MỘT THỜI NHIỄU NHƯƠNG: Phần II

CHƯƠNG 1

MÀN GIÁO ĐẦU CHIẾN TRANH VIỆT NAM
(1945-1946)

1-1. Việt Minh củng cố quyền lực trong khi Pháp chuẩn bị trở lại Đông Dương

Việt Nam đã trở thành một nước độc lập từ ngày 2 tháng 9 năm 1945, và cũng kể từ ngày đó cuộc tranh chấp giữa các đảng phái diễn ra công khai gay gắt. Ngay từ trong thời hoạt động chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, đảng Cộng Sản Đông Dương đã để lộ ý đồ chiếm chiếu nhất trên chính trường Việt Nam chẳng khác gì một dòng họ phong kiến trước kia tấp tểnh nhẩy lên ngôi vua. Hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương họp từ ngày 14 đến 30 tháng 10, 1930 tại Hồng Kông dưới sự chủ tọa của Trần Phú đã đưa ra “Luận Cương Chính Trị”, và theo họ thì “Chính cương sách lược vắn tắt, luận cương chính trị là những vũ khí sắc bén chống những quan điểm xóa nhòa giai cấp, giúp cho giai cấp công nhân Việt Nam chống lại ảnh hưởng tai hại của chủ nghĩa dân tộc cải lương, chủ nghĩa Tờ-rốt-xki và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa dân tộc lớn của giai cấp tiểu tư sản và tư sản .”(1) Nói cách khác, chỉ có chủ nghĩa Mác-xít Lê ni-nít mới là đúng đắn, chỉ có Cộng Sản mới là người yêu nước chân chính, chỉ có Đệ Tam Quốc Tế mới là Cộng Sản chính hiệu. Chính Cộng Sản Việt Nam đã nhìn nhận: “Một trong những vần đề quan trọng hàng đầu trong những năm 1932-1933 là đấu tranh trên mặt trận tư tưởng để bảo vệ chân lý, bảo vệ quan điểm cách mạng của đảng… Trước tiên là đấu tranh với Việt Nam Quốc Dân Đảng trong nhà tù đế quốc…” (2). Đối với Cộng Sản không cùng mác đệ tam như mình thì Hồ Chí Minh đã nói không úp mở: “Không thể có thỏa hiệp nào, nhượng bộ nào. Phải tìm mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.” (3) Những tư tưởng giáo điều, những lời lẽ quyết liệt như vậy đã có từ những năm 30 rồi nên không ngạc nhiên gì khi nắm được chính quyền là Cộng Sản Việt Nam giở trò độc diễn. Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gồm toàn những người Cộng Sản và thân Cộng Sản:

  • Hồ Chí Minh là Chủ tịch Kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao,
  • Võ Nguyên Giáp nắm bộ Nội Vụ,
  • Chu Văn Tấn giữ bộ Quốc Phòng,
  • Trần Huy Liệu đứng đầu bộ Tuyên Truyền,
  • Phạm Văn Đồng phụ trách bộ Tài Chính,
  • Lê Văn Hiến quản lý bộ Lao Động.

Các bộ còn lại không quan trọng giao cho những người thuộc Mặt Trận Việt Minh tức là những người nhiều hay ít đều đã phục tùng Cộng Sản.

  • Kinh tế: Vũ Đình Hòe,
  • Tư pháp: Vũ Trọng Khánh,
  • Y tế vệ sinh: Phạm Ngọc Thạch,
  • Xã hội: Nguyễn Văn Tố.
  • Bộ trưởng không bộ nào: Cù Huy Cận, Nguyễn Văn Xuân.

Chính phủ Hồ Chí Minh cấp tốc thành lập các Ủy ban hành chính thành phố, tỉnh, huyện, xã đồng thời đoàn ngũ hóa mọi tầng lớp xã hội như thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nhi đồng, tự vệ… Đối với Pháp chính phủ này đã tuyên bố Việt Nam không còn phụ thuộc Pháp, hủy mọi hiệp ước đã ký giữa Pháp và Việt Nam, và bỏ mọi độc quyền của Pháp. Chỉ trong vòng hơn một tháng ông Hồ Chí Minh và phe nhóm của ông đã khống chế mọi nơi, chi phối mọi lãnh vực thông qua mặt trận
Việt Minh. Tuy nhiên họ phải đương đầu với một thực tế chính trị mới do sự có mặt của quân đội Đồng Minh ở Đông Dương và sự chống đối của các đảng phái cách mạng không Cộng Sản Việt Nam gây ra.

Chiếu theo quyết định của hội nghị các nước Đồng Minh Mỹ, Nga, Anh, Trung Hoa tháng 7 năm 1945 ở Postdam quân đội Trung Hoa và quân đội Anh sẽ đến giải giới quân đội Nhật ở Đông Dương, lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới. Quân đội Anh phụ trách miền Nam Đông Dương còn quân đội Trung Hoa phụ trách miền Bắc Đông Dương. Tình hình này trở nên phức tạp vì người Pháp muốn trở lại cai trị Đông Dương sau khi Nhật Bản bại trận. Đầu năm 1944 người đứng đầu Pháp quốc tự do là tướng De Gaulle đã cho triệu tập một hội nghị gồm các nhà cai trị và Toàn quyền Pháp ở hải ngoại tại Brazzaville, Congo để bàn về chính sách mới đối với thuộc địa sau Thế Chiến II. Hội nghị đã quyết định cho phép các thuộc địa mưu tìm “bản sắc riêng của họ” (4) và bàn đến ý niệm Liên Hiệp Pháp. Chính sách bình mới rượu cũ này nhằm tranh thủ dư luận Mỹ ủng hộ Pháp trở lại Đông Dương vẫn không lung lạc được tinh thần phóng khoáng của Tổng Thống Mỹ Roosevelt. Ông Winston Churchill, Thủ tướng nước Anh hồi đó, đã viết: “Trước khi chúng ta có thể chính thức đưa Pháp vào khu vực Đông Dương chúng ta phải giải quyết với Tổng thống Roosevelt. Tổng thống đã thẳng thắn với tôi về vấn đề ấy hơn là về bất cứ vấn đề nào khác, và tôi nghĩ rằng một trong những mục tiêu chủ yếu của Tổng thống là giải phóng Đông Dương khỏi tay Pháp.” (5)

Thật ra chính sách của Hoa Kỳ về vấn đề Đông Dương không nhất quán. Nó đã thay đổi qua nhiều giai đoạn và lệ thuộc vào tình hình ở mỗi thời điểm. Hơn nữa nó còn tùy ở cấp thừa hành của Mỹ tại “Chiến Trường Trung Quốc.”

Tháng 4 năm 1941 quyền Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ là Sumner Welles tuyên bố rằng Hoa Kỳ “công nhận quyền hành không giới hạn của nhân dân Pháp… đối với các thuộc địa của Pháp ở hải ngoại,” (6) trong khi đó Tổng Thống Roosevelt nuôi ý định không cho Pháp trở lại Đông Dương. Tháng 8 năm 1943 Mỹ và Anh thỏa thuận lập “Bộ Tư Lệnh Đông Nam Á” nhưng Hoa Kỳ thận trọng không muốn dính dáng đến việc các nước Đồng Minh Anh, Pháp muốn chiếm lại thuộc địa cũ của họ. Khi “Pháp Quốc Tự Do” đặt một phái bộ quân sự ở “Bộ Tư Lệnh Đông Nam Á” để lập kế hoạch “giải phóng” Đông Dương thì Tổng Thống Roosevelt đã chỉ thị cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ báo cho “các bạn người Anh của chúng ta biết rằng ông Churchill và tôi không chính thức công nhận sự hiện diện của Pháp ở Bộ Tư Lệnh của Mountbatten” (7). Tổng thống Roosevelt cũng chống đối bất cứ kế hoạch nào sử dụng quân đội Pháp vào việc giải phóng Đông Dương, không chấp thuận cung cấp tàu bè cho Pháp chuyên chở một đạo quân viễn chinh đến Đông Nam Á, và không cho phép tiến hành các hoạt động tình báo cấp thấp cũng như biệt kích ở Đông Dương nếu có sự tham dự của Pháp. Tuy nhiên, từ năm 1943 trở đi, do nhu cầu tình báo chiến thuật các cấp chỉ huy Mỹ ở chiến trường Trung Quốc đã thường vi phạm chỉ thị không được làm gì có liên quan đến Đông Dương của Tổng Thống Roosevelt chỉ vì người Pháp tại Đông Nam Á ở vào tư thế có thể giúp cung cấp tin tức về hoạt động của Nhật ở Đông Dương và cứu các phi công Đồng Minh bị bắn rơi ở khu vực đó.

