THÉP ĐEN III: 31-40 (Đặng Chí Bình)

Chương 39

Chiếc “hồ lô” Của Thân Lân

Có lẽ trời đã vào giữa hay cuối Thu. Những chiếc lá nứa từng ngày đổi thành mầu vàng đậu phụ rán. Một vài làn heo may lảng vảng làm ráo hoảnh những đám rêu đầu hè, làm những làn da tay chân căng ra lăn tăn, gờn gợn ngứa. Hương Thu nồng nồng, ngai ngái thấp thoáng trong bụi chuối đầu giếng. Hẳn trong rừng sâu đã có những chú nai vàng ngơ ngác đang đạp trên những lá vàng khô.

Sáng hôm nay đang lúc trại chia sắn sớm, có tiếng một con chim kêu rất lạ trong bụi nứa già phía cuối hội trường. Cứ một đợt 3 tiếng một: hù lú… hù lú… hù lú…

Gợi trí tò mò, cầm đĩa sắn luộc chạy về phía bụi nứa, tôi vừa ăn vừa ngấp nghé nhìn trong đám lá nứa rậm xì. Kìa rồi, cho tới lúc nó hót tôi mới nhìn thấy. Những hai con, mà chỉ có một con hót. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy loại chim này. Chiếc mào mầu nâu tươi gồ lên, một chiếc lông trắng như bông đang ngoe nguẩy với gió trên chỏm của chiếc mào, trông như chiếc ngù của một vị hầu tước. Đặc biệt là cái đuôi mầu xanh cánh chả dài thuổng, nhọn hoắt, cứ ưỡn lên rồi hạ xuống liên hồi. Cái con mình hơi nhỏ hơn, cứ thỉnh thoảng lại cất tiếng hót lạ; trong khi con lớn hơn đứng bên cạnh, có lẽ là con trống, thỉnh thoảng lại quay nhìn con mái. Mỗi khi con mái hót, tôi nhìn và lắng nghe kỹ; rõ ràng con trống lại hơi gật gật cái đầu và có tiếng ừ ừ … rất nhỏ.

Cứ mỗi lần con mái kêu “hù lú” thì con trống lại “ừ” rồi chúng cùng nhìn xuống chiếc hè phía sau hội trường. Ở đấy có anh chàng Thân Lân, người tù đơn độc, cách biệt hết với mọi anh em tù trong trại. Anh đang ngồi riêng biệt một mình nhai sắn, bên cạnh chiếc lọ thần kỳ mà từ anh em trong trại cho đến những tên cán bộ đều gọi là chiếc “hồ lô” của Thân Lân.

Tôi ngồi bần thần, đôi khi đưa mắt nhìn đôi chim vẫn đu đưa trong bụi nứa. Tai thẫn thờ chờ nghe tiếng chim hót lạ hòa với gió heo may như tiếng của mùa Thu gọi nhịp cho núi rừng. Tiếng chim hót lúc này tôi lại nghe ra là hồ hô… hồ lô… hồ hô… vì cũng là lúc Thân Lân đã ăn sắn xong, anh đang dốc ngược chiếc “hồ lô” vào miệng để đón nhận một ngụm đầy cái nước đùng đục, lờ lờ mầu cánh cam phía bên trong.

Chiếc “hồ lô” có sức kéo tôi khỏi bụi nứa, rời đôi chim lạ để tiến về chỗ Thân Lân. Hơn nữa gần 4 tháng nay, từ ngày Thân Lân ở trại Vĩnh Tiến chuyển về, hầu như anh chẳng nói chuyện với ai. Anh chỉ thích lủi thủi riêng biệt một mình nên càng gợi trí tò mò của tôi.

