MỘT THỜI NHIỄU NHƯƠNG: Lời Bạt

LỜI BẠT

Qua “Một thời nhiễu nhương: 1945 -1975″ quý vị độc giả có thể đã thoáng nhận ra bức tranh vân cẩu chấm phá cảnh các thế lực ngoại quốc và trong nước tranh giành nhau kịch liệt suốt ba mươi năm trời từ 1945 đến 1975 trên dải đất Việt Nam đã đưa Tổ quốc thân yêu của chúng ta vào một thời nhiễu nhương không những thảm khốc nhỡn tiền mà còn chồng chất oan khiên ngay cả cho đến đầu thế kỷ XXI này, và trong số những thế lực ấy nổi bật nhất là Hoa kỳ trong vai trò Cường quốc đứng đầu Thế giới tự do, đồng minh của Nam Việt Nam cho đến ngày 30/4/1975.

Khi luận về chính sách của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam tôi nói rằng Hoa kỳ đã hành động thuần túy vì lơiï ích quốc gia của họ trong lúc hùng hục nhẩy vào can thiệp cũng như chán ngán bỏ chạy. Đây là một phán đoán dựa trên thực tại, và quan điểm này của tôi không hề lay chuyển. Tuy nhiên, cần phải minh xác rằng trên thế giới này không một nước nào mà lại không hành động vì quyền lợi quốc gia của họ cả. Bọn Nga, bọn Tầu, bọn Pháp, bọn Nhật, hoặc bất cứ một bọn cha căng chú kiết nào đó trên trái đất này đều cùng một giuộc. Vấn đề đặt ra là giữa hai nước với nhau, quyền lợi quốc gia có trùng hợp với nhau hay không, rồi trùng hợp đến mức nào, và trùng hợp đến bao lâu. Qua Hiêp định Paris tháng giêng năm 1973 Hoa kỳ ngang nhiên cho thấy quyền lợi quốc gia của họ không còn trùng hợp với quyền lợi quốc gia của Nam Việt Nam nữa, và vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 người Mỹ nói chung, dưới tác dụng chồng chất của thế lực phản chiến , cảm thấy nhẹ nhõm khi quân Cộng sản Bắc Việt chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ Nam Việt Nam. Cố nhiên là cũng có một số người Mỹ õ thực sự hậm hực, ân hận nhìn nước Đồng minh thân thiết của mình trước đây chìm vào bóng đêm của lịch sử nhưng con số này ít thôi. Đa số người Mỹ cảm thấy nhẹ nhõm kia đích thực là những kẻ chạy làng trâng tráo nhất, và đáng hổ thẹn nhất trên cõi đời này. Trước kia Hoa kỳ tự ý đưa Nam Việt Nam vào “Thế giới tự do” rồi hô hào, cổ vũ, đốc thúc Nam Việt Nam chống Cộng sản đến cùng, nhưng đến khi bọn Cộng sản lô can An – nam được bọn Cộng sản quốc tế Nga, Tàu nhơn nhơn tiếp tay với sự phụ họa không giấu diếm của phản chiến Mỹ chiếm trọn Nam Việt Nam thì thản nhiên quay lưng đi . Ôi vô liêm sỉ đến thế là cùng! Trong Chiến tranh Việt Nam Hoa kỳ chỉ còn giữ được một chút danh dự qua sự hy sinh của hơn 50.000 nhân mạng , và người miền Nam Việt Nam mặc dù nguyền rủa phản chiến Mỹ thấu trời xanh nhưng lại rất mực khiêm cung , kính cẩn nghiêng mình trước vong linh các chiến sĩ Mỹ đã nằm xuống trong khi sát cánh chiến đấu với Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Là một trong số mấy chục triệu nạn nhân của cái vụ đánh quỵt không tiền khoáng hậu kia song nhờ hồng phúc của ông bà còn sống sót và đã dùng tàn lực của mình viết lại một thời nhiễu nhương ở Việt Nam trong đó có khá nhiều điều hư, thực lẫn lộn mà bọn bợm chữ quốc tế cố tình tung ra vì mục đích bỉ ổi của chúng làm cho người ta khó mà phân biệt được trắng đen, cứ cắm đầu tin rằng Cộng sản Việt Nam có chính nghĩa nên tất thắêng!

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 Biển Đông mênh mông đã vang tiếng oán hờn của mấy trăm ngàn con người của miền Nam Việt Nam tức tưởi nằm sâu dưới lòng nước lạnh, và có lẽ biến cố cực kỳ bi thảm này trong lịch sử nhân loại mới đánh động được lương tâm của một bọn Mỹ yên trí rằng đã quỵt được nợ êm xuôi. Trong “Đoạn trường tân thanh”, với biến cố Kiều gieo mình xuống sông Tiền đường, Nguyễn Du đã sắp xếp để Tam hợp đạo cô chỉ cho vãi Giác Duyên biết Kiều sẽ được giải thoát qua cửa thiền. Chuyện này có thể làm cho người ta liên tưởng tới biến cố Biển Đông vào cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980 từng dấy lên Phong trào tỵ nạn lớn nhất và bi thảm nhất trong thế kỷ XX của người Việt Nam phát – sia vào chế độ Cộng sản do khối Liên Xô và bọn Mỹ chạy làng áp đặt. Những con tàu nhân đạo từ nhiều nơi trên thế giới đã dồn dập đổ về Biển Đông cứu vớt Con Rồng cháu Tiên lâm nạn. Cả thế giới bàng hoàng, xúc động vỡ lẽ rằng bọn Cộng sản Việt Nam chỉ thua có bọn Pon Pot ở Miên thôi. Cái mà người ta cho là chính nghĩa của Cộng sản Bắc Việt trước năm 1975 chỉ là một điều giả tưởng do bọn gian phi Hồ chí Minh và bọn điếm chữ nước ngoài nhất là Pháp, Mỹ nặn ra. Thực tếù thì Nam Việt Nam lọt vào tay Cộng sản là do hậu quả của một âm mưu quốc tế cực kỳ thâm độc của các thế lực đen tối nhất của thời đại. Nói khác đi, Cộng sản Bắc Việt chẳng có chính nghĩa gì, và chúng thắng được chỉ là nhờ bạo lực đã được sử dụng một cách tàn bạo nhất, và trắng trợn nhất với một đối phương hoàn toàn cô thế trong khi Đồng minh Hoa kỳ phú lỉnh và cái thế giới vốn dĩ ích kỷ cúi đầu khuất phục một cách hèn hạ.

Trong khi miên man suy nghĩ xem có cần thêm vào phần bạt một vài điều xét ra không để vào cuốn sách được nhưng bắt buộc phải đề cập đến nếu không thì thiếu xót, tôi đã gặp một sự tình cờ rất thú vị. Điều khá ngạc nhiên là không phải chỉ có thế hệ tôi thấy thôi thúc phải vạch trần những vu oan giá họa mà bọn Cộng sản quốc tế và bọn phản chiến Mỹ đã chụp xuống đầu Nam Việt Nam suốt một khoảng thời gian kéo dài từ 1954 đến 1975, mà thế hệ sau tôi còn đi xa hơn nữa.