Cuộc đảo chính Pháp của Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945 đã đưa tới những chuyển biến trong quan hệ giữa Hoa Kỳ với Pháp ở Đông Dương. Khoảng nửa đêm 9 tháng 3 cứ điểm Lạng Sơn của Pháp gửi một bức điện sang Bộ tư lệnh chiến trường Trung Quốc báo cáo đang bị quân Nhật tấn công dữ dội và xin máy bay Mỹ đến bắn phá những mục tiêu chỉ định trong khu vực. Tướng Chennault, Tư Lệnh Không Lực 14 của Hoa Kỳ, được phép hợp tác với Pháp nhưng sự cho phép đó “hoàn toàn nằm trong khuôn khổ tình hình khẩn cấp hiện nay”(8).

Vào ngày 11 tháng 3 nhân vụ có khoảng hơn một ngàn binh lính thuộc địa Việt Nam vừa đánh vừa lui dần sang biên giới Trung Quốc, sở Chiến lược vụ OSS của Hoa Kỳ xin phép tổ chức họ thành một lực lượng du kích nhằm duy trì một nguồn tin tình báo hữu hiệu. Khi OSS đề nghị thả dù vũ khí, trang bị và các toán huấn luyện du kích xuống nội địa Việt Nam thì giới chức Mỹ ở chiến trường Trung Quốc yêu cầu Oa- sinh-tơn ra một chỉ thị dứt khoát về việc yểm trợ cho Pháp ở Đông Dương. Tổng Thống Roosevelt không đưa ra một lời tuyên bố công khai nào nhưng đã chấp thuận cho tiếp tục yểm trợ. Như vậy là kể từ tháng 3, 1945 lực lượng Hoa Kỳ ở “Chiến Trường Trung Quốc” đã dính líu tích cực hơn và trực tiếp hơn vào Đông Dương. Tuy vậy chính sách quốc gia của Hoa Kỳ đối với Đông Dương, đặc biệt là có liên quan đến số phận của khu vực này sau khi hết chiến tranh, lại vẫn bất định.

Tổng thống Roosevelt từ trần ngày 12 tháng 4, 1945. Sau khi ông qua đời, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã thông qua một chính sách đề nghị Hoa Kỳ không chống đối sự phục hồi chủ quyền của Pháp ở Đông Dương nhưng yêu cầu Pháp phải bảo đảm cho người bản xứ được tự trị. Vài tháng sau Hoa Kỳ còn rời xa lập trường của Tổng thống Roosevelt hơn nữa. Tại hội nghị San Francisco được triệu tập ngày 26 tháng 4, 1945 nhằm thảo luận về cơ cấu hậu chiến của Liên Hiệp Quốc, phái đoàn Hoa Kỳ đã không nêu vấn đề ủy trị đối với Đông Dương. Trong khi đó Ủy ban phối hợp giữa bộ Ngoại Giao, bộ Chiến Tranh, và bộ Hải Quân đã thỏa thuận về một chính sách đối với Đông Dương, và báo cáo này đã được trình lên Tổng Thống Harry S. Truman ngày 2 tháng 6, 1945. Báo cáo thừa nhận rằng “tinh thần độc lập trong khu vực ngày càng mạnh mẽ” (9) nhưng lại viết: “Hoa Kỳ công nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương.” (10) Hai tuần lễ sau ngày họp hội nghị thành lập Liên hiệp quốc ở San Francisco, Georges Bidault, Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp trong Nội Các De Gaulle đã than phiền về sự vu cáo đối với đế quốc của Pháp và đã lên giọng thách thức: “Pháp sẽ chính là nước ủy trị đối với đế quốc của mình” (11). Anh và Pháp đã về hùa với nhau để cứu vãn thuộc địa của họ trong khi Hoa Kỳ lại không còn là kỳ đà cản mũi nữa nên việc Pháp trở lại Đông Dương chỉ còn là vấn đề thời gian. Về phía Việt Nam thì kể từ ngày cướp được chính quyền 19 tháng 8, 1945 ông Hồ Chí Minh và chính phủ lâm thời do ông đứng đầu đã dốc sức củng cố chính quyền non trẻ của mình, giải quyết nạn đói ở một quy mô chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, đồng thời tìm mọi cách loại trừ các đảng phái không Cộng Sản.

1-2. Tình hình Việt Nam ở Nam vĩ tuyến 16:

Quân đội Anh đến giải giới quân đội Nhật, và Pháp núp bóng quân Anh trở lại Đông Dương

Ở Nam bộ (12) Việt Minh không mạnh như ở Bắc Bộ.

Trước khi quân Anh đến Sàigòn, vào ngày 14 tháng 8, 1945 các tổ chức chính trị Không Cộng Sản như đảng Phục Quốc, đảng Độc Lập, Cao Đài, Hòa Hảo đã cùng với nhóm Đệ Tứ, Thanh Niên Tiền Phong v.v… hợp thành “Mặt Trận Liên Hiệp Quốc Gia” nhằm mục đích giao thiệp với Nhật và trực tiếp nhận vũ khí từ tay Nhật. Trong tình hình đó Việt Minh đã dùng mưu mẹo chuyển yếu thành mạnh. Họ thuyết phục các đảng phái, các tổ chức dành quyền lãnh đạo cho họ bởi vì “Nếu những đảng phái thân Nhật đứng ra tiếp thu khí giới, Đồng Minh sẽ viện cớ là đã hợp tác với Nhật từ trước, chính quyền vì thế khó lòng đạt được, tốt hơn hết Đồng Minh đã biết Mặt Trận Việt Minh là phong trào duy nhất kháng Nhật, nên để Việt Minh tiếp nhận những vũ khí đó” (13). Các đảng phái đã nghe theo nên Việt Minh nghiễm nhiên đứng đầu chính quyền Cách Mạng. Ủy ban hành chính Nam bộ đã được đặt dưới quyền của một cán bộ Cộng Sản cao cấp là Trần Văn Giầu mặc dù trong số 13 Ủy viên chỉ có 4 là Cộng Sản mang danh Việt Minh. Cờ đỏ sao vàng cũng rực trời như ở Hà Nội. Việt Minh cấp tốc thành lập các Ủy ban hành chính ở các địa phương và các sư đoàn dân quân…

Ngày 2 tháng 9, 1945 một phái đoàn Anh đến Sàigòn. Hôm ấy cũng chính là ngày Ủy ban hành chính Nam bộ tổ chức lễ độc lập có hàng trăm ngàn người tham dự. Sau khi một đại biểu của Ủy Ban đọc tuyên ngôn thì có tiếng súng nổ từ một hãng ô-tô của người Pháp ở gần đó. Dân chúng dự mít tinh nhốn nháo, và khi có tiếng hô lớn “Pháp bắn, Pháp bắn” là người ta xông vào hãng ô-tô đập phá. Tại các ngã đường thanh niên có vũ khí đã bắt từng xâu người Pháp đem giam lại. Một bầu không khí hằn học đã bao trùm thành phố và Sàigòn đã lộn xộn cho đến ngày 12 tháng 9 khi đợt quân Anh đầu tiên thuộc quyền Trung Tướng Douglas Gracey đến đó.

