THÉP ĐEN III: 31-40 (Đặng Chí Bình)

Chương 40

Một Trời Quan Tái Mấy Cho Say ….

Chiều nay, khi toán 2 vừa xuất trại ra tới lán thủ công, tôi đang háo hức, say mê làm những phần việc cuối cùng để hoàn thành chiếc giường đôi đầu tiên do tôi đóng, thì anh Nguyễn Huy Lân toán trưởng, từ trên phòng cán bộ xuống gọi tôi mặc quần áo ra gặp cán bộ. Thoáng nhìn ra thấy tên Cẩn trực trại đang đứng ở gần cổng lán nói chuyện với tên cán bộ vũ trang. Một thoáng băn khoăn thoảng qua trong đầu; cán bộ nào gặp mình đây? Mọi khi, mỗi lần cán bộ giáo dục cần gặp, tôi thường được lệnh ở lại trại ngay lúc xếp hàng đi lao động. Vậy đây là ai? Nghĩ đến đây thì tôi đã ra tới cổng trại. Tên Cẩn cũng như thường lệ, y ra hiệu tay để tôi đi trước, trong khi y quay lại gật gật đầu với tên bộ đội với tên bộ đội như bảo: “Tôi nhận tên phạm này nhé”.

Thoáng nhìn vào căn phòng giáo dục nhỏ, tôi đã thấy dáng của Hoàng Thanh. Đã lâu, hôm nay tôi mới lại gặp y. Thái độ của y có vẻ lạnh lùng, khác hẳn với sự đon đả lần trước.

Sau mấy câu hỏi chung chung về sức khỏe, y vẫn thấy tôi ngồi cúi đầu trên chiếc ghế đẩu phía trước mặt y. Tuy tôi hơi cúi đầu, không nhìn y, nhưng trong trường mắt của tôi, mọi cử chỉ của y đều được ghi nhận. Một tay y để trên bàn cứ cầm cái bút lên rồi lại bỏ xuống mấy lần; tỏ rằng y đang cân nhắc, tính toán một thái độ, một biện pháp trấn áp hay lôi kéo gì đó. Lòng tôi từ ít lâu nay đã có chủ định cho nên vẫn mở cửa ngồi chờ cho y chủ động. Giây phút thinh lặng có lẽ làm cho người y ngứa ngáy, y đứng dậy và gọi hẳn tên tôi:

– Anh Bình!

Tôi ngửng lên, mặt y càng lạnh băng. Tay y chỉ ra phía sau lưng tôi dưới nền đất, miệng y chậm rãi:

– Anh có nhìn thấy cái loại gì kia không?

Tôi quay lại, chỉ có cái nền đất trống trơn. Đây đó mươi nhánh cỏ mọc lên trong những đường nứt nẻ trên nền đất. Bên ngoài, một vài dây thài lài thò vào qua kẽ liếp. Một thoáng ngần ngừ vì tôi chưa nắm được chủ ý của y thì y đã nói tiếp, mang một ẩn ý chính trị:

– Anh có thấy những đám cỏ dại đó không? Chúng nó lợi dụng những chỗ yếu, chỗ nhược; những kẽ hở để tồn tại và phát triển. Nếu ta không nhổ nó đi thì một ngày kia chúng sẽ mọc che kín hết cả cái nền này.

Nói tới đây, y lại ngồi xuống rồi nói như ra lệnh:

– Anh hãy nhổ hết những đám cỏ dại đó đi. Đó là trách nhiệm tôi giao cho anh đấy!

Tôi vừa nhổ cỏ, dòng suy tưởng của tôi vẫn chảy dài trong óc. Phải, đây là những cỏ dại, nhưng nó là thiên nhiên, nó sẽ trường tồn mãi mãi với đất trời. Mảnh đất nào ngừng canh tác, trông nom dọn dẹp thì sẽ bị cỏ cây bao trùm.

Tóm lại, sớm hay muộn, mọi mảnh đất sẽ phải trở về với thiên nhiên. Nếu như tôi chưa có chủ định, thì trong trường hợp này dứt khoát tôi sẽ nói thẳng những ý tưởng đang cuồn cuộn dâng đầy trong đầu tôi, cũng sẽ nằm trong ẩn ý đối lại với y. Nhưng lúc này tôi cứ im lặng nhặt cỏ.