Vũ nguyên Băng Linh, con gái anh bạn tôi Vũ băng Đình , trong lúc đánh máy giúp một phần bản thảo, đã gửi điện thư cho tôi, hy vọng “lịch sử sẽ trả lại sự công bằng cho thế hệ của bác và ba cháu”. Quả là một sự đồng cảm vô cùng quý giá đối với thế hệ cha anh. Tuy nhiên, kinh cung chi điểu, chỉ dám nói rằng mong lắm thay bởi vì cái gọi là lịch sử kia chỉ có tính cách tương đối. Dưới chế độ phong kiến bọn vua chúa ở khắp mọi nơi đều đã không ngần ngại cho sửa lại lịch sử có lợi cho họ. Sang thế kỷ XX bọn Cộng sản còn không coi bàn dân thiên hạ ra gì nữa. Chúng công khai sửa lại lịch sử quốc gia cũng như thế giới sao cho phù hợp với thuyết Mác-xít của một tên thầy tu xuất gốc Do thái vừa mang mặc cảm vong thân vừa mang mặc cảm vong quốc sốâng bằng bơ thừa sữa cặn của tên tư bản Ăng-ghen nhưng lại hô hào lật đổ chủ nghĩa tư bản. Hất cẳng, tranh ăn, cắn cấu nhau, ăn thịt nhau là chuyện hàng ngày của loài người cũng như loài vật. Con chó vô sản đớp miếng xương của con chó tư bản, và ngươc lại. là chuyện thường, không có gì đáng nói. Điều đáng nói và phải nói là đừng anh hùng hóa cái chuyện con chó vô sản giành xương kia. Cộng sản nhất mực rêu rao rằng chỉ cóù chế độ của chúng mới là tốt nhất cho loài người. Nhưng thực tế rành rành cho thấy rằng nếu mọi chế độ trước chế độ Côïng sản đều là đồ tồi thì chế độ Cộng sản dứt khoát là đồ đểu ! Hãy điểm qua vài tên chóp bu mặt thớt của thế giới Cộïng sản để kịp thời cảnh giác về sự xuyên tạc lịch sử của chúng. Trước tiên là Mác. Cái đểu của Mác là đớp người hầu của vợ mà lại không dám nhận trách nhiệm nuôi dưỡng ! Cài đểu của Lê- nin là bị tim la ruỗng người mà cứ ỉm đi để cho bộ hạ của hắn, nhất là bọn Cộng sản An – nam cúi đầu tôn sùng là “Người” ! Cái đểu của Mao trạch Đông vào cuối đời là do mê mẩn cái bề hê hộp mà y đã phó mặc vận mệnh của cả một tỷ dân Chệt vào trong tay của một con hộ lý! Và cái đểu của Hồ chí Minh là cứ sực lu bù cái món “thịt vẫn thừa” mà lại ếm nhẹm , bắt người ta phải tin rằng gã là thánh sống, không màng danh lợi, vật chất , và “toàn tâm toàn ý phục vụ Cách mạng”! Cái danh sách mà sử liệu của Cộng sản liệt vào loại vĩ nhân như rứa của chúng còn dài lắm. Cả một lũ bịp bợm, cả một phường đểu giả, cả một bọn bất lương! Nhưng còn đểu hơn một bậc nữa khi đàn em của chúng dùng vũ lực bắt người ta phải sùng bái lũ gian manh, bẩn thỉu đó.

Dè chừng như vậy rồi vẫn chưa đủ. Cần phải tỉnh táo khi xem lại thới nhiễu nhương 1945-1975 ở đất nước ta để khỏi bị bọn điếm chữ Mỹ, Pháp lừa đảo. Cần nói ngay rằng trong Chiến tranh Việt Nam có hai phe rõ rệt. Phe ủng hộ Nam Việt Nam gồm Hoa kỳ và một số nước Đồng minh ở những mức độ khác nhau. Trong khi đó về hùa với Bắc Việt là Cộng sản, những kẻ thiên Cộng vì cố ý, những kẻ thiên Cộng vì ngờ ngệch, những kẻ thiên Cộng vì hận Mỹ, những kẻ thiên Cộng vì ganh ghét với Mỹ, những kẻ thiên Cộng vì muốn moi tiền của Mỹ, rồi lại còn những kẻ thiên Cộng vì mục đích thầm kín chỉ có chính bản thân họ mới biết được thôi, vân vân và vân vân…

Riêng ở Hoa kỳ thì tập đoàn thiên Cộng xuất hiện dưới nhiều dạng rất khác nhau, và rất phức tạp: một chính khách bài xích chế độ Sàigòn trong khi tâng bốc chế độ Hà nội, một nghị sĩ chống sự can thiệp của Hoa kỳ vào Chiến tranh Việt Nam, một giáo sư cổ vũ hòa bình, một thày tu không muốn bom đạn làm lu mờ những giá trị đạo đức của Hoa kỳ, một bác sĩ chống leo thang chiến tranh, một nghệ sĩ rửng mỡ nỏ mồm mạt sát lính Mỹ đang chết vì quyền lợi quốc gia của họ ở Việt Nam, một người đưa tin thiên vị có hại cho Nam Việt Nam, một người viết báo tung tin thất thiệt có lợi cho Bắc Việt, một gã chụp hình cố tình “bóp méo” bức ảnh để thúc đẩy công luận chống chiến tranh , một người vận động ở hành lang Quốc hội nhằm giảm viện trợ cho Nam Việt Nam, một sinh viên đốt thẻ quân dịch, và ngay cả một cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam quay ra ủng hộ Phong trào phản chiến. Những người này lúc đầu rất có thể hành động tự phát, riêng rẽ, nhưng dần dà theo thời gian, đã hợp thành Phong trào phản chiến do một số tổ chức đại diện cho những thế lực chính trị khác nhau thao túng đã buộc Chính quyền Nixon phải ký giấy đầu hàng trá hình qua Hiệp định Paris năm 1973. Nixon, qua tay lão thày dùi gốc Do thái Kissinger (hỗn danh Cố Kít một thời), đã bắt Nguyễn văn Thiệu ở Nam Việt Nam đóng vai trò Lê Lai ở hậu bán thế kỷ XX.

Bọn phản chiến Mỹ thường núp dưới nhãn hiệu tự do, cấp tiến, nhân đạo, coi đó là căn cốt cho lập trường chính trị của chúng về vấn đề Việt Nam. Đại để phản chiến Mỹ cho rằng :

1/ Mỹ không có trách nhiệm gì bảo vệ Nam Việt Nam, và sự can thiệp của Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam là sai lầm, là vô đạo đức ;

2/ Mập mờ chủ trương để cho Nam Việt Nam nằm dưới vòng thống trị của Cộng sản Hà nội qua chiêu bài hòa giải với Việt Cộïng ngụy danh ” Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.” ;

3/ Nịnh bợ bọn Hồ chí Minh trong khi đó lại miệt thị vô lối những người Việt Nam không Cộng sản .

Cần phải lột mặt nạ bẩn thỉu , cái tri thức bèo bọt, cái động cơ bất nhân , và cái thủ đoạn thâm độc của phản chiến Mỹ. Hãy mắng vào mặt chúng từng điểm một :

1/ Ngay sau Hiệp định Giơ-ne 1954, Hoa kỳ đã tìm mọi cách “tỏ tình” và o bế đưa “phần lãnh thổ tự do dưới quyền quản lý của Quốc gia Việt Nam” vào Thế giới Tự do đối nghịch với thế giới Cộng sản . Do đó mà Hoa kỳ tự ý để Nam Việt Nam cùng với Lào, Miên làm những nước được Khối Liên phòng Đông nam Á bảo vệ theo Nghị định thư của Hiệp ước SEATO ký ở Manila, Phi-líp-Pin tháng 9 năm 1954. Hơn thế nữa, cũng vào cuối năm 1954, trong thư phúc đáp việc Nam Việt Nam yêu cầu viện trợ để định cư gần một triệu người từ Bắc vào Nam sau khi Việt Nam bị chia làm đôi theo quy định của Hiệp ước Giơ-ne, Hoa kỳ tự nguyện chấm dứt viện trợ gián tiếp cho Chính quyền Quốc gia Việt Nam qua tay Pháp. Tổng thống Hoa kỳ Dwight Eisenhower đã gửi một bức thư cho Thủ tướng Ngô đình Diệm của Nam Việt Nam:

“Yêu cầu mới đây của Ngài nhằm trợ giúp cho một chương trình to lớn di chuyển mấy trăm ngàn công dân Việt Nam trung thành khỏi các vùng cai trị và hệ thống ý thức hệ mà họ ghê tởm đang được tiến hành. Tôi lấy làm vui mừng thấy rằng Hoa kỳ có thể trợ giúp trong nỗ lực nhân đạo này.