Tướng Gracey đã có những nhận xét và hành động cho thấy ông ta công khai tán thành việc người Pháp trở lại Đông Dương. Trước khi rời Ấn Độ sang Việt Nam, ông ta tuyên bố:

“Vấn đề chính quyền ở Đông Dương là một vấn đề hoàn toàn của người Pháp. Việc người Pháp kiểm soát về mặt dân sự và quân sự sẽ diễn ra nội trong vòng vài tuần lễ” (14).

Sau vài ngày đặt chân đến Sàigòn Gracey cấm báo chí Việt Nam xuất bản, ban hành lệnh thiết quân luật, đặt lực lượng Cảnh Sát Việt Nam thuộc quyền ông ta trong khi đó lại tìm mọi cách giúp Pháp kiểm soát Sàigòn. Ngày 22 tháng 9 Gracey võ trang cho 1.400 lính Pháp đã bị Nhật giam từ khi có cuộc đảo chính 9 tháng 3. Lính Pháp bắt đầu tác quái. Họ chiếm các đồn Cảnh Sát, các công sở và bắt giữ bừa bãi nhiều người. Kiều dân Pháp cũng lộng hành, đánh đập người Việt Nam.

Tình hình mỗi ngày một căng thẳng. Dân chúng Việt Nam phản ứng lại. Các đám đông xông vào những khu có người Pháp ở đánh phá. Ngày 23 tháng 9 quân Pháp chiếm đóng Sở Cảnh Sát trung ương, Kho bạc, Sở Mật Thám, Tòa Đốc Lý. Để trả đũa, Ủy Ban Hành Chính Nam Bộ ra lệnh Tổng Đình Công vào ngày 24 tháng 9. Trần Văn Giầu tuyên bố: “Sàigòn sẽ thành tro bụi” (15). Thành phố bị tê liệt. Súng đã nổ. Nghiêm trọng nhất là rạng sáng ngày 25 tháng 9 có một toán người đã đột nhập khu cư xá Hérault tàn sát khoảng 150 người vừa Pháp vừa Tây lai. Lòng căm thù của người Việt Nam đối với thực dân Pháp đã lên đến cực điểm. Trong tình hình cực kỳ lộn xộn đó tướng Gracey đã phải sử dụng cả lính Nhật vào việc vãn hồi trật tự, và quân Nhật bắt đầu xả súng vào những người Việt Nam có vũ khí.

Ngày 5 tháng 10, 1945 tướng Jacques Philippe Leclerc, người vừa được De Gaulle chỉ định làm Tổng Tư Lệnh quân đội Viễn Chinh Pháp ở Đông Dương, và một đơn vị Pháp đến Sàigòn. Tiếp đến vào ngày 9 tháng 10 Đại Sứ Pháp René Massigli và Bộ Trưởng Ngoại Giao Anh Ernest Bevin ký một thỏa thuận nói rằng “Chính quyền duy nhất được phép ở phía Nam Vĩ Tuyến 16 là chính quyền của Pháp” (16). Sau đó Pháp liên tục đưa thêm quân đến Sàigòn.

Các đơn vị bán vũ trang của Việt Nam phân tán mỏng thành những đơn vị nhỏ, và chiến tranh du kích bắt đầu. “Từ trong dân chúng những anh hùng dân tộc xuất hiện, nào ôm bom liều mình, vào xung phong gài mìn, nào cảm tử thông tin liên lạc, chết tan xác dưới làn mưa đạn, nào tẩm ét xăng vào mình làm đuốc sống đốt kho” (17).

Tuy nhiên, lực lượng của mọi đảng phái và đoàn thể hợp lại cũng không đương cự nổi với quân Anh, quân Nhật, và quân Pháp sát cánh nhau khi chiến sự bùng nổ trở lại vào ngày 11 tháng 10. Sau hai tuần lễ giao tranh Pháp làm chủ hoàn toàn thành phố Sàigòn. Rồi các binh đoàn thiết giáp của Pháp bắt đầu rong ruổi trên mọi nẻo đường ở Nam bộ, và đánh lên cả Ban Mê Thuột, thủ phủ của Cao Nguyên Trung bộ. Các tỉnh lỵ và thị trấn nằm trên đường tiến quân của Pháp lần lượt bị mất.

Vào tháng 2 năm 1946 tướng Leclerc đã có trong tay 35.000 quân. Quân đội Viễn Chinh Pháp hầu như không gặp khó khăn đáng kể nào trong việc chiếm đất nhưng giữ đất thì lại là một việc khác. Philippe Devillers, một sĩ quan trong bộ Tham Mưu của tướng Leclerc sau này trở thành một nhà sử học đã viết: “Nếu chúng tôi yên trí rút khỏi một vùng nào đó đã được bình định thì họ sẽ trở lại ngay lập tức và khủng bố lại bắt đầu. ” (18)

Về phía Mỹ, sự hiện diện của họ ở Nam Vĩ tuyến 16 rất hạn chế, chỉ có một toán OSS gọi là “Biệt Đội 404” làm nhiệm vụ phát hiện và giúp đỡ những tù binh Đồng Minh, đặc biệt là tù binh Mỹ, lùng bắt những tội phạm Chiến Tranh Nhật Bản, và theo dõi tình hình chính trị trong khu vực. Ngày 1 tháng 9, 1945 một bộ phận đầu tiên của toán OSS mang mật danh “Toán Đắp Đê” dưới quyền chỉ huy của Trung Úy Emil R. Connassee đã nhẩy dù xuống Sàigòn. Họ đã được quân đội Nhật đón tiếp tử tế. Hai ngày sau thành phần còn lại của “Toán Đắp Đê” do Thiếu tá Peter Dewey chỉ huy cũng đã đến Sàigòn. Dewey ráng sức bảo vệ Pháp kiều đồng thời cũng tiếp xúc vơi những người lãnh đạo của phong trào độc lập. Khi quân Anh đến thì họ cản trở không cho viên sĩ quan này tiếp xúc với người Việt Nam nữa. Tướng Gracey cho rằng Thiếu Tá Dewey đang đi ra ngoài hệ thống chỉ huy thông thường và nghĩ rằng “hành động của ông ta sẽ được người Việt Nam coi là bằng chứng Mỹ ủng hộ phong trào độc lập.” (19) Kể từ ngày 14 tháng 9 “Toán Đắp Đê” đã chính thức nhận được lệnh của tướng Gracey phải đình chỉ mọi hoạt động cho đến khi sứ mạng của họ được xác minh. Đến ngày 26 tháng10 Dewey đã bị bắn chết trong một cuộc phục kích của người Việt Nam.

Người kế nhiệm Dewey là Trung Úy James R. Withrow thuộc Hải Quân Hoa Kỳ. Viên sĩ quan này liên lạc cả với phía Pháp lẫn Việt Minh. Tướng Leclerc cho ông ta biết kế hoạch chiếm lại Đông Dương của Pháp và bầy tỏ ý định yêu cầu Hoa Kỳ giúp vũ khí để bình định xứ này. Khi Withrow chuyển tin tức ấy về các bộ Ngoại giao và bộ Chiến tranh của Hoa Kỳ thì ông ta được cảnh giác rằng không được xen vào việc của Pháp.

