MỘT THỜI NHIỄU NHƯƠNG: Phần III

Việc hai phe Cộng Sản và không Cộng Sản ở Việt Nam chuẩn bị chống đối nhau đã được tiến hành qua hai giai đoạn: Giai đoạn tranh thủ lợi thế (1954-1956) và giai đoạn tích cực đối đầu nhau (1956-1958).

CHƯƠNG 1

HAI MIỀN NAM BẮC VIỆT NAM TRANH THỦ LỢI THẾ

1-1. Chính quyền Hà nội vi phạm Hiệp định Giơ-Neo

Trong giai đoạn tranh thủ lợi thế, việc đầu tiên mà chính quyền Hà nội làm là tìm đủ mọi cách ngăn cản dân chúng di cư khỏi miền Bắc Việt Nam, bất chấp điều 14(d) của Hiệp định Giơ-Neo quy định “bất cứ thường dân nào trong một khu vực do một bên kiểm soát muốn sang sinh sống ở miền do bên kia trách nhiệm sẽ được nhà chức trách trong khu vực đó cho phép và giúp đỡ”. Cán bộ Việt Minh công khai huy động dân chúng nằm lăn ra đường ăn vạ đòi chồng con, anh chị em để cản trở những người di cư vào Nam, kêu gọi lòng yêu quê cha đất tổ cũng như tình cảm quyến luyến giữa kẻ ở người đi hòng lung lạc tinh thần của những người dân hiền lành, chất phác muốn thoát vòng kiềm chế của Cộng Sản nhưng chân bước đi mặt còn ngoảnh lại. Không những thế, cả một đội thợ chữ lành nghề, dưới cái gậy chỉ huy của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, đã thi nhau viết phóng sự bịa đặt những cảnh khổ sở của các trại tạm trú chuẩn bị di cư vào Nam, và vẽ ra một tương lai đầy bất trắc để làm nản lòng những người muốn lánh nạn Cộng Sản. Song song với những biện pháp nổi, còn có bao nhiêu biện pháp chìm như cô lập những gia đình nộp đơn xin di cư, và thủ tiêu những người đề xướng di cư ở các địa phương. Sư vi phạm điều 14(d) đã rõ ràng đến mức mà ngay cả Trưởng đoàn Ấn độ, Chủ tịch Ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến ở Việt Nam vẫn kín đáo thiên vị phe ông Hồ Chí Minh, cũng đành phải lên tiếng trước sự đòi hỏi của Trưởng đoàn Ca-na-đa. Ngày 15 tháng 3, 1955 cả ba Trưởng đoàn Ấn độ, Ba lan và Ca-na-đa đã cùng nhau đến gặp ông Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam. Thay mặt Ủy hội Quốc tế, ông M. J. Desai Trưởng đoàn Ấn độ đặt vấn đề. “Ông ta điểm lại nhửng mối quan hệ giữa Ủy hội quốc tế với các viên chức chính phủ và phái đoàn liên lạc của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và cuối cùng sau phần mở đầu khá dài đã chỉ ra rằng lúc này Ủy hội rất quan ngại về vấn đề tự do đi lại của những người ở miền Bắc muốn vào miền Nam. Ông ta nhắc lại rằng lúc đầu đã có sự tự do hoàn toàn nhưng sau này đã có những sự hạn chế và kể từ tháng 1 năm nay trở đi thì quả thực rõ ràng là có những nỗ lực hẳn hoi của các nhà chức trách địa phương ở một số khu vực nhằm không những ngăn cản dân chúng vào Nam mà còn thuyết phục họ đừng đi sau khi họ đã bầy tỏ ý định.” (1) Trước sự cương quyết của Ủy hội Quốc tế, ông Võ Nguyên Giáp lần khân trả lời ông ta sẽ tham khảo ý kiến Bộ Nội Vụ và Công An.