Thấy tôi nhặt hết đám cỏ dại dưới nền, y lại chỉ mấy ngọn thài lài ở trên vách:

– Anh dứt cả mấy cái dây dại đó đi! Ở trong ngóc lên, ở ngoài thò vào!

Để cho chủ trương của tôi có nhiều bức tường che, tôi nói một câu vừa tỏ ra đã hiểu những ẩn ý bóng bẩy của y lại vừa đóng góp thêm vào sự năng nổ, tích cực của mình:

– Thưa ông, với những cỏ dại phía bên ngoài, biện pháp hữu hiệu nhất là ra hẳn ngoài để nhổ tận gốc, chứ không hẳn chỉ ngăn chặn từ phía bên trong.

Mặt y bừng sáng, tươi hẳn ra. Y nghiêng người với cái “phíc” rót một chén nước trà nóng, xì xụp uống. Nét thỏa mãn ánh lên trong đôi mắt y. Sau đó y hỏi tôi về tình hình trong trại, về một số cá nhân ở trong tổ, trong toán. Y cũng đặt vấn đề tại sao tôi thân mật với Nguyễn Văn Gôm và bác Nguyễn Văn Tiến, cũng như tiếp xúc với nhiều người. Tôi mượn ngay cái bọc của y để che cho mình nên trả lời, muốn hiểu ai thì phải tiếp xúc với họ.

Cuối cùng, y đưa cho tôi một tờ giấy trắng, y chỉ một chiếc bàn con ở góc nhà đã có sẵn lọ mực và cái bút. Y bắt tôi ngồi viết những điều tôi vừa trình bầy về tình hình trong trại và một số cá nhân. Qua buổi nói chuyện với y, tôi khẳng định đã có nhiều người báo cáo về tôi. Hầu như mọi sinh hoạt của tôi y đều nắm được.

Những ngày trước, tôi và Gôm đã nhiều lần trao đổi. Chúng tôi đều đã nhận định: Cộng Sản đã khéo léo lợi dụng quy luật đấu tranh để sinh tồn của mọi sinh vật, kể cả thực vật. Chúng áp dụng quy luật ấy với những người tù đói khổ lại càng hữu hiệu hơn nữa. Chúng dùng sự đói khát, cùm kẹp, lao lực, kết hợp với dụ dỗ, phỉnh phờ gây ra ly gián, đói khổ tranh sống. Hình dung như những con cua trong một cái giỏ, suốt ngày đểm giẫy dụa chen chúc con nào cũng tìm cách để trèo lên miệng giỏ. Do sự tranh giành này, phải đạp lên nhau, cấu xé nhau để vượt lên. Bởi vậy, con thì sứt mai, con thì gẫy còng. Nhưng khi leo lên tới miệng giỏ lại vướng cái hom để rồi mỏi mệt lại rơi xuống đáy giỏ. Cuối cùng, con nào cũng chỉ quanh quẩn trong cái giỏ cua mà thôi.

Trong những con cua này, nếu có con nào tỉnh táo hiểu rằng, có nỗ lực, cậy cục, trăn trở lắm thì cũng thế mà thôi. Hãy biết thân phận trèo lên một chỗ nằm đấy cho đỡ mệt. Nhưng nếu nó biết như vậy, thì nó đã không còn là con cua nữa. Bởi vậy có những con trèo lên đến miệng giỏ, đã ngã xuống rồi, thế mà lại vẫn hì hục, cố gắng bò lên nữa. Cho nên, tôi càng cần phải tỉnh táo, cân nhắc, ý thức từng sự việc, sao cho không thiệt hại đến những điều chủ chốt của lý tưởng, đường đi của mình.