Chiến tranh giữa Pháp và Việt Nam ở Nam vĩ tuyến 16 ngày một lan rộng. Việt Minh đã lợi dụng tinh thần dân tộc như triều dâng sóng đổ của nhân dân để triệt để chống lại người Pháp. Chỗ nào có quân Pháp đặt chân đến là chỗ ấy có chiến tranh. Gậy tầm vông, giáo mác, súng ống thô sơ đã hiên ngang chọi lại với xe tăng, đại bác máy bay của các đơn vị Pháp đã có nhiều kinh nghiệm trong Thế Chiến II. Nhưng chiến tranh chống ngoại xâm bộc phát thì chính là lúc nội chiến giữa những người Cộng Sản và không Cộng Sản cũng đã manh nha. Cộng Sản chủ trương thù trong còn nguy hiểm hơn giặc ngoài. Với đầu óc tính toán lạnh lùng Cộng Sản đã tìm mọi cách độc chiếm và củng cố vai trò lãnh đạo của họ. Yêu nước mà không cùng phe nhóm với họ thì chẳng qua cũng chỉ là phản động đáng cho đi “mò tôm”. Thật là đơn giản mà cũng thật là biện chứng theo giáo điều của chủ nghĩa Mác-xít mà Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đã hết lời xưng tụng. Từ lúc nắm chính quyền ngày 19 tháng 8, 1945 Cộng Sản Việt Nam dưới danh nghĩa Việt Minh đã nhân danh cách mạng thủ tiêu những người mà họ cho là “phản động” như Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch thuộc nhóm Đệ Tứ ở Sàigòn, Phạm Quỳnh trước đó là Thượng Thư Bộ Lại của triều đình Huế, Ngô Đình Khôi nguyên Tổng Đốc Quảng Nam… Họ cũng đã giam cầm nhiều người chỉ có mỗi một tội là không cùng chính kiến với họ trong đó có ông Ngô Đình Diệm, một người đã treo ấn từ quan bất hợp tác với Pháp và vua Bảo Đại. Miền nam của Tổ Quốc mịt mờ khói lửa chống ngoại xâm, và giữa người Việt Nam với nhau cũng đã có biết bao cảnh máu chảy đầu rơi!

1-3. Tình Hình Việt Nam ở Bắc Vĩ tuyến 16:

Quân Đội Trung Hoa sang giải giới Quân Nhật, và sự tranh chấp nổ ra giữa các Đảng phái Quốc Gia với Việt Minh.

Nếu tình hình Nam vĩ tuyến 16 hỗn loạn thì tình hình Bắc vĩ tuyến cũng rối như mở bòng bong. Chính phủ Hồ Chí Minh một mặt phải lo cứu đói, cứu lụt (đê sông Hồng bị vỡ ở Thanh Nga, Thái Bình tháng 8, 1945) một mặt phải đối phó với quân đội Trung Hoa dân quốc sang giải giới quân đội Nhật. Cảnh tượng quân Tàu ốm yếu, phù thũng bầu đoàn thê tử lếch thếch kéo sang nước ta ăn tàn phá hại chẳng khác gì dịch tễ đang thời kỳ bộc phát đã được dân chúng hồi đó ghi lại trong hai câu hát nhái theo bài “Tiến Quân Ca” của Văn Cao:

Đoàn quân Tàu ô đi sao mà ốm thế.
Bước chân phù lang thang trên đường Việt Nam…

Những lính Tàu ấy thuộc 4 quân đoàn gồm khoảng 150.000 người do tướng Lư Hán chỉ huy đã vượt biên giới sang Việt Nam vào ngày 9 tháng 9, 1945 cùng với đoàn cố vấn Hoa Kỳ dưới quyền Thiếu Tướng Gallagher. Vào dịp Hoa quân nhập Việt lực lượng cách mạng của Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (Việt Cách) cũng đã hành quân về Việt Nam. Trên đường hành quân lực lượng Việt Quốc đã chiếm các thị xã Phú Thọ, Việt Trì, Yên Báy, Lào Kay, và tăng cường cho thị xã Vĩnh Yên đã do một bộ phận Việt Quốc ở trong nước đoạt lại từ tay Việt Minh ngày 19 tháng 8. Lực lượng Việt Cách cũng đặt quân ở Móng Cái, Hòn Gay. Những cứ điểm này thực ra chỉ là mấy cánh bèo trên mặt ao, không thể so sánh được với toàn bộ tổ chức dân sự và quân sự của Việt Minh đã được thiết lập đồng loạt từ khi cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 ở bắc vĩ tuyến 16. Khi Việt Quốc và Việt Cách về đến Hà Nội thì mọi việc đã an bài. Chính quyền từ trung ương đến làng xã đã nằm gọn trong tay Việt Minh.

Ở Hà Nội Việt Cách lập trụ sở ở đường Quan Thánh. Cụ Nguyễn Hải Thần tố cáo Việt Minh là Cộng Sản “đang núp dưới chiều bài quốc gia dân tộc, chiếm đoạt chính quyền, và nêu đích danh Hồ Chí Minh là một tên phản bội đã dựa vào thế Đồng Minh Hội để lừa gạt dư luận quốc tế và đồng bào Việt Nam.” (20) Việt Quốc do ông Vũ Hồng Khanh đứng đầu đặt trụ sở ở trường tiểu học Đỗ Hữu Vị, xuất bản các báo “Việt Nam”, “Thiết Thực” vạch trần âm mưu của Cộng Sản Việt Minh độc chiếm quyền hành. Khu Ngũ Xã cũng được Việt Quốc dùng làm nơi tập hợp các cuộc biểu tình chống Việt Minh. Hàng ngày dân chúng thủ đô đã chứng kiến các cuộc đả kích, đôi khi còn dẫn cả đến xô xát, giữa một bên là Việt Minh một bên là các đảng phái quốc gia.

Khác với Tướng Gracey ở nam Vĩ tuyến 16, Tướng Lư Hán tôn trọng và giao dịch với chính quyền Hồ Chí Minh trong khu vực giải giới thuộc quyền ông ta đồng thời vẫn bênh vực Việt Cách, Việt Quốc là những đảng phái quốc gia đối lập với Việt Minh. Trước sự chống đối của các đảng phái quốc gia và trước sức ép của Tướng Lư Hán Việt Minh đã nhượng bộ theo phương châm lui một bước, tiến hai bước. Hồ Chí Minh bằng lòng để cho các đảng phái quốc gia tham gia quốc hội cũng như chính phủ và “giải tán” đảng Cộng Sản Đông Dương.

Sau lễ Tuyên bố độc lập 2 tháng 9, 1945 Chính phủ Hồ Chí Minh đã dự trù tổ chức bầu cử Quốc hội vào ngày 6 tháng 1, 1946 để hợp thức hóa vị trí của Cộng Sản đối với nhân dân trong nước và các chính phủ nước ngoài. Nay họ đề nghị hoặc hoãn ngày bầu cử đến trung tuần tháng 2 để cho phe quốc gia có thì giờ chuẩn bị hoặc nếu không hoãn thì họ sẽ dành 70 ghế cho phe quốc gia giống như họ đã dành một số ghế cho nhân dân Nam bộ trong vùng Pháp tạm chiếm. Đã chậm chân rồi nên phe quốc gia đành phải chấp nhận giải pháp chia ghế vì dù sao thì cũng đỡ tệ hơn. Ai cũng biết rằng cuộc bầu cử này chỉ là một trò hề. Cộng Sản đã khống chế mọi bước trong tiến trình bầu cử. Phương thức bầu cử, danh sách ứng cử viên, và việc tổ chức bầu cử nhất nhất đều đã được định trước rồi. Không phải là người của Mặt Trận Việt Minh giới thiệu thì đứng hòng ra tranh cử chứ nói chi đến trúng cử.

Tất nhiên là những tai to mặt lớn của Cộng Sản đều được bầu vào Quốc Hội. Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Văn Hiến đã trúng cử với số phiếu rất cao. Các đảng viên đảng Dân Chủ (đảng này đã gia nhập Mặt Trận Việt Minh) như Vũ Đình Hòe, Dương Đức Hiền, Đỗ Đức Dục cũng đều trúng cử. Cựu Hoàng Bảo Đại được Việt Minh sắp xếp để ra ứng cử ở Thanh Hóa đã đắc cử. Việt Minh đã dành 70 ghế không phải bầu cho phe đối lập
(Việt Quốc 50 ghế, Việt Cách 20 ghế) trong tổng số 350 ghế của Quốc Hội.

Ngày 24 tháng 1, 1946 Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Liên Hiệp Quốc Gia gồm người của Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách, và một số nhân sĩ không thuộc các đảng vừa kể.

Phía Việt Minh gồm :

Chủ Tịch Chính Phủ: Hồ Chí Minh,

Bộ Trưởng Tài Chính: Lê Văn Hiến,

Bộ Trưởng Thông Tin-

Tuyên Truyền: Trần Huy Liệu,

Bộ Trưởng Lao Động: Nguyễn Văn Tạo,

Chủ Tịch Quân Ủy Hội: Võ Nguyên Giáp.