Việc Hà nội vi phạm điều 14(d) của Hiệp định Giơ-Neo không những có thực mà còn nghiêm trọng nữa. Ông Lester Pearson, Bộ trưởng Ngoại giao thuộc Hội đồng Bắc Đại tây dương vào giữa tháng 5, 1955 đã công khai xác nhận: “Từ đầu đã có bằng chứng cho thấy rằng chế độ Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc đã trốn tránh nghĩa vụ, đặc biệt là đối với vấn đề tự do đi lại của thường dân… Mặc dù hệ thống kiểm tra có những sự hạn chế của nó, Ủy hội vẫn có thể xác lập sự kiện này vào nhiều dịp. Ủy hội đã có những cố gắng liên tục nhằm thuyết phục nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng nghĩa vụ của họ đối với vấn đề tự do đi lại, và mặc dù Ủy hội chưa bao giờ gặp phải sự từ khước thẳng thừng nhưng không hề có bằng chứng nào cho thấy nước [Việt Nam] Dân Chủ Cộng Hòa đã đáp ứng thỏa đáng những khuyến cáo của Ủy hội… Phần lớn trong số mấy trăm ngàn người di cư đã có thể tới được chu vi Hải Phòng để rồi từ đó vào Nam đã làm được như vậy không có sự giúp đỡ và thường là bất kể sự cản trở của các nhà chức trách Bắc Việt Nam. (2)

Hai nhận xét kể trên mới chỉ nói lên được một phần sự thật. Người Việt Nam trong cuộc nếm mùi đe dọa, o ép, và trong một số trường hợp, đã bị điêu đứng, mất mạng khi hé răng muốn đi Nam thấy rõ hơn nhiều. Tiếc thay một số người cầm bút trên thế giới cứ nhất mực chủ trương chỉ có chính quyền Sàigòn vi phạm Hiệp định Giơ-Neo mà thôi. Ý kiến của họ dù bị thúc đẩy bởi bất cứ lý do nào đi nữa, đã bị chính những người mà họ nhắm mắt bênh vực bác bỏ một cách không hề áy náy lương tâm: “Cán bộ và chiến sĩ kiên trì bám sát nhân dân, chịu đựng gian khổ hy sinh, phát động quần chúng đấu tranh ngăn chặn âm mưu di cư của địch, giải tán các trại tập trung. Nhờ vậy hàng triệu người đã không mắc mưu địch và yên tâm ở lại.” (3)

Sở dĩ chính quyền Hà Nội vi phạm điều 14(d) vì ông Hồ Chí Minh và phe ông ta không muốn những phần tử chống đối tuột khỏi tầm tay của mình; hơn nữa họ muốn có nhiều phiếu trong cuộc tổng tuyển cử dự trù nhằm thống nhất hai miền nam bắc Việt Nam; và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, họ muốn chứng tỏ cho thế giới thấy rằng nhân dân hoan nghênh họ nắm chính quyền ở miền Bắc.

Nếu ở miền Bắc Việt Nam chính quyền Hà Nội cản trở dân chúng di cư thì ở miền Nam Việt Nam Cộng Sản lại áp dụng một đối sách khác. Trước tiên, họ bố trí người của họ ở lại miền Nam gọi là “Cán bộ nằm vùng” để trường kỳ mai phục chờ cơ hội thuận tiện sẽ đánh tiếp với sự dàn dựng cực kỳ tinh vi ngõ hầu khỏi mang tiếng vi phạm Hiệp định Giơ-Neo đồng thời tranh thủ dư luận thế giới thường là “cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại”. Chính họ đã xác nhận: “Chấp hành nghị quyết lần thứ sáu của Ban Chấp Hành Trung Ương, và các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính Trị, từ tháng 7, 1954 đến tháng 5, 1955, các cấp đảng bộ ở miền Nam đã tổ chức học tập, phổ biến các nghị quyết của Trung Ương, Bộ Chính Trị và lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đồng thời lãnh đạo việc chuyển quân tập kết, chuyển hướng tổ chức Đảng và những tổ chức quần chúng trung kiên, thực hiện chuyển đổi vùng hoạt động cho cán bộ, bố trí cán bộ ở lại lãnh đạo phong trào, giữ lại và cất dấu vũ khí khi cần, chuyển toàn bộ sự hoạt động và lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới theo phương châm kết hợp công tác bí mật với công tác công khai hợp pháp và tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chống địch.” (4)