Điều này tôi tin rằng tôi sẽ làm được. Với những năm kinh qua đấu tranh với phòng 44 chấp pháp của Hà Nội. Hoàng Thanh tuy là một tên quái, nhưng không thể có nghiệp vụ chuyên môn như phòng 44. Dù như vậy, tôi cũng không lơ là, chủ quan, mất cảnh giác. Tôi vẫn thừa nhận Hoàng Thanh là một tên sắc sảo, tinh quái. Mỗi một lời nói, một việc làm đều có dụng ý. Y là loại người đóng cửa trước, mở cửa sau, gieo mầm bây giờ để gặt hái về sau.

Nhìn lại suốt quá trình từ ngày tôi ra miền Bắc. Tôi đã gặp biết bao nhiêu loại người của đối phương, nhưng y là người thứ hai mà tôi nhờn, tôi phải để tâm nhất. Người thứ nhất là cái lão già chó chết, một buổi chiều Chủ Nhật đã gặp tôi ở Hỏa Lò chỉ có 15 phút ở phòng ban giám thị. Y đã ngoay ngoáy ngón tay chỉ vào mặt tôi.

Tôi tin rằng tên Hoàng Thanh này, tuy hiện nay y chỉ đeo chiếc lon trung úy, làm giám thị cho một phân trại nhỏ bé. Nhưng trong tương lai, chắc chắn y sẽ tiến cao mãi, sẽ vượt qua nhiều những tên hiện nay đang là cấp trên của y để ngoi lên trên con đường hoạn lộ của chủ nghĩa này.

Như trên tôi đã trình bầy, do những tình tiết toàn bộ sự việc của tôi, khi còn ở Hỏa Lò cũng như lên trại trung ương, tôi luôn luôn phải ở tư thế một người cải tạo tiến bộ rồi. Hơn nữa mới đây, chỉ hơn hai tháng trước, trong một buổi ngồi tâm tình, chuyện trò với Nguyễn Văn Gôm, đầu tôi đã chợt lóe lên một ý tưởng mà trước đây chưa bao giờ tôi nghĩ tới.

Công tác của tôi ra Bắc một phần chính là tuyển mộ và huấn luyện. Nghĩa là cấu tạo và hình thành những hạt nhân, những đường dây để hoạt động bí mật trong một mạng lưới riêng rẽ hay từng chuỗi. Tôi đã thất bại, bị bắt vào tù; trong một môi trường cùng khổ đầy xương, đầy máu này nhưng lại cũng rất đặc biệt. Không thiếu gì nhân tài, không thiếu gì hạt nhân, cốt cán, nhan nhản ra chung quanh.

Tôi hiểu rằng trong cuộc đời, bất cứ việc gì cũng đều có hai mặt. Trong sự việc không may, thất bại đi tù của tôi cũng có cái mặt tích cực của nó, chỉ cần ta biết nhuần nhuyễn khéo léo, chuyển hóa, đôi khi nó không còn là sự thất bại, hay không may nữa. Tôi đã có nghiệp vụ, tôi đã có thực tiễn kinh qua. Hãy chọn lựa, ấp ủ hạt giống rồi gieo đi khắp các nẻo đường của đất nước.

Mai đây những hạt giống nào chẳng may rơi vào vùng đất xấu không mọc được thì tôi cũng chả mất gì thêm. Còn những hạt giống may mắn rơi vào vùng đất mầu mỡ, thuận tiện thì sẽ trưởng thành nở hoa, kết trái cung cấp trái ngon, trái ngọt cho cuộc đời, cho lý tưởng.

Dân tộc, người Kinh, kẻ nông thôn, người thành thị, từ núi rừng hẻo lánh cho đến đồng bằng phì nhiêu, tôi cứ làm những cái gì tôi có thể làm được. Thời gian và hoàn cảnh thật là thuận tiện, còn an toàn hơn cả ngoài xã hội nữa. Vì những chủ trương này, tất yếu tôi phải tìm một chỗ đứng tốt. Hiện nay, không có bức tường chắn tốt nào bằng bức tường của Hoàng Thanh cả.