Chúng tôi đã và đang tìm cách thức và phương tiện cho phép viện trợ của chúng tôi có hiệu quả hơn và đóng góp vào sư vững mạnh và ổn định của chính phủ Việt Nam. Vì vậy tôi đang chỉ thị cho Đại sứ Mỹ ở Việt Nam [Donald R. Heath] cùng xem xét với Ngài với phương vị Thủ tướng Chính phủ để làm thế nào cho một chương trình viện trợ Mỹ tiến hành một cách khôn khéo trực tiếp cho Chính phủ của Ngài có thể phục vụ trong việc trợ giúp Việt Nam vào giờ phút thử thách của quý quốc , miễn là Chính phủ của Ngài sẵn sàng bảo đảm những tiêu chuẩn tiến hành có thể duy trì được trong trường hợp viện trợ như vậy có thể được cung cấp.” (1)*

Đặc biệt nhất là vào năm 1957, khi Tổng thống Ngô đình Diệm của Nam Việt Nam sang thăm Hoa kỳ Tổng thống Eisenhower đã tiếp đón vô cùng trọng thể , và lưỡng viện Quốc hội Hoa kỳ đã nhiệt liệt hoan nghênh nhà lãnh đạo Nam Việt Nam khi ông nói rằng biên thùy của Thế giới tự do kéo dài đến vĩ tuyến 17. Sử sách còn kia, nhân chứng còn kia , vật chứng còn kia, thế mà bọn chúng dám tráo trở , ăn nói nham nhở. Đấy là chưa kể những cam kết công khai của các Chính quyền Kennedy, Johnson, Nixon kế tiếp nhau đưa ra nhằm bảo vệ Nam Việt Nam chống lại sự xâm lược của Cộng sản Bắc Việt. Vì vậy có thể nói dứt khoát rằng chính chủ trương chạy làng của bọn phản chiến Mỹ mới là vô lương tâm, vô đạo đức làm cho Hoa kỳ mất tín nhiệm với thế giới.

2/ Có một điều cực kỳ quan trọng không thể nào không cảnh giác là chúng thường che đậy chủ trương vất Miền Nam Việt Nam cho bầy sói Cộng sản dưới những mỹ từ như để cho nhân dân Nam Việt Nam có quyền tự quyết , nghĩa là chấp nhận cho Cộng sản cai trị qua một cuộc bầu cử gian lận kiểu “dân chủ nhân dân”, hoặc một cuộc bầu cử mà chúng cứ cho bừa rằng Cộng sản sẽ thắng. Cái ích kỷ hại nhân của phản chiến Mỹ là như vậy đó. Chúng vỗ ngực là người chủ trương tự do, công bằng, nhân đạo nhưng chỉ cho bản thân chúng mà thôi còn cho người khác thì lại tùy nghi miễn sao dừng làm liên lụy tới chúng ï!

3/ Về cái khoản tâng bốc bọn Cộng sản Bắc Việt thì chúng cũng dùng một mánh khóe tương tự. Chúng nói ý rằng Hồ chí Minh theo chủ nghĩa dân tộc bất chấp súng ống của Nga, Tàu ngất trời ở các hải cảng, ở các cửa khẩu, bất chấp lương thực, thực phẩm của Nga, Tầu và Khối Cộng sản Đông Âu nhồi vào bụng bọn quan quân, lính tráng của Võ nguyên Giáp như kiểu vỗ heo cho béo để mang ra ngả thịt. Vả lại, chống một thế lực đen tối này để rồi âm thầm tự nguyện làm tay sai cho một thế lực đen tối khác thì có gì sach sẽ. Giữa hai đống phân, lấy đất lấp một đống bảo là thơm, còn cứ để một đống tơ hơ ra rồi bảo là thối thì thật là đáng phỉ nhổ.Bắc Việt nó có cho coi cái gì đâu mà chẳng tốt. Cần phải quyết liệt vạch ra cái hỗng của chúng , không cho chúng có thể lấy vải thưa che mắt thánh , và cái hèn của chúng cứ vòng vo Tam Quốc, lấp lấp ló ló, cố tình lấp liếm cái dụng tâm làm nô bộc cho một thế lực đen tối khác của chúng

Một lão thượng nghị sĩ Mỹ trước kia từng lớn tiếng gọi Sài gòn là ổ điếm đã được Chính quyền Cộng sản mời sang Sài gòn cải danh là thành phố Hồ chí Minh sau năm 1975, một ổ điếm gấp cả chục lần ổ điếm Sài gòn năm xưa, đã câm miệng hến không thấy tuyên bố nhăng nhít gì! Không những thế , lão ta còn được minh tinh màn bạc Thẩm thúy Hằng mới ngày nào đây còn phục vụ trong một Chương trình Văn nghệ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đã trở cờ “chiêu đãi” khách quý bài “Từ thành phố này người đã ra đi …” ca tụng tên gian phi Hồ chí Minh . Điếm nọ gặp điếm kia! Chủ điếm, khách điếm, nhưng chỉ có một điều rất ư khác biệt là không thấy ai nói đến điếm cả! Và chính đó mới là đặc trưng của phản chiến Mỹ.

Đối với bọn phản chiến Mỹ, thiết tưởng nên giữ một thái độ nhân bản và cao thượng điển hình cho văn hóa Lạc Hồâng chưa bị hoen ố bởi ảnh hưởng Mác-xít. Ta thông cảm với thái độ vị lợi ích quốc gia của họ, và chỉ cần vạch ra rằng chúng đã cố ý bóp méo sự thật làm hại cho công cuộc chiến đấu của người Việt Nam không Cộng sản trước năm 1975. Điểm cần nhấn mạnh là cho chúng thấy rằng ta đã biết cái hỗng và cái hèn của chúng , không đòi hỏi chúng phải thú nhận hay xin lỗi gì cả. Đó là sự công bằng mà ta thấy rằng lịch sử phải trả lại cho ta , nạn nhân của bọn phản chiến Mỹ đã ép buộc Chính quyền Hoa kỳ chạy làng trong Chiến tranh Việt Nam. Phải tuyệt đối nhấn mạnh rằng ta không than phiền Hoa kỳ “bỏ rơi” ta, nghĩa là không níu kéo, xin xỏ điều gì cả. Trái lại, ta muốn nói thẳng vào mặt phản chiến Mỹ rằng chúng mắc nợ miền Nam Việt Nam trước đây, và chúng là những tên quỵt nợ khả ố nhất.

Có thể hình dung sau này cứ vào ngày 30 tháng 4 mỗi năm thế hệ trẻ tiếp liền hệ cha anh từng cầm súng nã vào đầu bọn Cộng sản ra một bản danh sách bọn phản chiến tai to mặt lớn của Mỹ và một vài nước lớn khác đã có những lời lẽ và hành động không công bằng đối với Nam Việt Nam trước ngày 30/ 4/1975. Điều cần là phải liên tục tiến hành hết năm này qua năm khác để cho các đương sự dù có ngoan cố đến đâu đi nữa cuối cùng cũng phải tự vấn lương tâm. Thế là đủ rồi. Với kinh nghiệm lịch sử của cha anh, với hiểu biết kỹ thuật về tin học cao, và với khả năng diễn đạt bằng Anh ngữ , Pháp ngữ như người bản xứ , thế hệ trẻ dư sức để làm một công việc tầm thường như thế này. Thế hệ từng cầm súng diệt thù phấn khởi tin tưởng vào tương lai.

Tuy nhiên, dù bản thân có vững mạnh thế nào đi nữa, vẫn phải cảnh giác đối với hoàn cảnh khách quan, và tàn dư của bọn phản chiến Mỹ ngoan cố bám vào cái thành quả lỗi thời. Thiết tưởng thế hệ trẻ cần lưu ý một số điểm :

Trước hết là tài liệu viết về Chiến tranh Việt Nam. Dường như đã có hơn một ngàn cuốn sách và vô số tạp chí, tuần san, nguyêt san, chuyên san . Đồ sộ quá nhưng không có gì phải khớp cả. Qua những mớ bòng bong hỏa mù vẫn có thể nhận ra thực chất của nó. Đại để thì ngoài một số ít tài liệu cơ bản ra, nói chung sách báo Mỹ nặng tính chất sao chép của nhau, và thường phản ánh thái độ của người viết hơn là tình hình thực tế, và thái độ cũng thường là thiên vị rất bất lợi cho phía Nam Việt Nam, ngu xuẩn có, giả vờ ngu xuẩn có!