Đi đôi với việc gài người, phe ông Hồ Chí Minh đã tiến hành gây nhân trong dân chúng miền Nam để phục vụ mục tiêu chiến lược dài hạn của họ bằng “chiến dịch gieo giống”, một diệu kế vượt ra ngoài mọi quy định của Hiệp định Giơ- ne và cũng vượt ra ngoài cả sự hiểu biết của những người chữ nghĩa đầy mình trên thế giới. Tại những vùng mà theo Hiệp định Giơ-Neo sẽ được trao lại cho chính quyền Sàigòn quản lý, nhất là ở Liên Khu 5 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, những thanh niên trước khi tập kết ra Bắc đã được lệnh cưới vợ gấp rút, hoặc đính hôn vội vã, hoặc tranh thủ ăn nằm với những cô gái mà họ đã theo đuổi để rồi chàng ra đi, nàng ở lại ngong ngóng tháng đợi năm chờ mong sao người chồng, người tình sớm trở lại, và dưới sự thúc đẩy của cán bộ nằm vùng, sẵn sàng nhắm mắt làm theo “lời Bác dậy” cho trọn tình riêng, vẹn nghĩa chung. Những chàng trai ra Bắc thì do sợi dây tình cảm và mối liên hệ xác thịt đã có, cũng ngày đêm đăm đăm nhìn về phương nam mơ tưởng người vợ, người tình, người con, hăm hở chờ hiệu lệnh của Đảng là vượt Trường Sơn “giải phóng” miền Nam đồng thời giải phóng luôn tình cảm của mình nữa.

Vẫn chưa hết, phe ông Hồ Chí Minh còn khéo léo vận động những người có học ở miền Nam nhưng lại khờ khạo về chính trị thành lập những tổ chức bề ngoài vô hại song thực chất là phục vụ không công cho Cộng Sản. Điển hình nhất là

“Phong trào hòa bình ” ở Sàigòn gồm nhiều nhà trí thức trong đó đáng kể nhất là luật sư Nguyễn Hữu Thọ, giáo sư Phạm Huy Thông, luật sư Trịnh Đình Thảo. Những việc làm của ba người này trong thập niên 60 đã xác minh chiến lược giấu mặt trá hình hữu hiệu của Cộng Sản: “Dưới ánh sáng, đường lối, chủ trương của Đảng, những người trí thức tiến bộ đã đứng ra thành lập phong trào bảo vệ hòa bình ở Sàigòn – Chợ Lớn. Phong trào này đã có ảnh hưởng nhất định trong một số tầng lớp nhân dân ở các thành thị miền Nam, làm cho đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm phải lúng túng đối phó.” (5)

1-2. Chính quyền Sàigòn đáp lễ

Để đối phó với thủ đoạn tinh vi của chính quyền Hà nội nhằm giành lợi thế cho họ ngay sau khi có Hiệp định Giơ-Neo, chính quyền Sàigòn đã tiến hành một chiến dịch chiến tranh tâm lý nhằm vào cả dân chúng sắp nằm dưới quyền kiểm soát Hà nội lẫn bộ đội Việt Minh từ miền Nam tập kết ra Bắc. Đã có những truyền đơn thác lời của Việt Minh chỉ thị cho dân chúng phải hành động như thế nào để giúp cho họ dễ dàng trong việc tiếp thu Hà nội vào tháng 10, 1954. Những quy định giả tưởng ghi trong truyền đơn liên quan đến việc cải cách tiền tệ và sở hữu tài sản đã có tác dụng mạnh mẽ thúc đẩy những người nửa muốn đi nửa muốn ở phải dứt khoát tư tưởng. Chỉ một ngày sau khi truyền đơn tung ra là tiền tệ mất giá đi một nửa và số người ghi tên di cư tăng lên gấp ba. Rồi những tin đồn “Chúa đã vào Nam” và “Đức Mẹ đã rời miền Bắc” cũng được loan truyền để cổ động giáo dân di cư. Đối với bộ đội Việt Minh ở miền Nam chờ tầu Ba Lan đến đón ra Bắc, chính quyền Sàigòn cũng đã đánh một đòn cân não khá hiểm độc. Truyền đơn, trong trường hợp này, đã thác lời Ủy ban Kháng Chiến Nam bộ trấn an bộ đội Việt Minh là họ sẽ được nằm ở dưới boong tầu để khỏi bị làm mồi cho những cuộc tiến công bằng máy bay và tầu ngầm của đế quốc, và khuyến cáo họ mang theo quần áo ấm đi đôi với lời rỉ tai rằng bộ đội tập kết ra Bắc sẽ được đưa sang làm đường xe lửa ở Trung Quốc.