Ngay từ những ngày đầu tôi đã để ý thái độ lạnh lùng, cách ly với mọi người của anh. Gôm và các anh em ở trại Vĩnh Tiến về cho biết, anh là cán bộ tập kết, hình như ở Quãng Nam hay Quãng Ngãi gì đó. Người ta không biết cấp bực của anh, chỉ biết anh là bộ đội chính quy. Anh bị bắt vì tội phát biểu rộng rãi, bậy bạ, không đúng đường lối chính sách của đảng nên bị ghép vào tội có tư tưởng xét lại v.v… đã ở tù 6 – 7 năm rồi. Anh cũng mang cái án cao su tập trung cải tạo 3 năm. Trông người của anh rất khó đoán tuổi. Có thể 30 mà cũng có thể 40 (1968). Bởi vì anh không có râu, nước da lại mai mái, chỉ cao khoảng 1 mét 55 hay 57. Ngay cái tên Thân Lân, từ các cán bộ cho đến anh em cả trại đều gọi như vậy, cho nên không rõ “Thân” là họ của anh, hay chỉ là tên đệm?

Mùa Hè, bất cứ ngày hay đêm lúc nào anh cũng cởi trần trùng trục, mặc mỗi chiếc quần đùi từ chiếc quần dài cũ của trại xé ra. Đặc điểm là anh có cái bụng tương đối vĩ đại. Thành ra nhiều lúc trông người của anh nó giống hệt con ễnh ương. Về tính tình của anh cũng có cái đặc biệt. Anh lao động trên tinh thần tự nguyện, tự giác. Nghĩa là có cán bộ cũng vậy; không có cán bộ cũng thế. Tổ, toán hay cán bộ giao cho anh ta làm phần việc gì (làm riêng). Anh làm có ý thức trách nhiệm cho tới xong. Ai ngồi chơi mặc, anh chưa làm xong thì cứ lầm lủi làm. Ngược lại, ai làm cứ làm, xong việc là anh ngồi chơi. Hoặc khi thấy bụng đói quá là ngồi, dứt khoát không làm nữa dù có đưa anh ta vào cùm. Anh không hề gian tham hay tố giác bất cứ một ai bao giờ.

Chẳng biết từ khi nào, và anh kiếm ở đâu; ngay từ ở trại Vĩnh Tiến, anh đã có một cái chai thủy tinh trắng, cổ rụt, cao độ 25 phân, dung tích khoảng chừng một lít rưỡi. Không có nút nên anh đã nhờ ai hay chính anh đã làm một cái nút bằng gỗ thay vào.

Chiếc chai này đã làm cho Thân Lân phải đi cùm mấy lần ở trại Vĩnh Tiến cũng như ngay ở trại E này. Khi anh mới về đây được hơn nửa tháng cũng đã phải vào nhà kỷ luật 12 ngày vì cái chai đó mà Hoàng Thanh cuối cùng phải nhượng bộ. Chiếc chai của anh dùng để chứa tất cả những cái gì có thể ăn hay uống được trên cái cõi đời này. Bữa cơm anh đi lang thang nhìn các chỗ, nơi người ta ăn uống. Có những anh tài ba xoay xở kiếm chác được con cá, lá rau, đôi khi con chuột hoặc bồ nhông v.v… Đĩa bát của họ ăn rồi thừa tí chút anh đến xin rồi trút, vét hết vào chiếc lọ của anh: mấy cái xương cá, tí nước rau thừ, dăm ba cái xuơng chuột, xương ếch. Đôi khi anh bắt được co gián, con ngóe, con bọ xít… nghĩa là bất kể con gì; ngay những đồ ăn của chính anh; những ngày trại có tươi, ngày lễ, ngày Tết, còn bao nhiêu anh đều dồn vào chiếc lọ đó.

Do nhiều ngày tháng dài, tất cả mọi vật trong chiếc lọ đó đều rữa mục, không những thịt, da, rau cỏ mà cả xương chuột, ngóe, rắn v.v… cũng đều tan ra nước hết, chỉ có những mảnh xương ống chân của lợn hay trâu thì mới không thể tan được mà thôi, để thành một thứ nước đùng đục, nhờn nhờn; có khi là mầu xanh xám, có khi là mầu nâu đậm. Chẳng ai biết cái vị của cái nước ấy ra sao.