Về hình thức, những tên thợ viết đó rất mực đĩ bợm trong việc dùng từ. Chẳng hạn như chúng dùng từ “Cuộïc chiến tranh của Pháp” trong thời kỳ 1945 – 1954, “Cuộc chiến tranh của Mỹ” trong thời kỳ 1954 -1975, trong cả hai trường hợp đều ám chỉ tập thể người Việt Nam không Cộng sản là tay sai Pháp và Mỹ trong cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm từ 1945 – 1975. Không những thế, trong nhiều trường hợp chúng còn lén lút thiên vị bọn Cộng sản Bắc Việt bằng cách xuyên tạc sự việc, thí dụ đã lấy cái tựa “Cuộc cách mạng chống Diệm” để nói về việc Bắc Việt đánh phá Nam Việt Nam dưới cái tên giả là “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ” .

Về nội dung , bọn điếm chữ Mỹ thường xoáy sâu vào mấy chủ điểm sau đây:

1/ Chiến tranh Việt Nam thời kỳ 1954 1975 là một cuộc nội chiến giữa “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” chống Chính quyền Nam Việt Nam và can thiệp Mỹ.

2/ Chính quyền Nam Việt Nam là tay sai Mỹ, và Quân lực Việt Nam Cộng hòa là lính đánh thuê cho Mỹ,

3/ Chính quyền Nam Việt Nam hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc sụp đổ.

Cũng vẫn xin vắn tắt trả lời từng điểm một:

1/ Sau ngày 30/4/1975 Hà nội đã nói thẳng rằng chính chúng là người tổ chức mọi thắng lợi ở Việt Nam nghĩa là chúng công khai tự nhận là bọn xâm lược! Vả lại, có đui điếc gì đâu mà không biết rằng phải có hơn 450.000 quân Bắc Việt võ trang súng ống cùng mình của tụi Chệt, tụi Nga trong khi Đồng minh Hoa kỳ của Nam Việt Nam vô liêm sỉ bán sốâng bán chết bỏ của chạy lấy người thì mới sực được Nam Việt Nam. Thế mà bọn Mỹ thâm độc này vẫn cứ viết bừa như vậy trong cuốn sách ấn hành năm 1985. Thế hệ sau làm gì có sách nào ngoài cái mớù giấy lộn do bọn người ác ý này sản xuất ra. Có lẽ chỉ còn nước “Nễ Hành” vào những cái mặt chó này mới hả giận được! Cuôc chiến tranh Việt Nam chỉ có giai đoạn khởi đầu ngắn ngủi là cuôc chiến tranh chống Pháp giành đôc lâp của toàn dân sau đó chuyển sang giai đoạn chiến tranh ý thức hệ giữa hai khối Tự do và Cộng sản . Đây là một sự thực lịch sử sờ sờ , chỉ có những kẻ mạt sát một thế lực này đồng thời lén lút nịnh bợ một thế lực khác mới dám ăn nói xằng bậy . Và đối với bọn lái chữ Mỹ này thì đây là một ” sự thật lõa lồ” như tôi đã nói ở trong sách , nhưng có lẽ cũng cần nhắc lại ở đây một lần nữa để bỉm vào mặt chúng hèn hạ độc quyền chữ nghĩa làm hại Nam Việt Namï. Chúng muốn chạy trốn cái sự thật lõa lồ này nhưng nó lại cứ ưỡn vào mặt chúng. Éo le thay, gieo gió thì gặp bão!

2/ Nếu Sài gòn là tay sai của Mỹ thì Hà nội hẳn cũng là tay sai Liên xô,và Trung Cộng. Khác chăng là ở chỗ Mỹ và khối Cộng sản xử sự như thế nào với người cùng phe với mình thôi. Mỹ thì cởi mở , ai mà chẳng có quyền phát biểu ý kiến , còn khối Cộng sản thì bố bảo. Chỉ có mấy tên chóp bu là có quyền phát biểu, mà chót lỡ miệng hay chệch hướng chút xíu thôi là chuyển công tác hay mau chóng trở thành những ” phi nhân”! Người ta dễ dàng nghe thấy những chính khách Mỹ có những lời khiếm nhã với Chính quyền Nam Việt Nam , nhưng phải khảo cứu , tìm tòi khá công phu thì mới thấy được sự giao thiệp thực sự giữa những đồng chí Cộng sản của chúng với nhau bởi vì những người biết chuyện đều phải chờ những kẻ có quyền thế kia tịch rồi mới dám tiết lộ! Muốn biết Xta-lin miệt thị Hồ chí Minh như thế nào , xin xem “Khruchev hồi nhớ ” (2) *

Còn việc bọn thợ viết Mỹ mạt sát Quân đội Nam Việt Nam thì cần phải nói ngay rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa tuyêt nhiên không phải là lính đánh thuê cho Mỹ như chúng ăn nói quàng xiên. Hãy nhìn vào việc thực, người thực:

Khi Hoa kỳ trực tiếp can thiệp vào Nam Việt Nam họ lăm le nắm quyền chỉ huy Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhưng cuối cùng đã phải bỏ ý định đó vì bị Nam Việt Nam kiên quyết khước từ với luận cứ Hoa kỳ chỉ là Đồng minh của Nam Việt Nam chứ không phải là đại diện cho Liên hiệp quốc như ở Triều tiên.

Thứ đến , Quân lực Việt Nam Cộng hòa không phải là đạo quân nhà nghề . Trái lại 80% lực lượng là quân nhân động viên , nghĩa là nếu không có xâm lược của Bắc Việt thì số ngươiø này có khi cả đời chưa phải mặc quần áo lính. Mặc dù không phải là nhà nghề cũng vẫn giáng cho quân Cộng sản Bắc Việt luôn luôn lên gân lập trường những đòn bái sái nếu xét cụ thể từng trường hợp một. Đã hai lần trong Chiến tranh Việt Nam , Quân lực Việt Nam Cộng hòa hầu như chiến đấu đơn độc đã tỏ ra một quân đội kiêu hùng xứng đáng với lòng tin cậy của nhân dân Nam Việt Nam.

Tết Mậu thân (1968) Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đánh bại hoàn toàn Cuộc Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa của Quân Bắc Việt. Khoảng 50.000 lính Bắc Việt đã phơi thây trên khắp thành thị miền Nam giữa lúc đài phát thanh Hà nội rêu rao chiến thắng hão và các phương tiện truyền thông của Hoa kỳ ra rả đưa ra những tin tức, bình luận sai lạc nhắm phục vụ cho mục đích phản chiến của chúng! Trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của Hà nội, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa cũng đã làm cho khoảng 100.000 quân Bắc Việt toi mạng khiến cho Bộ Chính trị của Hà nội phải vội vàng cử Tố Hữu, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị vào Nam, bẽn lẽn trấn an bọn đàn em rằng từ nay không còn đánh lớn nữa!

Sau này Quân Bắc Việt dám đánh chiếm Sàigòn là vì nắm thóp được rằng phản chiến Mỹ đã trói tay Chính quyền Nixon. Cái bản mặt bọn thợ viết thiên vị của Mỹ sao mà lợm giọng thế!

3/ Còn một điểm chót phải đề cập tới là phải chăng chỉ có Nam Việt Nam chịu trách nhiệm về sự thất bại của mình như lập luận của phản chiến Mỹ? Cần nhắc lại mà vẫn không thấy thừa là trong Chiến tranh Việt Nam, phe không Cộng sản Việt Nam không mạnh, không xảo quyệt và không có quyết tâm trả bằng máu để tự vệ. Nhưng Chiến tranh Việt Nam là Chiến tranh giữa Thế giới tự do và Cộng sản trong đó Hoa kỳ bị đòn hội chợ không thể thi thố dược tài năng. Liên xô nắm đầu, Trung Cộng trói chân, và bọn Hồ chí Minh thọc vào hạ bộ trong khi đó lại bị phản chiến Mỹ trói tay . Hoa kỳ mất tư thế áp đảo so với Khối Cộïng sản và dần dà phải rút chạy , bỏ mặc Nam Việt Nam cho cả Khối Cộng sản làm thịt. Vậy thì công bằng mà nói , cả Hoa kỳ và Nam Việt Nam đều phải chịu trách nhiệm . Khó có thể đưa ra một tỷ lệ chính xác nhưng có thể nói kẻ kia tám lạng, người này nửa cân.