Đi xa hơn nữa, chính quyền Sàigòn đã vi phạm điều 15(d) của Hiệp định Giơ-Neo quy định: “Hai bên không cho phép hủy diệt hoặc phá hoại bất kỳ tài sản công cộng nào cũng như làm tổn thương đến sinh mạng và tài sản của thường dân. Hai bên không cho phép gây khó khăn cho nền hành chính dân sự ở địa phương.” Cuối tháng 9, 1954 trong những ngày cuối cùng trước khi bộ đội Việt Minh vào tiếp thu Hà nội, một bộ phận phá hoại của Sàigòn đã làm ô nhiễm dầu của một hãng xe đò để hủy dần những đầu máy xe. Và khi hay tin một nhà in lớn nhất ở miền Bắc dự định ở lại Hà nội, một toán phá hoại khác đã tìm cách gây hư hại cho những máy in tối tân nhưng không thành công vì nhân viên an ninh của Việt Minh đã có mặt ở nhà máy.

Ngoài ra, phe ông Ngô Đình Diệm còn có những hành động không tôn trọng Hiệp định Giơ-Neo khác nữa, nổi bật nhất là khoảng tháng 5, 1955 Chính quyền Sàigòn đã tổ chức “Chiến dịch tố Cộng” nhằm vạch mặt chỉ tên những cán bộ nằm vùng của Việt Minh bất kể điều 14(c ) của Hiệp định Giơ-Neo đã quy định: “Mỗi bên cam kết không trả thù hoặc kỳ thị những cá nhân hoặc những tổ chức vì những hoạt động của họ trong lúc có chiến sự và bảo đảm những quyền tự do dân chủ.”

Tóm lại, hai Chính quyền ở hai miền Nam Bắc Việt Nam đều đã theo đuổi những mục đích phi hòa bình, do đó đã tiến hành những hoạt động chỉ có thể biện minh được trên cơ sở tồn vong của chính mình trong tương lai.

1-3. Ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến bị Ba Lan và Ấn Độ lũng đoạn

Tuy nhiên, sự đối kháng giữa hai phe Cộng Sản và không Cộng Sản không chỉ giới hạn trong phạm vi người Việt Nam; nó cũng đã thể hiện ngay trong nội bộ Ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến.

Ba Lan ra mặt ủng hộ chính quyền Hànội. Ông Sherwood Lett, Trưởng đoàn Ca-na-đa trong Ủy Hội Quốc Tế, trong một văn thư gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao nước mình đã nhận xét:

“Sau một tháng làm việc kết hợp chặt chẽ hàng ngày với Đại sứ Ba Lan và thuộc cấp của ông, tôi tin rằng bất kể thái độ và chỉ thị của ông ta ra sao trong những ngày đầu công tác của Ủy hội, dứt khoát là ông ta đang chơi cái trò của Cộng Sản như thọc gậy bánh xe, thoái thác, lảng tránh, lập lờ nước đôi, vin vào cơ sở pháp lý và kỹ thuật để phản đối, cũng như dùng bất kỳ chiến thuật nào mà ông ta có thể làm được để trợ lực cho các nhà chức trách Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hầu thi hành Hiệp định Giơ-Neo hoàn toàn có lợi cho họ…” (6) Thái độ thiên vị không giấu diếm của phái đoàn Ba Lan đã được Ngoại trưởng Ca-na-đa Lester Pearson xác nhận: “Rõ ràng là ở mọi cấp, tại Ủy hội cũng như tại các tổ kiểm tra, người Ba Lan cau kết với Cộng Sản địa phương.” (7)