Phía Việt Quốc gồm

Bộ Trưởng Ngoại Giao: Nguyễn Tường Tam,

Bộ Trưởng Kinh tế: Chu Bá Phượng,

Phó Chủ Tịch Quân Ủy Hội: Vũ Hồng Khanh.

Phía Việt Cách gồm

Phó Chủ Tịch Chính Phủ: Nguyễn Hải Thần,

Bộ Trưởng Phủ Chủ Tịch: Bồ Xuân Luật,

Bộ Trưởng Y Tế: Trương Đình Tri.

Nhân sĩ không thuộc ba tổ chức vừa kể gồm

Bộ Trưởng Quốc Phòng: Phan Anh,

Bộ Trưởng Nội Vụ: Huỳnh Thúc Kháng,

Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục: Nguyễn Văn Huyên,

Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp: Vũ Đình Hòe,

Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên: Dương Đức Hiền.

Trước khi bầu cử Quốc Hội và thành lập Chính Phủ Liên Hiệp Quốc Gia Hồ Chí Minh đã cho giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương vào ngày 11 tháng 11, 1945. Đúng ra đảng này đổi tên là “Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác-xít Đông Dương”.Đảng Cộng Sản không những vẫn tồn tại mà còn phát triển vượt bực. Những người Cộng Sản và thân Cộng Sản chiếm đa số tuyệt đối ở Quốc Hội. Những người Cộng Sản và thân Cộng Sản nắm giữ tất cả các bộ then chốt trong Chính Phủ Liên Hiệp Quốc Gia. Nhưng dù sao đi nữa Cộng Sản cũng đã nhượng bộ ở một mức độ nào đó. Ông Hồ Chí Minh đã tiến hành một vụ phục kích chính trị khá độc đáo đối với các đảng phái quốc gia.

Trong khi cố gắng xoa dịu phe đối lập ông Hồ Chí Minh cũng ra sức lấy lòng Lư Hán và các tướng lãnh Trung Hoa quốc dân đảng đang có mặt ở Hà Nội. Ông ta đã dùng một số vàng bóp nặn được của dân chúng qua việc tổ chức “tuần lễ vàng” để mua chuộc họ. Đặc biệt ông ta đã tặng riêng cho Lư Hán một bộ bàn đèn thuốc phiện bằng vàng y. Mấy ông tướng “con Trời” rất ư hài lòng. Trước mắt họ chỉ còn hình ảnh Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Họ đã quên khuấy hình ảnh Hồ Chí Minh, con người Cộng Sản đệ tam mà có thời chính quyền quốc dân đảng Trung Hoa đã tống giam.

Về phía Mỹ thì trước khi đoàn Cố Vấn Quân Sự Hoa Kỳ cùng với quân đội Trung Hoa dân quốc sang Việt Nam đã có một số người Mỹ đến Hà Nội ngày 22 tháng 8 năm 1945. Đó là một bộ phận hỗn hợp gồm các nhân viên OSS và toán Cấp Cứu Không-Lục tổng cộng chừng 12 người dưới quyền Thiếu tá Archimedes Patti. Cuối tháng 8 một toán dân sự vụ do Đại tá Stephen Nordlinger dẫn đầu cũng đã đến Hà Nội. Toán Nordlinger đã giúp đỡ thực phẩm và thuốc men cho khoảng 4.500 người Pháp cả quân sự lẫn dân sự còn bị giam trong thành Hà Nội từ cuộc đảo chính của Nhật. Song khi Pháp yêu cầu thả những người này ra thì cả Nordlinger và Patti đều bác bỏ vì e rằng sẽ xẩy ra đánh nhau giữa người Pháp và Việt Nam như ở Sàigòn.

Đối với người Mỹ, ông Hồ Chí Minh đã tỏ ra là người gian hùng đến điều. Lúc còn ở chiến khu ông ta giấu nhẹm hình tích Cộng Sản của mình để tranh thủ cảm tình của một số người Mỹ công tác ở “Chiến Trường Trung Quốc”. Giờ đây ông ta còn giở một ngón đòn trơ trẽn hơn nữa để ru ngủ người Mỹ. Trong bản Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9, 1945 Hồ Chí Minh đã trích nguyên văn một đoạn trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ: ” Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy , có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

Trong giao dịch hàng ngày họ Hồ và phe nhóm của ông ta cũng hết sức trọng vọng người Mỹ. Thiếu tá Archimedes Patti được xếp đứng bên cạnh Võ Nguyên Giáp tại buổi lễ độc lập 2-9. Ban quân nhạc của Vệ quốc đoàn cũng đã được điều đến chỗ ở của viên sĩ quan này để cử bài quốc ca của Hoa Kỳ. Thiếu Tá Frank M. White, quan sát viên chính trị của bộ ngoại giao Hoa Kỳ, được mời vào chỗ ngồi danh dự kế bên Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một bữa tiệc có các sĩ quan cao cấp Anh, Pháp, Trung Hoa tham dự. Vì vậy mà tướng Gallagher, Trưởng đoàn Cố Vấn Hoa Kỳ của quân đội Trung Hoa dân quốc sang giải giới quân đội Nhật đã đưa ra một nhận xét có thể nói là tiêu biểu cho thái độ của người Mỹ ở Hà Nội hồi năm 1945 đối với chính phủ Hồ Chí Minh: “Thủ tướng và đảng của ông đại diện cho nguyện vọng thật sự của nhân dân Việt Nam muốn giành lại độc lập.” (21)

Về phía Pháp, họ không có ai tiếp tay ở bắc vĩ tuyến 16. Lư Hán vì lý do công cũng như tư đã chấp nhận “trên thực tại”chính quyền Hồ Chí Minh. Người Mỹ thì hờ hững, không chịu giúp đỡ người Pháp trở lại Đông Dương. Đại diện của chính phủ De Gaulle lúc đó là Jean Sainteny từng theo toán OSS của Thiếu tá Archimedes Patti từ Trung Quốc sang Hà Nội đã dùng món lợi kinh tế nhử Mỹ. Ngày 26 tháng 8, 1945 tại Phủ Toàn Quyền cũ ở Hà Nội Sainteny đã rỉ tai Patti: “Chính phủ Pháp sẵn sàng dành cho người Mỹ đầu tư vào Đông Dương một khoản tín dụng lên đến 5 tỷ quan Pháp. Tôi muốn biết người nào có thẩm quyền về vấn đề này để bắt đầu điều đình” (22). Khi Patti báo cáo về việc này lên cấp trên của mình ở “Chiến Trường Trung Quốc” thì ông ta nhận được chỉ thị “tránh xa mọi cuộc thương lượng có mục đích mua chuộc viên chức Mỹ (23).

Pháp cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ song họ cũng thừa biết rằng phải trực tiếp dàn xếp với Trung Hoa mới ổn. Ngay từ tháng 10, 1945 người mới được Thủ tướng De Gaulle cử làm cao ủy Pháp ở Đông Dương là đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu sang Trùng Khánh điều đình với Trung Hoa về việc Pháp trở lại bắc Vĩ tuyến 16 nhưng chưa ngã ngũ. Phải đợi đến đầu năm 1946 khi một phái đoàn Pháp do Đại Sứ Meyrier sang thương thuyết tiếp mới có kết quả cụ thể. Ngày 28 tháng 2, 1946 trước những nhượng bộ đáng kể của Pháp, Tưởng Giới Thạch thuận rút quân khỏi bắc Vĩ tuyến 16 trong vòng 3 tháng để cho quân Pháp đến thay thế. Theo Hiệp Ước Pháp – Hoa này Pháp (1) trả lại cho Trung Hoa các nhượng địa ở Quảng Châu, Thượng Hải và Hán Khẩu, (2) bán cho Trung Hoa một đoạn đường xe lửa Hải Phòng – Vân Nam trong lãnh thổ Trung Quốc, (3) chỉ định Hải Phòng là một cảng tự do đối với Trung Hoa theo đó hàng hóa chở từ Trung Hoa sang Hải Phòng và ngược lại được miễn thuế. Đây không phải là lần đầu tiên Pháp và Trung Hoa tự tiện mặc cả với nhau sau lưng Việt Nam. Năm 1884 hai nước đó đã ký hòa ước Thiên Tân đại ý nói rằng nước Tàu thuận rút quân đang trợ lực cho Triều đình Huế chống Pháp lúc đó về nước và bằng lòng cho Pháp tự do xếp đặt mọi việc ở Việt Nam.