Trên đây là vài luận điểm quen thuộc mà bọn thợ viết Mỹ thường viện ra để vừa bịp người vừa trấn an lương tâm họ. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp thế hệ trẻ phải cảnh giác cao độ đối với tàn dư của bọn chống chiến tranh Việt Nam và bọn điếm chữ Mỹ vì chúng vẫn còn ngoan cố. Cách đây chỉ vài tháng thôi, trong một cuộc phỏng vấn của cái đài BBC bên Anh quốc, Tim Page, một tên phó nhòm người Hồng mao vẫn còn hí hửng tự hào đã thành công trong việc dấy lên phong trào phản chiến ở Mỹ trước kia. Nó tự cung khai đã dùng ống kính một cách không lương thiện đểû tạo ra những bức hình thiên vị nhằm gây tác dụng chống chiến tranh. Chưa hết, nó còn đắc chí khoe rằng do mánh khóe bọn chúng đã chống lại được “cuộc chiến tranh thực dân hóa” của Mỹ ở Nam Việt Nam. Thằng này vừa ngu vừa láo! Mỹ chưa đủ sức giữ cho Nam Việt Nam lọt vào vòng thống trị của Cộng sản, nói chi đến thực dân hóa. Không ngờ người lại lộn giống chó. Đối với thằng chó đẻ này thì phóng uế đầy cả vào mắt mũi nó cũng chưa chắc nguôi giận được.

Cảnh giác về mặt thực tế chưa đủ, còn cần phải cảnh giác về mặt tinh thần nữa, nghĩa là trong khi tranh luận với phản chiến và thợ viết thiên vị Mỹ phải giữ vững nguyên tắc cơ bản không khoan nhượng là sự việc chỉ có một nhưng có nhiều cách giải thích tùy theo góc độ. Bọn chúng có thể giải thích khác ta và ngược lại. Một biến cố chính trị là một hiện tượng xã hội, và trong khoa học xã hội không thể có chân lý tuyệt đối. Do đó mà phải vạch ra những luận cứ sai trái, sơ hở của chúng rồi kê tủ đứng vào miệng chúng , không để cho chúng lươn lẹo thao túng chữ nghĩa. Cần lưu ý rằng bọn chúng thường ỷ vào ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng để viết bậy, không có gì đáng sợ cả. Tóm lại, có thể nói vắn tắt là giữa chúng và ta chỉ có thể có một điểm chung duy nhất là đồng ý không đồng ý với nhau.

Đã mạo muội theo lời dậy của Đức Khổng phu tử thà thắp một ngọn nến hơn là nguyền rủa bóng tối trong khi tâm sự với thế hệ kế tiếp về âm mưu của phản chiến Mỹ bán đứng Nam Việt Nam cho Cộng sản. Đến đây cũng xin tuân theo lời dậy của bậc Vạn thế sư biểu mà ” tri chỉ”.

Bây giờ tác giả xin phép bọc bạch đôi điều về bản thân , hy vọng có sự đồng cảm của bạn đọc cùng thuộc thế hệ bỗng dưng mất hút vào một thời nhiễu nhương , phải nói là nhiễu nhương quá đi vì xã hội bát nháo, tôn ti bổ nhào , giá trị lộn phèo, người ngợm nhập nhằng, chính tà bất phân, học thuyết âm ơ, chủ nghĩa lờ mờ , tình nghĩa điên đảo , chém giết triền miên…Và nhiễu nhương nên mới ê chề như Thúy Kiều trong cảnh ngộ ” Khi xưa phong gấm rủ là, giờ sao tan tác như hoa giữa đường.” Tác giả nguyên là một quân nhân trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa nên trong khi nói về mình không thể nào không nói thêm về tập thể gắn bó với đời mình .

Trước hết, xin lưu ý khi phản chiến Mỹ nói bừa rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa chỉ là một bọn lính đánh thuê , chúng đã lòi chuôi về cả xã hội lẫn tâm lý. Xã hội Việt Nam trọng văn khinh võ , nhưng một khi đã đi lính rồi thì ngay trong hiểm nguy trùng trùng vẫn thản nhiên , và lặng lẽ lo công việc của mình. Đúng ra Quân lực Việt Nam Cộâng hòa chỉ đánh thuê cho mình mà thôi ! Đánh để bảo vệ nếp sống mình thích . Thế chẳng là chính nghĩa à? Chẳng lẽ chỉ có đánh thuê cho bọn Cộng sản quốc tế mới là chính nghĩa sao? Không thể đem cái thứ lính gỗ của Hà nội so với lính người của Sài gòn được, Lính Hà nội thì lúc nào cũng kè kè có lính kín ngụy danh Chính ủy theo sát , lúc nào cũng oang oang khẩu hiệu, quang quác lập trường , đằng đằng sát khí! Trái lại, lính Sài gòn rất người, sợ khổ cực, sợ xa cách người thân yêu, sợ thương tích , sợ chết chóc, rất tha thiết với cuộc sống bình thường vương hơi thơ, rộn tiếng nhạc nhưng lại rất hào hùng khi lao vào nhiệm vụ. Có thể nói thơ , nhạc cứ quyện lấy họ , và trên thế giới này chưa có một quân đội nào lại sống phong phú, cởi mở về tinh thần , tình cảm, và rung động như vậy trong khi miễn cưỡng cầm súng! Tác giả đã qua kinh nghiệm này rồi. Mặc dù chỉ là một quân nhân trừ bị nhưng khi cần chiến đấu để bảo vệ cho điều mà mình cho là cao quý như danh dự của Quân đội mình đang phục vụ và ï của bản thân thì cứ “phơ” cho đến cùng bất chấp hậu quả! Phơ đến cùng ở Việt trì cho đến ngày đình chiến 20/7/1954, và cũng lại phơ đến cùng ở Thủ đức ngày 30/4/1975. Trước khi ngừng phơ theo lệnh trên cũng đã bắt một tên Trung tá Cộng sản Bắc Việt đền mạng.

Lúc nào cũng ung dung tiêu sái! Phơ vào cuộc đời oan nghiệt ! Phơ vào tình đời bạc bẽo! Phơ vào vũ trụ mênh mang vạn cổ sầu! Nhưng cũng xin nói ngay rằng phơ theo ý hướng triết lý nhân sinh riêng của mình mà thôi! Phản chiến Mỹ không có gì phải sợï. Dù có mang cốt ngợm đi nữa bọn chúng vẫn còn hình người , và tác giả vốn là một người lính của Quân lực Việt Nam Cộng hòa có đức hiếu sinh .

Xin độc giả thể tất cho những lời lẽ nặng cảm tính của người viết trong vài trang vừa qua. Có lúc phẫn uất, có lúc chua chát, có lúc ngậm ngùi , có lúc sẵng giọng, có lúc mỉa mai, có lúc khiếm nhã , có lúc khoan khoái, có lúc xấn xổ , có lúc khinh bạc, có lúc hùng hồn , tất cả đều biểu tỏ tâm tư của một người lính nửa mùa của một Quân đội mà phản chiến Mỹ , do dốt nát và do thiên vị , dám hỗn xược gọi là lính đánh thuê. Người lính nửa mùa này đây, vào giờ chót của cuộc chiến tranh bẩn thỉu nhìn từ cả hai góc độ nghịch nhau chứ không phải chỉ từ góc độ duy nhất sặc mùi Mác – xít của bọn gian phi chữ nghĩa Hồ chí Minh , đã cùng với mấy chú lính cậu tại Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức thản nhiên “Nễ Hành” vào mặt cái thế lực đen tối nhất của thời đại đang hung hăng xông tới và cái thế lực cũng đen tối chẳng kém gì đang cúp đuôi chạy trốn ra biển, mang theo một bầy tướng lãnh đàn em của Nguyễn văn Thiệu mặt mày ngơ ngáo như nhà thơ Băng Đình trong tác phẩm “Còn một chút này” gọi là “cái quạt Hồ xuân Hương”

Điều mỉa mai và trớ trêu đối với người lính nửa mùa này là Cộng sản và Tư bản, hai thế lực của thời đại đã chọn dùm cái “nghiệp” chứ lại không phải là cái nghề cho mình ! Sự can thiệp của Hoa kỳ vào Chiến tranh Việt Nam đã được đề cập khá nhiều rồi, nay thấy cần phải nói sơ qua về việc áp đặt Chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam , một biến cố đã đưa tác giả, một cậu bé vào năm 1945 mới có 13 tuổi ở châu thổ sông Hồng khi Cờ Đỏ xuất hiện phải phiêu bạt sang xứ Mỹ để rồi viết lại một thời nhiễu nhương kéo dài ba thập niên ở quê hương Việt Nam của mình. Chủ nghĩa Cộng sản đã là nguyên nhân chính ấn cái nghiệp lính vào đời tôi năm 1953, và từ đó trở đi tôi như “mảnh thân chiếc lá” .

