rủng rẻng của chùm chìa khóa ở phía cửa, làm tôi mở choàng mắt ra. Tên Cẩn, trực trại và tên Phạm Huy Tân, trật tự đang đứng ở giữa nhà. Tên Cẩn đang chỉ chỏ lên sàn trên, phía trước của toán 3. Một bác chừng 50 tuổi ngoài, dáng hom hem, mảnh khảnh đang lúng túng cuộn chăn chiếu, lò rò trèo xuống. Tôi còn đang ngơ ngác, thì Vân cũng đã mở mắt rồi, nói khẽ:

– Ông Chương, Lê Tài Chương đi kỷ luật.

Hơi bàng hoàng, tôi hỏi lại Vân:

– Làm sao mà đi kỷ luật?

Vân vẫn nằm, nói nhỏ:

– Bình chưa hiểu được đâu, những người bị đi kỷ luật, chỉ đôi khi mọi người mới biết lý do. Còn thông thường chỉ có người nào bị đi, thì họ mới được biết mà thôi. Thế mà nhiều khi, ngay bản thân người phải đi kỷ luật, cũng không biết tại sao nữa. Thậm chí, như anh Đồng, hai tháng trước bị đi kỷ luật, cùm một tuần. Cho tới khi được tha, anh ta cũng chưa biết vì sao mà anh ta phải đi kỷ luật.

Nghe Vân nói thế, lòng tôi hoang mang cực độ. Vân nhìn thái độ của tôi một lúc, rồi anh vừa chùm chăn lên mặt, vừa nói:

– Tội tư tưởng, thì ai mà biết được!

Tôi nằm nhắm mắt, mà lòng ngổn ngang xôi động đầy vơi. Nỗi lắng lo về ngày mai, cứ dâng đầy, bủa kín hồn tôi. Óc tôi vất vưởng, chợt nhớ tới ông Chương. Phải rồi, ông Chương, chủ tịch đảng Tân Phong mà có lần Quý Cụt nói đến. Tôi vẫn có ý định đến gặp ông ta, để học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức. Thế mà bề bộn nhiều sự việc lan man, tôi đã quên khuấy không tìm dịp gặp ông ta.

—>Chương 18

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Đặng Chí Bình. Bookmark the permalink.