Ngay Hoàng Thanh, trước đây cứ mỗi lần y tiếp xúc với tôi, y luôn luôn phải đắn đo, thủ đoạn như trong tay y thường phải sẵn sàng lăm le một khẩu súng mà đạn đã lên nòng…nhưng rõ ràng càng về sau y đã bỏ khẩu súng xuống bàn hay đã đút vào ngăn kéo rồi. Nghĩa là tôi đã tạo cho y tưởng rằng y đã nắm được tôi. Tôi không còn là đối tượng y cần khoanh vòng nữa. Mà tôi thì cũng cần và chỉ mong như vậy.

Chiều hôm nay, nhìn cụm thuợc dược phía đầu luống gần chái hồi nhà số 2. Mấy đóa nhung vươn dài ngượng ngập mà tôi vẫn gọi là mấy “cô tiểu thư con gái nhà lành” đang lè ra mấy chiếc yếm xanh bọc túm cái duyên nửa chừng như báo cáo cho thế nhân, mùa Đông đã lại về.

Nhanh thật, vừa mới nóng xong đã lạnh rồi!

Đã nghe rét mướt luồn trong gió,

Đã vắng người đi những nẻo đường…

Thấm thoát tôi đã lên trại xấp xỉ một năm rồi. Hồn tôi bập bềnh nổi trôi trong làn mưa bụi cứ dần dà dạt về miền xuôi. Chợt lảng vảng chiếc lưng ong và làn tóc buông dài dưới gốc cây bàng giữa sân Hỏa Lò, cũng một chiều mưa bay đã ùa vào tràn ắp lòng tôi. Một nỗi nhớ niềm thương quắt quay, cộng với cuộc đời mưa gió, cứ xoáy mãi cõi hồn.

Không biết giờ này người ấy ra sao? Một ý thơ da diết của thi gia Nguyễn Bính thì phải, đã lách vào tim tôi thắt lại:

Chiều nay ….. thuơng nhớ nhất chiều nay.

Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy.

Anh uống cả em và ….. uống cả,

Một trời quan tái mấy cho say.

Bây giờ tôi đâu có cốc rượu đầy, mà chỉ có một trời cay… cay hơn ớt. Tôi còn đương mơ màng trong một trời chiều mây tím thì những tiếng huyên náo ầm ầm ở nhà số I. Những tiếng huỳnh huỵch vật lộn phía trong buồng khi tôi chạy xấn vào. Máu me văng vãi tứ tung, Lê Văn Kinh, người to như hộ pháp đang đè Phạm Công Thành gò người lại như con tôm chiên ở dưới nền nhà.

Công Thành mắt trợn ngược, đang khò khè tưởng không thở được nữa, tuy tay vẫn cầm chặt con dao nhọn dài đến 15 phân. Dưới má Lê Văn Kinh, một vết dao rộng chừng 3 phân. Máu từ đấy, vung vẩy khắp nhà.

– Biệt kích đánh biệt kích!

Có người nói to như vậy. Anh em, một số người đã xông đến. Tôi lẹ tay giật lấy con dao ở tay Công Thành. Mọi người hò trói Công Thành lại và họ đã trói thực. Một số người khác dẫn tay đưa Kinh xuống bệnh xá để băng bó vết thương. Sau một lúc câu chuyện đã được sáng tỏ:

Tên Công Thành (trong toán Boone biệt kích của Nguyễn Huy Lân) ở dưới nhà bếp, thường hay quát tháo, xua đuổi, đập gô, đập bát của các anh em trên các buồng xuống xin nước sôi. Hầu như cả trại không ai ưa y. Nhiều người căm tức nhưng không dám làm gì y vì y núp dưới bóng những tên áo vàng.

Lê Văn Kinh là người miền Nam rất thẳng tính, và nghĩ rằng nó đã làm xấu lây anh em biệt kích với những người tù miền Bắc. Bởi vậy, nhiều lần Kinh trông thấy Thành, Kinh chửi nên Thành rất hận. Đã có nhiều trận chửi nhau trước đấy, bao giờ anh em cũng bênh vực về bè với Kinh. Nếu Lê Văn Kinh không là người lao động tốt thì đã bị đi cùm nhiều lần rồi do sự báo cáo của Công Thành. Tất nhiên mỗi lần Kinh chửi Công Thành cũng đều phải lấy những cớ, lỗi của Thành trong sinh hoạt; chứ chẳng ai dám chửi Thành là kẻ đã làm chó, làm Joóc.