Cơm nước, anh thường tìm một xó hay một chỗ riêng biệt ngồi một mình. Cứ sau mỗi bữa cơm, anh thường tu một ngụm cái nước đó. Nước cứ vơi đi lại đầy lên, bao giờ cũng gần lưng lọ, không bao giờ cạn. Anh chẳng ốm đau, bệnh tật gì, lại không hề làm phiền hà gì ai, do đấy cũng có nhiều người có thiện cảm gọi anh, để cho anh ít thức ăn thừa hay canh thừa.

Chiếc lọ luôn luôn gắn liền với anh như tay hay chân của anh vậy. Ngày đêm, khi ăn, khi ngủ, khi lao động, lúc nào anh cũng đeo nó ở cạnh sườn. Cũng có nhiều lần, nhiều anh em, thậm chí cả cán bộ cũng đồng ý, chờ rình lúc anh ngủ say đã lấy chiếc lọ của anh giấu đi. Mục đích giúp anh, ngăn anh, không cho anh dùng cái loại nước mất vệ sinh như vậy. Nhưng khi anh tỉnh dậy, thấy mất cái lọ, anh đã lăn ra giẫy đành đạch kêu ban giám thị, kêu cán bộ, kêu chính phủ trả lại cho anh chiếc lọ đó. Dứt khoát không chịu đi lao động, dù đưa vào nhà kỷ luật; mặc ai nói sao, thí đố anh thế nào cũng chỉ một mực yêu cầu trả lại anh chiếc lọ.

Anh em trong tù cũng như cán bộ thấy rằng, anh không hề chống đối ai, lao động thì tốt. Anh cũng không làm ảnh hưởng hay làm mất vệ sinh đến người chung quanh. Cuối cùng rồi cũng đành trả lại chiếc lọ nước thánh cho anh, và anh lại ngoan ngoãn tiếp tục đi lao động như thường.

Nhưng rồi chắc Hoàng Thanh cũng đã được nghe cán bộ báo cáo về Thân Lân. Và hẳn Hoàng Thanh cũng nghĩ rằng chỉ vì các cán bộ yếu tay, thiếu bản lĩnh cho nên đã không trị được Thân Lân chứ hắn vẫn có bàn tay sắt mà biết bao nhiêu những tên phản động trước đây, mọc bao nhiêu cái sừng. bao nhiêu cái ngà cũng đều hoặc bị tiêu diệt, hoặc lậy van xin chừa. Có một điều Hoàng Thanh đã quên là ở đây Thân Lân không hề chống đối ương ngạnh.

Bởi vậy, một buổi trưa Hoàng Thanh vào trại, y lững thững đến toán 2, tới chỗ Thân Lân đang ngồi ăn cơm một mình ở góc hè. Y cúi xuống cầm chai nước lên hỏi Thân Lân, nước gì bên trong? Thân Lân đã trả lời đấy là nước uống của anh.

Hoàng Thanh quay lại đưa chiếc lọ cho tên trật tự Tân đi theo phía sau, ra lệnh:

– Đem quẳng chiếc lọ này đi! Và cấm Thân Lân từ nay không được uống cái nước bậy bạ mất vệ sinh như vậy nữa.