Việc phe lũ Hồ chí Minh tìm cách áp đặt chế độ Cộng sản lên đầu lên cổ nhân dân Việt Nam không những đã đưa tới cuộc chiến tranh dai dẳng làm vong mạng cả 3 triệu người mà còn làm tan nát hàng triệu gia đình Việt Nam trong đó có gia đình tôi.

Bậc sinh thành ra tôi bị Giặc Cờ Đỏ quy chụp là thuộc giai cấp bóc lột , do đó bị chúng phá nhà, cướp của , vét tiền, lấy hết ruộng vườn , phải bỏ nơi chôn rau cắt rốn , chạy bán sống bán chết từ Bắc vào Nam, sống chui rúc, cơ cực, tủi nhục trong một con hẻm ở Sài gòn . Bản thân tôi bị tù đầy sau khi miền Nam Việt Nam mất vào tay Cộng sản Bắc Việt. Vợ con tôi trải qua bao hiểm nguy phiêu bạt sang xứ người trong cảnh tứ cố vô thân. Em tôi, một quân nhân trừ bị như tôi , cũng đã bị giam cầm đằng đẵng trong khi vợ con nheo nhóc hàng chục năm trời trong cảnh dở sống dở chết. Hai cháu ngoại tôi còn là thiếu niên cũng đã mất tích ở Biển Đông trên đường tìm tự do !

Bốn thế hệ trong đại gia đình tôi đã bị đầy đọa, khốn khổ, bức hại vì bọn đầu nậu Hồ chí Minh cho nên không thể nào không đề cập đến sự áp đặt chế độ Cộng sản trên quê hương qua kinh nghiệm trực tiếp và tri thức thực tiễn của tôi.

Từ kinh nghiệm bản thân về chủ nghĩa Mác khi Cờ Đỏ , hiệu kỳ của Cộng sản An- nam ngụy danh Việt Minh, nổi lên ngày 19/8/1945 , tôi đã dần dần nắm bắt được ý nghĩa của hai chữ Cộng sản. Vâng đúng vậy , Cờ Đỏ mang theo máu lửa! Ở quê tôi đã có cảnh bắn người, chôn sống, thủ tiêu, bỏ tù. Súng ống của mấy chú lính khố xanh ở dinh Tri huyện thời Pháp thuộc không thấy nữa nhưng dao găm, mã tấu, giáo mác cứ loang loáng vì mọi người đang hăng say cách mạng, sẵn sàng “phanh thây uống máu quân thù”. Mọi người gia nhập đoàn thể. Mọi người gọi nhau là đồng chí cho đúng với thời đại Hồ chí Minh. Đồng chí bố, đồng chí con, đồng chí anh, đồng chí em, đồng chí vợ, đồng chí chồng , tuốt mo đồng chí cả! Thanh niên, phụ nữ hội họp xong là ôm nhau liên hoan và giao hoan ngay trong đình, đền từ nay được coi là những nơi thờ cúng lỉnh kỉnh , những ổ mê tín dị đoan của bọn phong kiến lạc hậu trước kia. Mọi người đang “làm cách mạng”. “Việt quốc”, “Việt cách” là “phản động” phải cho đi mò tôm. Chỉ có Việt Minh là “cách mạng,” và người ta bắt đầu rỉ tai nhau Việt Minh là Cộng sản. Chú mới (chú mõ gọi trại đi), Trương tuần Mùi, canh điền Chiêm ở nhà cụ bá Bát , phu xe Thức thường họp kín với nhau ở sau đình Ấp . Người ta len lén chỉ trỏ họ là Việt Minh đấy.Và có thực Việt Minh là Cộng sản hay không thì mọi người cứ lơ mơ!

Cộng sản là gì ? Khó mà trả lời! Người ta chỉ nói đến “Đoàn thể” còn ngoài ra thì cứ như bưng! Cộng sản là gì? Cụ thể đó mà trừu tượng đó. Cộïng sản là một người, một cái gì không giống cái mình đã thấy . Cộng sản là một cái gì không tự nhiên! Cộng sản là một cái gì người ta không muốn cho ai biết! Phải đợi đến sau ngày 30/4/1975 Hà nội mới nhận mình là Cộng sản. Chỉ có thể nói mà không sợ sai lầm rằng Cộng sản là một cái gì không bình thường! Con người bình thường như tác giả tất nhiên là lạc lõng.

Còn lý thuyết thì sao? “Tư bản luận “, bộ sách ruột coi như ä kinh thánh của người vô sản đã không kèn không trống đi vào sọt rác lịch sử! Chưa có bộ sách có tên tuổi nào lại chịu số phận hẩm hiu như vậy. Đạo đức kinh của Lão tử, Tứ thư , Ngũ kinh của Khổng tử vẫn tồn tại sau khi ra đời hơn 2.000 năm. Những tác phẩm của các nhà triết học Hy lạp, La mã thời xa xưa như Aristote, Platon vẫn còn một chỗ đứng trang trọng trong kho sách triết lý của nhân loại. Kinh thánh của Thiên chúa giáo , cũng như kinh Co – ran của Hồi giáo, kinh Phật không những vẫn tồn tại mà còn phổ biến ngày một rộng hơn trên toàn thể thế giới. Có một điều không ai không biết là ở bất cứ đâu, ở Nga, ở Đông Âu, ở Tàu, ở Cu-ba, ở Việt Nam , Ở Kampuchea hễ Cộng sản chiếm được là có chuyện “đốt sách, chôn học trò” kiểu Tần thủy hoàng đế qua những chiến dịch mà chúng gọi một cách đàng điếm, hỗn xược là “truy quét văn hóa đồi trụy” trong khi chính kinh điển của Chủ nghĩa Mác mới sắp trở thành một thứ giấy vệ sinh không ai thèm sài!

Khi nhẩy lên vũ đài thế giới , Cộng sản quốc tế huyênh hoang tưởng rằng học thuyêùt Mác là chiếc chìa khóa giải quyết được mọi vấn đề tri thức, tôn giáo, văn hóa chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý, tư tưởng , văn học, nghệ thuật v…v… Thời gian đã trả lời, và trả lời đốp vào mặt bọn ngu mà lại hợm chữ. Thực ra chủ nghĩa Mác có một số đóng góp nhất định vào lãnh vực tư tưởng của nhân loại nhưng tuyêt nhiên không giải đáp được những vấn đề bức thiết của nhân loại . Không những thế, nó tụt hậu , và chế độ Cộng sản sắp trở lại khởi điểm của nó để vĩnh viễn trở thành quá khứ ! Điều mỉa mai và nhục nhã cho Mác là môn đệ đã tư bản hóa học thuyết kinh tế của y dưới những từ ngữ “đổi mới”, hoặc “kinh tế thị trường theo định hứơng xã hội chủ nghĩa” để trì hoãn sự sụp đổ không thể tránh khỏi của một hệ tư tưởng lỗi thời tự nhận là “Chủ nghĩa xã hội khoa học” nhưng lại tiến hành cảnh sát trị cực kỳ ngặt nghèo về mặt tư tưởng và thao túng cực kỳ gắt gao cái bao tử của kẻ bị trị để duy trì sự sống còn của nó! Sau khi Cộng sản Liên xô và Đông Âu sup đổ, những nước Cộng sản còn ngắc ngoải được như hiện nay chủ yếu là nhờ khuôn mẫu kiểm soát tư tưởng miêu tả trong tác phẩm “1984” của nhà văn hào người Anh George Orwell. Trong khi đó chủ nghĩa tư bản không ngừng tự điều chỉnh để không những tồn tại, mà còn phát triển, và thịnh vượng. Không ai dám khẳng định chủ nghĩa tư bản là tương lai của nhân loại nhưng không ai còn cắm đầu tin rằng chủ nghĩa tư bản đang rẫy chết như Mác đã phoong phoong nói bậy !