Thành xây hận lâu ngày, tuy Công Thành cũng to khỏ vì làm nhà bếp, nhưng so với tấm thân đồ sộ Người Nhái của Kinh thì không đi đến đâu. Vì vậy Thành đã thủ sẵn một con dao, chờ dịp. Và hôm nay, sau một hồi cải vã, bất ngờ Thành đã rút dao ra, chồm sang sàn Kinh để đâm.

Kinh người to, nhưng cũng rất nhanh. Kinh bị đâm một nhát, vội nhẩy đến, hất dao và vật Thành ra. Hôm nay cũng là dịp, anh em trong trại dồn cơn căm tức Thành đã lâu; bởi thế khi trói, mấy người đã cố ý kéo gò, riết chặt. Công Thành nằm như con heo, ư ử rên la ở giữa nhà. Ai cũng mượn cớ tên Thành đã dùng dao đâm người, trong khi chờ cán bộ vào giải quyết thì phải trói lại vì sợ anh ta tiếp tục hành hung.

Khi tên Đức trưởng ban giáo dục và tên Cẩn trực trại vào. Y thấy tên tay chân của chúng bị trói gô, y ra lệnh cởi trói. Tên Đức và tên Cẩn, hẳn cũng đã hiểu những điều ẩn tàng bên trong sự việc; nhưng vì nhát dao đâm Kinh quá sâu nên đã ra lệnh đưa Công Thành vào kỷ luật để xoa dịu sự bất mãn của trại. Tuy thế Công Thành cũng chỉ bị kỷ luật 2 ngày rồi lại được trở về nhà bếp như cũ. Sự việc này càng tỏ rõ bộ mặt tay sai, chó má của Công Thành, cho nên anh em càng không ai tiếp xúc với y.

Tối nay, sau khi toàn buồng sinh hoạt tổ như thường lệ, tôi vừa ra chỗ chiếc đèn con “Hoa Kỳ”; cầm cái điếu cầy về chỗ để “bắn” một điếu với bác Tiến thì Gôm đến. Chẳng biết Gôm thâu lượm được nguồn tin từ đâu, đã thì thầm cho biết: “Hòa nghị Paris về chiến tranh Đông Dương đã bắt đầu họp từ đầu tháng 5 rồi. Hiệp nghị gồm có 4 thành phần: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa, miền Bắc Việt Nam và một bộ phận của chúng ở miền Nam là Mặt Trận Giải Phóng. Tuy đã họp hơn 6 – 7 tháng nay rồi, nhưng lập trường của các bên cách xa nhau một trời, một vực, nên chưa đến một kết quả nào: Nguồn tin này cũng làm cho bác Tiến và tôi sững sờ suy nghĩ. Thảo nào, cũng từ mấy tháng nay, trại cũng chả có đài, hay báo chí gì cả. Tên Mạch, trưởng ban tuyên huấn lại giải thích ở ngoài hội trường hơn một tháng trước là để cho toàn thể trại viên tập trung tư tưởng theo học lớp chính trị dài ngày: “Lập công chuộc tội, chống Mỹ cứu nước” nên tạm ngừng đài và báo.

Vì ở trong một cái hòm đóng kín, thiếu nhiều cơ sở để nhìn, để cọ sát, tham khảo; dù vậy bác Tiến cũng bảo:

– Chúng (chỉ Cộng Sản), nhìn từ bản chất thì chúng chỉ muốn dùng hội nghị Paris như một cơ quan tuyên truyền, cầm chân Mỹ mà thôi. Tuy vậy, đây cũng là một dấu hiệu, chúng đã phải từ bỏ phần nào cái quyết tâm cao ngạo lúc đầu của chúng là sẽ “cướp cho được miền Nam bằng võ lực”. Vấn đề lớn ở đây là nếu Mỹ và Sài Gòn không tỉnh táo, thì sẽ bị hố với tụi này.

Chương 41 – 49

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Đặng Chí Bình. Bookmark the permalink.