Thân Lân đã nằm lăn ra gào thét đòi lại, để cuối cùng phải vào kỷ luật. Ngày đêm từ nhà kỷ luật, Thân Lân vẫn ầm ĩkêu xin đảng, nhà nước, ban giám thị xin trả lại cho anh chiếc lọ. Thân Lân bị vào kỷ luật đã được mấy ngày; đêm qua lúc gần sáng, tôi giật mình thức giấc vì một cơn mộng hãi hùng. Nằm ngay cạnh cửa sổ phía sàn trong, trằn trọc mãi tôi vẫn chưa dỗ lại được giấc ngủ còn dang dở. Trong cái vắng lặng của đêm khuya, thỉnh thoảng một vài tiếng kêu của thú rừng văng vẳng vọng về, nhưng tiếng kêu nài than thở của Thân Lân từ nhà kỷ luật lại nghe rỏ mồn một. Giọng anh hơi lạ, đùng đục, khàn khàn như thiếu nước hoặc đã phải nói quá nhiều hay quá mệt. Lúc thì nức nở, tha thiết: – Thưa bác Hồ kính yêu, cháu đã phải chia tay với cô Lành, mối tình đầu và rời xa cả bố mẹ của cháu, nghe theo lời bác kêu gọi, trở về quê hương của cách mạng để được gần bác, đến nay đã mười mấy năm rồi.

Nhưng có lúc thì nghe sôi nổi, dứt khoát:

– Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hơn 6 năm dài trong đơn vị, cháu đã nổ lực liên tục phấn đấu gian khổ trong công tác cũng như trong học tập. Kết quả cháu đã được toàn tiểu đoàn bình bầu là chiến sĩ thi đua và vinh hạnh to lớn là đuợc kết nạp vào đảng Lao Động Việt Nam vinh quang. Ngày nay cháu xin trả lại đảng tịch và cả bằng “chiến sĩ thi đua” để đổi lại cái lọ. Xin bác hãy ra lệnh cho ban giám thị trả lại cái lọ cho cháu.

Lòng tôi đã não nuột, ê chề, nằm nghe Thân Lân kể lể, than van trong đêm lạnh càng làm cho hồn rã rời lịm dần vào biển đắng.

Ba ngày, năm ngày rồi cả tuần lễ vẫn thế. Chắc rằng cũng có một số cán bộ mủi lòng nên đã đề ý kiến với Hoàng Thanh chăng? Mãi đến ngày thứ 12, buổi chiều Hoàng Thanh vào nhà kỷ luật. Chả hiểu có cuộc chuyện trò qua lại giữa Hoàng Thanh và Thân Lân sao đó. Chỉ biết, sau đấy Hoàng Thanh ra lệnh thả cùm cho Thân Lân và bắt tên trật tự Tân mang chiếc lọ trả lại cho anh ta. Và từ đấy, không những anh em trong tù mà cả cán bộ đều gọi chiếc lọ ấy là cái “Hồ Lô” của Thân Lân.

Nhìn cái bụng của Thân Lân nhiều lúc tôi và Gôm hỏi đùa nhau: chẳng biết ở trong đó chứa cái gì mà to thế? Mỡ thì chắc chắn chả có rồi; vậy thì giun, sán hay một thứ ký sinh trùng gì khác? Chúng tôi cũng tự bàn tán, đây là một luật trừ, một trường hợp đặc biệt của một con người do hoàn cảnh tạo nên. Chúng tôi tin rằng bất kể một ai, nếu uống cái nước nhờn nhợn đó vào, nếu không ngỏm củ kiệu thì cũng nằm ốm liệt giường, liệt chiếu; vậy mà Thân Lân lại không sao cả. Biết bao nhiêu loại vi trùng và dơ bẩn ở trong nước ấy. Hẳn cơ thể của anh đã tạo lập được một chất miễn dịch đặc biệt, khác với mọi người.

Chưa hết, Thân Lân còn một việc làm đặc biệt nữa mà ai ở trong trại cũng không thể quên được. Anh ta chẳng có thân nhân, nên cả năm chả gửi hay nhận thư của ai.T uy vậy, suốt năm đi lao động làm việc ở chỗ này hay chỗ khác; thấy từng mảnh giấy to, nhỏ dù dơ bẩn, anh ta cần cù rửa sạch rồi phơi phóng. Những buổi trưa, hay những ngày Chủ Nhật không có lao động xã hội chủ nghĩa, lủi thủi một mình mầy mò, anh ta ghép, dán thành từng tờ giấy to tương đối rồi xếp cất đi. Cứ như vậy cho đến gần ngày Quốc Khánh mồng 2 tháng 9 mỗi năm. Năm thì anh ta viết lá đơn to như tờ báo xin đề nghị Quốc Hội sửa lại điều khoản này, điều khoản kia trong hiến pháp. Năm thì làm đơn gửi chủ tịch nước là bác Hồ, xin cho sửa sang lại thành phố Hà Nội.