Còn một số vấn đề khác cũng cần nêu lên ở đây với bọn người Mác- xít võ đoán đến phét lác.

Trước hết là vấn đề tôn giáo. Dựa trên nền tảng triết lý duy vật , và biện chứng pháp khoa học, người Mác- xít tin tưởng tuyệt đối rằng sẽ giáo dục con người bỏ được tôn giáo mà họ coi là ” thuốc phiện ru ngủ dân chúng “. Thực tế thì như thế nào? Chẳng có tôn giáo nào mà ta thường thấy lại có chiều hướng biến mất. Trái lại, chủ nghĩa Mác mới tỏ ra lỗi thời, và nguy cơ diệt vong của nó đã lù lù khi Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên xô Mikhail Gorbachev áp dụng chính sách “minh bạch” ( glasnost) đưa Liên xô và Đông Âu tới chỗ hoàn toàn tan rã, Cuộc sống trở lại bình thường , và sinh hoat tôn giáo lại khởi phát và khởi sắc. Không một kẻ nào có thể áp bức con người mãi mãi . Không một chế độ nào có thể dùng võ lực bắt con người tin cái này hay tin cái kia. Con người có những tin tưởng có thể lý giải cũng như không thể lý giải được theo ý riêng của họ. Cúi đầu cầu nguyện trước Đâng vô hình , lầm rầm trước bàn thờ Phật, thắp một nén hương cho vong hồn người đã khuất , hoặc cúng vái cả ma thiêng , thần dữ là những hoạt động tự nhiên hầu như khôâng thể tách rời khỏi con người bất kể súng đạn mà những kẻ theo đạo Mác dí vào cổ họ.

Vấn đề thứ hai là vấn đề dân tộc. Vẫn chủ nghĩa Mác huyênh hoang là chỉ có nó mới giải quyết được một cách khoa học và êm thấm! Lộng ngôn cả! Dưới cái bề ngoaiø “Người Xô viết chúng tôi” các sắc tộc vẫn âm ỉ kèn cựa, hằn học nhau. Ngay cả trước khi Liên xô tan rã , khoảng cuối thập niên 1980 nước Cộng hòa Georgia , cũng gọi là Grugia, đã choảng nhau với nước lân cận. Sau khi Liên xô rã đám thì ôi thôi thối um lên ! Trên thế giới Cộng sản An – Nam, Cộng sản Miên, Cộng sản Tàu cùng nòi Mác-xít cả mà đào ông bới cha nhau lên, và thịt nhau tận tình trước mắt bàn dân thiên hạ! Tên Lê – nin có đội mồ sống dậy có lẽ cũng bị lính tráng của mấy xứ Cộng sản vừa nói đái vào mặt!

Qua kinh nghiệm bản thân, và tri thức chủ yếu là thực tiễn của môt người ít chữ, tác giả thấy rằng chủ nghĩa Cộng sản là một cái gì không bình thường cho nên hướng đi tất yếu của nó cũng không bình thường. Người Mác xít nói như đanh đóng cột rằng Chủ nghĩa Cộng sản là tột đỉnh của nhân loại và loài người tiến theo hướng đó. Nhưng trớ trêu thay, trong suốt một nửa thế kỷ nay chỉ thấy người ta chạy trốn khỏi những miền đất, những quốc gia sắp được Cộng sản “giải phóng”. và ngay cả những thành trì Cộng sản tiêu biểu nhất của chủ nghĩa Mác như Liên xô, Trung Quốc. Sự chạy trốn Thiên đường Cộng sản này là hướng đi không bình thường chẳng thấy tên thày tu Do thái dự kiến , và nó đã là khúc xương kẹt trong cổ họng bọn môn đồ của hắn cho đến tận ngày nay. Khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào !

Chót hết, còn một “chân lý” vằng vặc như trăng sao là không có hai công cụ đàn áp chủ yếu của chuyên chính vô sản gồm lính kín (Công an – Mật vụ) và lính hở (Quân đội) thì không một chế độ Cộng sản nào có thể tồn tại được trên thế giới này. Ở Trung quốc Đặng tiểu Bình thẳng tay dùng lính Tầu bắn giết dân Chệt ở Quảng trường Thiên an môn năm 1989 nên mới duy trì được cái chế độ Cộng sản bệnh hoạn. Trong khi đó ở Liên xô và Đông Âu từ năm 1991 trở đi chế độ Cộng sản hoàn toàn tan rã chỉ vì hai công cụ đàn áp không xử dụng được hoặc tự chúng không còn nhắm mắt bảo vệ Chính quyền vô sản nữa. Nhìn vào chân lý này thì không thể nào không kết luận rằng Chủ nghĩa Mác- xít thực chất là “Chủ nghĩa Mác – kít” theo kiểu nói trại trong ngôn ngữ Việt Nam..

Bản thân tác giả là một người tầm thường, muốn sống một cuộc đời tầm thường, không bon chen , kèn cựa , không mơ ước cao sang , chỉ mong sao sống an lành trọn kiếp phù du của một con người ở nơi chôn rau cắt rốn của mình . Mong ước thật tầm thường của mình đã sụp đổå tan tành khi bọn Giặc Cờ Đỏ do tên Hồ chí Minh đầu nậu nổi dậy giết người phá xóm dưới chiêu bài “cách mạng dân tộc” mà thực chất lại là “cách mạng vô sản” của thằng thày tu Do thái! Từ ly hương, qua di cư đến vong quốc, cuối cùng tác giả phải nương nhờ xứ Hoa kỳ cách Tổ quốc mình nửa vòng trái đất sau khi cuộc chống đối lại sự áp đặt chế độ Cộng sản ở Việt Nam bị thất bại. Chỉ còn một chút an ủi là lấy ngòi bút chính khí của mình vung vào mặt bọn gian phi chữ nghĩa của nhân loại từ tên Mác đầu xỏ đến tên tép riu Hồ chí Minh theo đóm ăn tàn mang học thuyết Mác về dày mả tổ cùng với bọn bợm chữ quốc tế và phản chiến Mỹ bẻ cong ngòi bút nịnh bợ Cộng sản Bắc Việt trong khi đó lại mạt sát Nam Việt Nam trong cuộc tranh giành giữa Khối Xô viết và Tư bản trên thế giới. Tác giả thực sự mãn nguyện sau khi đã có cơ hội cho chúng biết không úp mở rằng: một là chúng đã nói sai, đã làm sai, và nhất là đã dùng bạo lực áp bức người dân lành vô tội mà lại hèn nhát không dám nhận như vậy ; hai là bất cứ kẻ nào bêu xấu, vu cáo, hãm hại người khác trước sau gì cũng bị lột mặt nạ , không thoát khỏi lưới trời lồng lộng ; và ba là mọi việc trên đời này phải theo quy luật vay trả, trả vay cho đúng lẽ công bằng nhưng lẽ công bằng hợp với tiêu chuẩn triết lý nhân sinh riêng của tác giả nghĩa là không đòi hỏi trả thù mà chỉ dứt khoát bầy tỏ sự khinh miệt đối với một bọn cỏ rác. Đây là quyền cơ bản nhất của một con người tầm thường nhất trên trái đất này, không cần xin xỏ lịch sử hay bất cứ ai. Và đây cũng đích thực là sự công bằng tác giả dành quyền đòi lại.

Xin Thượng đế toàn tri, xin Đức chúa Trời toàn năng rủ lòng thương nhân loại, mở trí, mở lòng cho người Mác-xít thấy được rằng chế độ Cộng sản là tai ương của nhân loại và cũng là tai ương của dân tộc Việt Nam.