Về phần phái đoàn Ca-na-đa, họ đã được chỉ thị phải đối xử công bằng với các chính quyền ở Nam, Bắc Việt Nam song thượng cấp của họ không quên nhắc nhở rằng nên bầy tỏ mối thiện cảm và tình thân hữu đối với chế độ không Cộng Sản. Bất kể như thế nào, trong nhiều trường hợp, Trưởng đoàn Ca- na-đa không phải không bầy tỏ ý kiến độc lập của mình. Chẳng hạn đối với việc phái đoàn Ba Lan tố cáo chính quyền Sàigòn vi phạm điều 14(c) của Hiệp định Giơ-Neo, Trưởng đoàn Ca-na-đa đã phúc trình về Ottawa như sau: “Những cuộc điều tra ở miền Nam từng được tiến hành bởi các tổ lưu động đã đưa ra một hình ảnh xấu xa về những vụ đánh đập, ngược đãi, sát hại các người Kháng Chiến cũ. Những sự kiện này nằm trong hồ sơ của Ủy hội. Ngay cả bây giờ nữa, những điều kiện trong một số khu vực ở miền nam Việt Nam không thỏa đáng đến độ an ninh của các tổ không được bảo đảm bởi các nhà chức trách Pháp và Nam Việt Nam, và những cuộc điều tra của Ủy hội chỉ được tiến hành trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn…” (8) Tuy nhiên, nói chung Ca-na-đa vẫn được coi là đại diện cho phe không Cộng Sản trong Ủy hội. Ba Lan và Ca-na-đa ở hai đầu. Người ta hy vọng Ấn Độ cầm cân nẩy mực. Tiếc thay, Ấn Độ lại không giữ đúng vị trí của họ như người ta trông đợi. Trưởng đoàn Ca-na-đa cho rằng ông M. J. Desai, Trưởng đoàn Ấn Độ và là Chủ Tịch Ủy Hội đã phạm ba lỗi lầm mà lỗi thứ nhất là “Ông ta khăng khăng từ chối không chịu trách cứ chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (điều mà tôi cho là một việc làm thích đáng) về việc không thi hành thỏa đáng điều 14(d) ở miền Bắc.” (8) Có lẽ nên để ý đến một nhận xét khác tiêu biểu cho thái độ của Ấn Độ đối với việc kiểm soát đình chiến trên toàn cõi Đông Dương. Ông Rudolph Duder, Trưởng đoàn Ca-na-đa ở Cao Miên đã nói về người đối nhiệm Ấn Độ của mình ở đó như sau: “Ông ta dường như đang nói rằng “Tôi đồng ý với Trưởng đoàn Ca-na-đa; tôi đồng ý với Quyền trưởng đoàn Ba Lan; nhưng tôi đồng ý với Ba Lan nhiều hơn.” (9) Đại biểu của Ấn Độ trong Ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến ở Đông Dương là một thứ nghị gật nhưng gật theo sách bởi vì Ấn Độ là một trong những thành viên xướng xuất phong trào không liên kết họp hội nghị đầu tiên ở Bandung, In-đô-nê-xi-a vào tháng 4, 1955, mà phong trào không liên kết trên thực tế lại mang nặng tinh thần chống phương tây.

Chính do sự thiên vị của Ủy hội quốc tế có lợi cho Hà nội mà vào dịp kỷ niệm ngày chia đôi đất nước 20 tháng 7, 1955 được phe quốc gia Việt Nam gọi là “Ngày Quốc Hận”, sinh viên, học sinh chủ yếu là di cư đã xông vào khách sạn Majestic ở Sàigòn lùng đánh Văn Tiến Dũng, Trưởng phái bộ liên lạc quân sự của chính quyền Hà nội, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo các thành viên Ba Lan và Ấn Độ.

Hiệp định Giơ-Neo đã tạm thời dập được đám cháy ở Đông Dương nhưng đống tro vẫn không tàn, chỉ cần một chút gió là lửa lại bùng lên và người khơi lại lò lửa đó không ai khác hơn là Cộng Sản Việt Nam. Người Cộng Sản Việt Nam chỉ ngừng súng khi nào họ đã cắm được lá cờ quyết chiến – quyết thắng của ông Hồ Chí Minh trên khắp xứ Đông Dương. Do đó chính quyền Sàigòn phải cấp tốc xây dựng miền Nam Việt Nam thành một thực thể có khả năng đương đầu hữu hiệu được với chính quyền Hà nội.

(1) Eayrs, James , Đông Dương : Cội rễ của sự câu kết (“Indochina: Roots of complicity”), NXB Cơ sở ấn hành trường Đại học Toronto, Ca-na-đa, 1983, trang 149.

(2) Eayrs, James, sđd, trang 152- 153.

(3) Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Công sản Việt Nam, Tập III, Xưởng in Trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc,Việt Nam,1981, trang 6.

(4) Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Công sản Việt Nam, Tập III, Xưởng in Trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc,Việt Nam,1981,trang 8.

(5) Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Công sản Việt Nam, Tập III, Xưởng in Trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc,Việt Nam,1981, trang 8.

(6) Eayrs, James, sđd, trang 212.

(7) Eayrs, James, sđd, trang 213

(8) Eayrs, James, sđd, trang 198

(9) Eayrs, James, sđd, trang 198

—>Chương 1

This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN ĐỨC MINH: Một Thời Nhiễu Nhương, Việt Sử. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s