Mồng 2 tháng 8 vừa qua, trước ngày có lớp học tập “Lập công chuộc tội, chống Mỹ cứu nước”, tôi, Gôm và nhiều anh em khác đã theo dõi để ý. Thân Lân hý hoáy bao nhiêu ngày để vẽ một số kiểu xe tăng, một số khẩu pháo, mìn và lựu đạn. Anh ta vẽ tượng trưng và có chú thích từng bộ phận. Rồi anh viết một lá đơn khác, lời lẽ rất trang trọng, nghiêm chỉnh. Đề nghị ông bộ trưởng bộ quốc phòng Võ Nguyên Giáp; cải tiến một số xe tăng, một số pháo hiện nay của quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tuy không có phong bì, nhưng anh gấp gọn ghẽ. Sáng ngày mồng 2 tháng 9. Khi Hoàng Thanh và đoàn cán bộ tề chỉnh, quần áo tươm tất trong ngày lể trọng đại hàng năm, vào trại dự lễ. Chờ cho ban giám thị trên bục nói chuyện vừa dứt, ở dưới, bất ngờ anh xông lên. Hai tay anh đưa nộp tận tay ban giám thị tờ đơn và bản sơ đồ nói trên.

Lần đầu, thấy Thân Lân xồng xộc đi lên chỗ khán đài, Hoàng Thanh và các cán bộ đều ngỡ ngàng, ngơ ngác. Mãi cho tới khi Lân hai tay đưa tập đơn nhờ ban giám thị chuyển lên đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hoàng Thanh mới thấy là chuyện vớ vẩn, lằng nhằng, nên y quắc mắt, gạt tờ giấy ra, không nhận và bắt Lân về chỗ. Nhưng Lân vẫn cứ lỳ ra dứt khoát không về chỗ nếu ban giám thị không nhận lá đơn của anh ta. Có lẽ cán bộ giáo dục đã đọc kỹ hồ sơ của Lân rồi, nên đã nói nhỏ cho Hoàng Thanh biết. Bởi vậy Hoàng Thanh quay lại nhận lá đơn của Lân đưa. Lúc đó anh mới chịu trở xuống ngồi vào chỗ.

Rồi từ đấy thành cái lệ, cứ mồng 2 tháng 9 nào cũng vậy. Từ giám thị cho đến các cán bộ, cũng như anh em trong trại đều đã hiểu. Ban giám thị cứ nhận đơn rồi ném vứt đi, bởi vì trong lá đơn không hề có lời xỏ xiên, hỗn xược. Vả lại, dù sao cán bộ cũng đánh giá Lân đã là người ít nhiều bất bình thường.

Cứ như thế, thời gian trôi chảy mãi cho đến hơn một chục năm sau. Năm 1980, tôi vẫn gặp Thân Lân ở trại Thanh Phong, Thanh Hóa. Vẫn chiếc “hồ lô” ấy, vẫn cũng đơn từ hàng năm vào dịp mồng 2 tháng 9, và vẫn chiếc bụng to của con ễnh ương ngày xưa, tuy da mặt Lân có nhăn thêm, và tóc của Lân đã có sợi đổi màu. Anh vẫn sống nhăn ra; trong khi nhìn lại những người cùng thời gian ấy, đã nhiều người vĩnh viễn nằm xuống trong lòng đất lạnh của quê hương nhiều năm máu lửa rồi.

—>Chương 40

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Đặng Chí Bình. Bookmark the permalink.