Riêng bản thân tác giả với trí óc thô thiển của một con người rất ư tầm thường nhưng may mắn qua thực tiễn nắm được, hiểu được Cộng sản là thế nào nên trong bài “Tựa” đã viết rằng rất tự hào đứng về phía thua trận ở Việt Nam. Kể ra thì không bình thường, nhưng chính vì Cộng sản là một cái gì không bình thường nên cái phản ứng bề ngoài không bình thường đó lại hoàn toàn là bình thường! Đây quả là điều cắc cớ!

Nói với người Cộng sản như vậy rồi , tác giả đã trả xong nợ tang bồng. Bây giờ tác giả thui thủi nhìn về nơi chôn rau cắt rốn của mình . Đó là làng Hà lão, huyện Hưng nhân, tỉnh Thái Bình ở miền bắc Việt Nam. Cảnh vật và con người gắn liền với cậu bé mươi tuổi năm xưa không còn nữa . Ngã ba Tam tỉnh, nơi mà một con gà gáy cả ba tỉnh Thái bình, Hưng yên, Hà nam đều nghe, đền Thúy bông, dốc Văn, đình Buộm, phố huyện Hưng nhân, làng Tè, làng Nại, làng Khánh Mỹ, và nhất là trường Kiêm bị huyện Hưng nhân… đã vời vợi; tứ tử trình làng gồm mấy Cậu Sắc, Cậu Chỉ, Cậu Mai, Cậu Minh như Vũ băng Đình đã gói ghém qua bài “Chu văn An cửa Bắc” trong “Còn một chút này” nay chỉ còn hai mống, và là là dân ngụ cư ơ Hoa kỳ. Ngụ cư là không bình thường rồi!

Tuy nhiên, cảm ơn Trời đất, như lời lẽ bình dị của một người Việt Nam thường thốt lên khi cảm thấy sung sướng hoăc mãn nguyện về điều gì đó , tôi có phúc được ở nhờ một xứ mà người ta có thể sống dung hợp với nhau bất chấp những sự dị biệt cực kỳ to lớn về chủng tộc, nguồn gốc, tôn giáo , chính kiến, tập tục , lối sống, văn hóa. Những người này mặc dù muốn giữ nguyên bản sắc của mình , nghĩa là vẫn muốn mình là người Tàu, người Nhật, người Nga, người Đức, người Pháp, người Ba lan , người Việt Nam… nhưng lại không sao giữ được , mà không sao giữ được chỉ vì quá trình tiếp thu văn hóa tự nhiên ở một môi trường sinh hoạt mới chứ không có ai dí súng vào lưng họ bắt buộc phải từ bỏ bản sắc riêng của mình . Bản sắc gốc của mọi người thực ra không biến mất mà lại nhòa dần vào những bản sắc khác để hình thành một bản sắc duy nhất là bản sắc Mỹ. với đặc điêm điển hình của nó là chịu đựng lẫn nhau, nhường nhịn lẫn nhau, và hòa hợp với nhau thành một Hợp chủng quốc phồn vinh vào bậc nhất thế gíới hiện nay trong đó nhân quyền và dân quyền được tôn trọng tới một mức hiếm có trong lịch sử nhân loại. Mới nghe qua thì tưởng rằng tầm thường, nhưng chiêm nghiệm, suy nghĩ, và so sánh cho kỹ thì thấy rằng trên trái đất này chỉ có một xứ độc nhất có thể làm được mà thôi đó là xứ Hoa Kỳ.

Đối với tác giả thì Hoa kỳ là một xứ sở ân nhân, và một số người Mỹ thực sự là những vị ân nhân. Năm 1975 Chính phủ Hoa kỳ đã chấp nhận cho gia đình tôi tỵ nạn sau khi Giặc Cờ Đỏ chiếm Sài gòn, và một Nhà thờ Tin Lành với danh xưng “Đệ nhất Trưởng lão giáo đường Bellevue” ở 100 th Ave. NE , thành phố Bellevue, Tiễu bang Washington theo lời dậy của Chúa Giê-xu nhân lành đã tận tình cưu mang và giúp đỡ gia đình tôi có một cuộc sống bình thường ở nơi xứ lạ quê người với hai bàn tay trắng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Xin tạ ơn Chúa và cảm ơn Hội thánh.

Mười lăm năm sau, Chính phủ Hoa kỳ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan đã kiên trì điều đình với Nhà đương cục Hà nội để cho tôi đoàn tụ với gia đình sau 15 năm tù chặt và lỏng dưới chế độ cai trị của Cộïng sản Việt Nam. Chương trình giúp cho quân nhân, công chức của Đồng minh Nam Việt Nam trước đây được phép định cư ở nước ngoài tượng trưng cho ý thức công bằng rất đáng khâm phục của người Mỹ . Hoa kỳ đã chuộc lại một phần nào lỗi lầm xưa rút chạy khỏi Nam Việt Nam dưới sức ép của bọn phản chiến Mỹ khiến cho hai mươi triệu người lọt vào vòng thống trị tàn bạo của Cộng sản. Nước Mỹ quả là vĩ đại! Một lần nữa xin cảm ơn nước Mỹ.

Tuy nhiên, điều đắc ý nhất đối với tôi là nhờ sinh sống ở Hoa kỳ mà tôi đã hoàn tất được bộ sách “Một thời nhiễu nhương: 1945 -1975” theo đúng những gì tôi nghĩ , và đưa ra mắt bạn đọc mà không bị o ép cắt xén, không bị đe dọa bỏ tù, và không lo sợ mất mạng như ở quê hương Việt Nam của tôi. Từ đáy lòng mình, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với Chính phủ và nhân dân Hoa kỳ. Xin Thượng đế phù hộ nước Mỹ! Và xin cảm ơn đời lắm lắm !

Lúc này tôi đã tới tuổi. Nhân sinh bách tuế vi kỳ. Tôi mường tượng rồi đây sẽ mượn cánh hạc lên Cõi Tiên theo hơi thơ bàng bạc của Tản Đà để rồi:

“Cửa động đầu non đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.”

Đời người như bóng câu qua cửa sổ! Mới ngày nào còn là một anh lính trẻ “đứng gác ngoài biên khu”, đúng ra là một sĩ quan trấn ải địa đầu của Quân đội quốc gia Việt Nam tại miền trung châu Bắc Việt có tên là Bạch Hạc ở ngay chân cầu Việt Trì. Đó chính là Ngã ba Hạc, hợp lưu của sông Thao, sông Lô, sông Đà mà trước kia dưới thời Lê gọi là Tam giang khẩu, một phong cảnh kỳ thú nổi tiếng ở miền đất Tổ Vĩnh Yên, Phú Thọ thuộc miền bắc Việt Nam.

Bạch Hạc thời cổ thuộc đất Phong châu có cây chiên đàn chim hạc làm tổ ở trên nên có tên gọi như vậy. Sao lại có một sự ngẫu nhiên thú vị thế! Tình cờ có mặt ở một vùng đất lịch sử giữa một thời ly loạn ngợp khói lửa, và cũng là một vùng đất phong cảnh nên thơ hợp với tâm hồn nhẹ nhàng ưa thích lối sống đơn sơ, thuần phác phảng phất cái vị Lão Trang khoáng đạt, tác giả nghiệp lính chứ không phải nghề lính , vào lúc hoàng hôn của cuộc đời, bất giác nhớ lại vùng trời kỷ niệm đầu đời chiến binh nên đã lấy “Bạch Hạc” làm bút hiệu để ghi dấu chân chim bước vào một thời nhiễu nhương của đời mình không ngờ lại được lồng vào một thời nhiễu nhương của chính đất nước mình nữa vào giữa thế kỷ XX.

Bellevue , Washington , Hoa kỳ Giáng sinh 2003bachhac_sign

(1)* Gettleman , Marvin E. và đồng soạn giả, Mỹ và Việt Nam: Một thiên lịch sử cứ liệu ( (“America and Vietnam : A documented History” ) , sách bìa giấy, NXB Grove Weidenfeld, Hoa kỳ, 1985, trang 117.

(2)* Schecter, Jerold L. và Luchov,Vyacheslav V. , Khruschev hồi nhớ, (” Khruschev remembers”),NXB Little , Brown Company, Hoa kỳ, 1990, trang 154- 156

This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN ĐỨC MINH: Một Thời Nhiễu Nhương, Việt Sử. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s