1-4. Việt Minh ký Hiệp Đinh Sơ Bộ 6/3/1946 để cho quân Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam.

Trong khi Pháp và Trung Hoa đàm phán với nhau thì Jean Sainteny, đại diện của chính phủ Pháp ở Hà Nội, một mặt đi đêm với Hồ Chí Minh, một mặt ve vãn phe đối lập với Cộng Sản để tìm cách đưa quân Pháp trở lại bắc Vĩ tuyến 16 một cách êm thấm. Khi thấy các đại diện của các đảng phái quốc gia như Nguyễn Hải Thần (Việt Cách), Nguyễn Tường Tam (Việt Quốc) đều nhất mực không chịu để cho quân Pháp đổ bộ lên miền Bắc nước ta thì Sainteny chỉ còn một cách duy nhất là theo đuổi đến cùng cuộc vận động với chính quyền Việt Minh. Giữa thế kẹt một bên là Pháp một bên là Trung Hoa, ông Hồ Chí Minh đã thuận để cho người Pháp đến thay thế quân Tàu vì có người cho rằng theo ông ta thì thà ngửi phân Tây vài năm còn hơn là ngửi phân Tàu suốt đời. Sau bốn ngày đàm phán ráo riết, Hồ Chí Minh và Jean Sainteny thỏa thuận ký một Hiệp định sơ bộ vào ngày 6 tháng 3, 1946. Về chính trị, Hiệp Định Sơ Bộ công nhận Việt Nam là một quốc gia có chính phủ, nghị viên, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp. Đối với việc thống nhất ba Kỳ, Pháp cam kết tôn trọng quyết định của nhân dân Việt Nam qua một cuộc trưng cầu dân ý. Về quân sự, chính phủ Việt Nam sẵn sàng đón tiếp một cách thân thiện quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa. Pháp sẽ rút hết 15.000 quân của mình trong vòng 5 năm, mỗi năm một phần năm.

Nhân dân Việt Nam ở bắc Vĩ tuyến 16 vô cùng bất mãn đối với việc ký kết Hiệp Định Sơ Bộ. Các đảng phái quốc gia phản đối kịch liệt. Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Tường Tam (Việt Quốc) không chịu ký phó thự. Cuối cùng Hồ Chí Minh phải mời ông Vũ Hồng Khanh (cũng là Việt Quốc) lúc đó là Phó Chủ Tịch Quân Ủy Hội cùng ký vào bản hiệp định. Hồ Chí Minh thề sống thề chết với đồng bào là ông ta không bán nước, và trong một cuộc mít-tinh của dân chúng ở thủ đô Hà Nội Võ Nguyên Giáp đã ra sức biện hộ cho Hiệp Định Sơ Bộ 6 tháng 3.

Trên thực tế, trong cảnh tứ bề thọ địch ông Hồ Chí Minh và phe nhóm của ông đã có những tính toán cực kỳ tinh vi để thoát hiểm, và đã thành công một cách ngoạn mục. Thiết tưởng phải đặt Hiệp Định Sơ Bộ 6 tháng 3 vào bối cảnh quốc gia và quốc tế lúc đó mới hiểu được hành động của những người Cộng Sản.

Sau Khởi nghĩa 19 tháng 8, 1945 đối nội Việt Minh đã phải đương đầu với những đảng phái cũng như tổ chức chính trị không Cộng Sản không chịu để cho ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương khống chế toàn bộ chính quyền của một đất nước vừa giành được độc lập từ tay Nhật. Sự chống đối này càng ngày càng mạnh mẽ, nhất là ở miền Bắc Việt Nam khi Việt Cách và Việt Quốc lưu vong ở Trung Hoa trở về.

Đối ngoại tình hình cũng không thuận lợi cho Việt Minh một chút nào cả. Anh quốc từ đầu chí cuối tán thành việc Pháp trở lại Đông Dương. Không những họ đã cho quân đội Pháp núp bóng trở lại Sàigòn mà còn lấy cả vũ khí, trang bị Mỹ đã cung cấp cho họ trong khuôn khổ “Thỏa ước thuê mướn vũ khí” trong Thế Chiến II tiếp tế cho lực lượng Pháp ở Nam Bộ nữa.Trung Hoa không dẹp bỏ chính quyền Việt Minh ở bắc Vĩ tuyến 16 nhưng lại ủng hộ Việt Cách, Việt Quốc đối lập với Cộng Sản.

Sức ép của Bộ Tư Lệnh Quân Đội Trung Hoa ở Hà Nội đã mạnh đến mức ông Hồ Chí Minh có lúc phải tính đến chuyện nhường chỗ cho Cựu Hoàng Bảo Đại lập chính phủ. Về phía Hoa Kỳ thì chủ trương ủy trị đối với Đông Dương đã chết theo Tổng Thống Roosevelt. Chính quyền Truman chú mục vào Châu Âu bởi vì Liên Xô đang ngang nhiên lấn ép. Trong một bài diễn văn đọc trước Đại Hội Đảng Cộng Sản Liên Xô ngày 9 tháng 2, 1946 Xta-lin coi Hoa Kỳ là một mối đe dọa lớn hơn cả Đức Quốc Xã và “tiên đoán chiến tranh sẽ diễn ra trước thời kỳ giữa những năm 50” (24). Do thái độ gây hấn của Liên Xô mà Hoa Kỳ phải tính đến việc liên kết với các đồng minh ở Châu Âu trong đó có Pháp. Hoa Kỳ không chống đối mà cũng không cổ vũ việc Pháp trở lại Đông Dương. Chính sách quốc gia của Hoa Kỳ đã thay đổi. Chỉ có một số người Mỹ công tác ở chiến trường Trung Quốc không theo kịp biến cố nên vẫn giữ một thái độ thiện cảm với ông Hồ Chí Minh khi đến Hà Nội vào tháng 8, 1945. Tuy nhiên, những ý kiến của họ không có trọng lượng với bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Ông Hồ Chí Minh sau khi nắm chính quyền đã gửi nhiều bức điện yêu cầu Hoa Kỳ công nhận chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng đã không được phúc đáp.

Liên Xô theo nguyên tắc phải ủng hộ ông Hồ Chí Minh song trên thực tế Liên Xô không ngó ngàng gì đến những biến cố ở Đông Dương vào năm 1945 vì đang dồn hết nỗ lực vào việc áp đặt chính quyền Cộng Sản ở các nước Đông Âu. Cộng Sản Trung Quốc gần gũi Việt Nam hơn nhưng vào thời điểm đó họ chưa nắm được chính quyền. Đến mùa Thu năm 1949 cánh tay của họ Mao mới vươn tới biên giới Hoa-Việt.

Trong một tình hình cực kỳ khó khăn như vậy Việt Minh lại giở thủ đoạn quen thuộc. Họ nhân nhượng Pháp bằng Hiệp Định Sơ Bộ 6 tháng 3 để có thì giờ chuẩn bị đối phó chu đáo hơn.

Ngày 6 tháng 3, 1946 các chiến hạm Pháp lừ lừ tiến vào cảng Hải Phòng. Pháo binh của quân Trung Hoa khai hỏa và hải pháo của Pháp bắn trả. Sau khi có sự dàn xếp của các nhà chức trách Pháp và Trung Hoa ở Hà Nội lực lượng Pháp bắt đầu lên bờ, và ngày 18 tháng 3 các đơn vị Pháp dưới quyền Tướng Leclerc đến Hà Nội dưới sự bàng quan lạnh nhạt của người Việt Nam. Một vài tháng sau quân Viễn Chinh Pháp có mặt ở các địa điểm khác như Hải Dương, Nam Định, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên Phủ, Huế, Đà Nẵng.

Từ ngày quân Pháp được phép trở lại Bắc bộ và Bắc Trung bộ đã có nhiều vụ xung đột nhỏ giữa Việt và Pháp. Tuy nhiên, hai bên liên hệ đều có những lý do khiến phải giữ bình tĩnh trong khi chờ đợi những hội nghị sẽ mở ra để thảo luận về những vấn đề lớn lao ghi trong Hiệp Định Sơ Bộ. Đà Lạt đã được chọn làm nơi họp hội nghị đầu tiên, và hai đoàn đại biểu Pháp, Việt đã gặp nhau ngày 17 tháng 4, 1946. Đoàn đại biểu Pháp do Max André, nguyên Giám Đốc ngân hàng Pháp- Hoa ở Đông Dương trước năm 1945, làm trưởng đoàn. Các thành viên gồm toàn những quan cai trị hoặc chuyên viên có kinh nghiệm về Đông Dương trong đó có Pierre Gourou, người đã viết công trình nghiên cứu mang tựa đề “Người nhà quê vùng Châu Thổ Bắc Kỳ”. Lãnh đạo phái đoàn Việt Nam là Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Tường Tam. Các thành viên gồm những người chủ chốt trong chính quyền Việt Minh như Võ Nguyên Giáp, Chủ Tịch Quân Sự Ủy Viên Hội, và những khuôn mặt trí thức đáng nể đối với Pháp như giáo sư Hoàng Xuân Hãn, luật sư Vũ Văn Hiền, luật sư Nguyễn Mạnh Tường.

Hội nghị gặp rất nhiều khó khăn về mọi vấn đề nhưng gay go nhất là “vấn đề Nam Bộ”. Phái đoàn Pháp tuyên bố không đủ thẩm quyền để bàn về việc này, và theo họ thì chẳng có gì để bàn nữa vì họ đã bình định xong xứ Nam Kỳ rồi. Cuộc thảo luận đi đến chỗ hoàn toàn bế tắc khi Cao Ủy Pháp ở Đông Dương là Đô đốc d’Argenlieu nặn ra nước “Nam Kỳ tự trị” do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, một người Việt Nam có quốc tịch Pháp làm Thủ tướng. Dù sao đi nữa, Việt Nam vẫn hy vọng các vấn đề quan trọng sẽ được mang ra thảo luận ở một hội nghị khác dự trù tổ chức tại Pháp.

Ngày 28 tháng 5, 1946 một phái đoàn Việt Nam do Phó Chủ Tịch Quốc Hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu khởi hành sang Pháp. Ông Hồ Chí Minh cùng đi nhưng với tư cách riêng và là thượng khách của chính phủ Pháp. Về phía Pháp, người cầm đầu phái đoàn vẫn là Max André vừa là một tay tài phiệt vừa là một phụ tá cao cấp của Cao Ủy d’Argenlieu. Cuộc đàm phán bắt đầu ngày 6 tháng 7 ở Fontainebleau với một triển vọng không có gì sáng sủa vì trước khi khởi sự thương thuyết Đô đốc d’Argenlieu ngang nhiên loan báo Nam Kỳ đã được hưởng quy chế một “nước Cộng Hòa tự trị”.

Hội nghị diễn ra rất gay go chung quanh bốn vấn đề: Chủ quyền và địa vị của Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, nền ngoại giao của Việt Nam, Liên Bang Đông Dương, và vấn đề thống nhất ba Kỳ của Việt Nam. Lập trường của hai bên khác nhau một vực một trời nên hội nghị phải ngưng vào ngày 1 tháng 8. Tuy nhiên, cuộc đàm phán vẫn không tan vỡ. Việc mặc cả tiếp diễn trong bóng tối và ngày 10 tháng 8 hai bên đã dự định ký kết một tạm ước. Trong khi đang có những nỗ lực như vây thì Tướng De Gaulle đưa ra một lời tuyên bố vào ngày 27 tháng 8 như sau: “Kết hợp với lãnh thổ hải ngoại mà mình đã khai hóa, nước Pháp là một cường quốc. Không có những lãnh thổ đó nước Pháp không còn là một cường quốc nữa.” (25) Thế là hết. Trái bom này đã phá tan hội nghị. Ngày 13 tháng 9 phái đoàn Việt Nam xuống tàu về nước.

Riêng ông Hồ Chí Minh tiếp tục ở lại Paris bắt mạch thời cuộc. Đêm 14 tháng 9 ông ta đã gõ cửa nhà Marius Moutet, Bộ trưởng Pháp Quốc hải ngoại, xin ký bản Tạm ước (Modus Vivendi) với nội dung chủ yếu sau đây:

Pháp và Việt Nam theo đuổi một chính sách hợp tác trong khi chờ đợi một cuộc thương thuyết dự trù sẽ diễn ra chậm nhất là vào đầu năm 1947.

Pháp và Việt Nam cùng tìm cách chấm dứt sự xung đột hiện tại ở Nam bộ và Nam Trung bộ.

Việc liên lạc ngoại giao giữa Việt Nam với nước ngoài tạm thời do một Ủy Ban chung phụ trách để bảo đảm sự có mặt của Việt Nam ở các nước láng giềng.

Như thế là không một vấn đề mấu chốt nào nêu ra trong chương trình nghị sự của cuộc đàm phán tại Fontainebleau đã được giải quyết. Ông Hồ Chí Minh đã khẩn khoản yêu cầu Marius Moutet đừng để ông về tay không. Ông ta cần phải vớt vát một cái gì đó để trấn an dư luận trong nước đồng thời ru ngủ người Pháp theo kế hoãn binh của mình ngõ hầu có thêm thứ giờ chuẩn bị.

Thực thế, ngay khi quân đội Trung Hoa bắt đầu rút khỏi miền bắc Vĩ tuyến 16 và trong lúc ông Hồ Chí Minh cùng với phái đoàn Việt Nam ở Pháp ông Võ Nguyên Giáp đã tận dụng khoảng thời gian hòa hoãn với Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Và trong việc này Cộng Sản Việt Nam đã được người Pháp tiếp tay đúng như câu phương ngôn “Ngưu tầm ngưu mã tầm mã”. Việt Minh muốn nắm chính quyền một mình còn Pháp thì căm ghét các đảng phái quốc gia đã ra mặt chống lại Hiệp Định Sơ Bộ cho phép Pháp đổ bộ lên Bắc bộ và Bắc Trung bộ “Tin rằng Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, do thái độ bài ngoại quyết liệt của họ, đã tạo thành một mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh nội bộ, và Hiệp Định 6 tháng 3 nên Pháp hợp lực với Việt Minh trong các hoạt động cảnh sát và quân sự chống lại họ.” (26) Cho đến cuối tháng 11, 1946 hầu hết các cứ điểm của Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội đã bị Việt Minh quét sạch.

Các lãnh tụ của các đảng phái không Cộng Sản lần lượt bôn tẩu sang Trung Quốc. Cụ Nguyễn Hải Thần rời Hà Nội ngay sau khi Việt Minh và Pháp Ký Hiệp Định Sơ Bộ, ông Nguyễn Tường Tam bỏ trốn mặc dù đã được chỉ định làm trưởng phái đoàn sang Pháp thương thuyết, và ông Vũ Hồng Khanh mượn cớ đi thanh tra ở Việt Trì để đào thoát.

Vào ngày 28 tháng 10, 1946 khi Quốc Hội Việt Nam họp thì 50 trong số 70 đại biểu thuộc phe quốc gia vắng mặt. Nhiều người trong số này đã chạy trốn còn một số bị bắt hoặc bị thủ tiêu. Hồ Chí Minh lập một Hội đồng chính phủ mới do ông ta làm Chủ tịch Kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao. Hầu hết các bộ đều nằm trong tay Cộng Sản. Chỉ có một bộ duy nhất không quan trọng được giao cho Chu Bá Phượng, một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã chạy theo Việt Minh. Ngoài ra, Bồ Xuân Luật nguyên là một người của Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội đã đầu hàng Cộng Sản, được cử làm Quốc Vụ Khanh. Cựu Hoàng Bảo Đại mặc dù đã du lịch ở Trung Hoa từ tháng 3 vẫn được giữ làm cố vấn tối cao như cũ.

Từ nay trở đi trên vũ đài chính trị Việt Nam chỉ còn lại một mình đảng Cộng Sản dưới chiêu bài Việt Minh nắm quyền lãnh đạo. Hồ Chí Minh trở thành một ông vua không ngai. Ông ta đã tiến hành một chiến lược loại trừ địch thủ cực kỳ hiểm độc. Với mỗi địch thủ ông ta có một đối sách riêng nhưng nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt vẫn là “nén bạc đâm toạc tờ giấy”. Với các đảng phái quốc gia ông ta hối lộ một số ghế trong Quốc Hội và chính phủ; với các tướng tá Trung Hoa sang giải giới quân đội Nhật ở Đông Dương ông ta hối lộ vàng bạc, tiền của; với Cựu Hoàng Bảo Đại ông ta hối lộ bằng cách cho đi du lịch ở Trung Hoa rồi yêu cầu đừng về như sẽ đề cập đến ở phần sau. Với người Pháp ông ta hối lộ bằng Hiệp Định Sơ Bộ 6 tháng 3 và Tạm ước 19 tháng 9, 1946; và với người Mỹ ông ta hối lộ bằng khẩu khí của một con người phi Mác-xít. Mắc phải cái bả quyền lợi trước mắt, các địch thủ của ông ta đã lần lượt gục ngã…

Ông Hồ Chí Minh đã đạt được mục tiêu trước mắt của Cộng Sản Việt Nam ngụy danh Việt Minh. Ông ta đã tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị thực lực. Nhìn lại lịch sử mới thấy rằng ông Hồ Chí Minh là một con cáo già. Ông ta đã kết hợp và vận dụng tài tình cái thủ đoạn xảo quyệt của hai lãnh tụ vĩ đại của Cộng Sản Nga. Lê-nin đã ký hòa ước Brest-Livstok với Đức, Áo-Hung và Bun-ga-ri năm 1918 để có thì giờ xây dựng chính quyền Cộng Sản mới khai sinh ở Liên Xô. Xta-lin đã ký hiệp ước bất tương xâm với Hitler năm 1939 trong khi ráo riết chuẩn bị đương đầu với Đức Quốc Xã.

Đối với địch thủ cuối cùng của họ là Pháp, hội nghị quân sự toàn quốc của đảng Cộng Sản Đông Dương đã nhận định:

“Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng phải nhất định đánh Pháp.” (27) Về phía Pháp thì chính phủ đương thời cũng như phủ Cao Ủy Pháp ở Đông Dương đều muốn dùng quân sự để tái lập chủ quyền ở bắc Vĩ tuyến 16 như họ đã làm ở Nam Vĩ tuyến 16. Pháp đã dùng vũ lực lập lại chủ quyền của họ ở Nam Bộ, ở Lào và ở Cao Miên. Bây giờ chỉ còn Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Hai bên Pháp và Việt hằm hè nhau. Cái gì phải đến đã đến.

1-5. Chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ đêm 19-12-1946

Ngày 18 tháng 11, 1946 tại Hải Phòng đã xẩy ra một vụ lôi thôi về việc Pháp bắt giữ một chiếc thuyền chở muối. Quân đội Pháp và quân đội Việt Nam bắn nhau dữ dội. Phái đoàn liên kiểm Việt-Pháp đã dàn xếp được một cuộc ngưng bắn vào ngày 21 tháng 11. Mặc dù vậy súng lại nổ ran vào ngày 23 tháng 11 vì Pháp quyết định cho Việt Nam một bài học. Vụ chiếc thuyền chở muối chỉ là cái cớ để Pháp ra tay hành động. Đầu tháng 11 trong một buổi họp ở Hội Đồng Quốc Phòng Pháp khi người ta tìm cách thuyết phục Thủ tướng Georges Bidault rằng chiến tranh không phải là không tránh được thì ông ta trả lời: “Phải khai pháo” (28). Ở Đông Dương Cao Ủy d’Argenlieu vẫn nôn nóng muốn dùng súng đạn từ lâu rồi. Khi Tướng Leclerc chỉ thị cho Jean Sainteny tìm cách điều đình với chính phủ Hồ Chí Minh để cho quân đội Pháp đổ bộ lên Bắc bộ và Bắc Trung bộ thay thế quân Trung Hoa giải giới quân đội Nhật thì d’Argenlieu đã dè bỉu: “Tôi ngạc nhiên, phải nói là ngạc nhiên thấy rằng Pháp có một đạo quân viễn chinh giỏi mà giới lãnh đạo của nó lại tính chuyện điều đình.”(29) Cuộc bắn phá của Pháp ở Hải Phòng rất kịch liệt và tàn khốc khiến cho 6.000 người Việt Nam thiệt mạng. Chiến tranh không thể nào tránh khỏi nữa.

Dân chúng Hải Phòng tản cư. Tiếp đến Hà Nội cũng được lệnh tản cư. Các cơ quan trung ương chuyển dần ra an toàn khu. Đại bộ phận quân đội rút khỏi thủ đô, chỉ còn lại một số chủ lực ở lại sát cánh với tự vệ sẵn sàng chiến đấu. Vào 8 giờ tối ngày 19 tháng 12 năm 1946 tại Hà Nội quân Việt Nam phá nhà máy điện và nổ súng vào quân Pháp. Ở một số thị trấn có quân Pháp chiếm đóng trước đây cũng đã có giao tranh. Việt Minh coi ngày 19 tháng 12, 1946 như “Ngày Kháng Chiến Toàn Quốc”.

(1) Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, Tập I, trang 95.

(2) Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, trang 118.

(3) Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, trang 167.

(4) Boettcher, Thomas D., Việt Nam: Dũng cảm và đau thương (“Vietnam: The valor and the sorrow”, NXB Little Brown Company, Hoa Kỳ, 1985, trang 40.

(5) Cùng tác giả, cùng sách, trang 41.

(6) Spector, Ronald H.,sđd, trang 21

(7) Spector, Ronald H., sđd, trang 23.

(8) Spector, Ronald H.,sđd, trang 41.

(9) Spector, Ronald H. , sđd, trang 45. (10) Spector, Ronald H. , sđd, trang 45.

(11) Boettcher, Thomas D., sđd, trang 43

(12) Từ ngày Việt Minh cướp Chính quyền ( 19 /8 /45) ba miền của Việt Nam gọi là Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ thay vì Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam Kỳ như hồi Pháp thuộc.

(13) Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, NXB Xuân Thu , P.O Box Los, Los Alamitos, CA, Hoa kỳ, 1989, trang 44.

(14) Boettcher, Thomas D., sđd, trang 54.

(15) Nghiêm Kế Tổ, sđd, trang 63.

(16) Boettcher, Thomas D.,sđd, trang 54.

(17) Nghiêm Kế Tổ,sđd, trang 63.

(18) Boettcher, Thomas D.,sđd, trang 57.

(19) Spector, Ronald H., sđd, trang 67.

(20) Hoàng Tường, sđd, trang 75.

(21) Spector, Ronald H.,sđd, trang 61.

(22) Boettcher, Thomas D., sđd, trang 61.

(23) Boettcher, Thomas D.,sđd, trang 61

(24) Boettcher , Thomas D.,sđd, trang 61.

(25) Maclear, Michael, D., sđd, trang 21.

(26) Gettleman, Marvin E., Việt Nam: Lịch sử, Tài liệu, va Ý kiến về một cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới ( “Vietnam: History, Documents, and Opinions on a major world crisis” ), sách bìa giấy, NXB Fawcett Publications, Inc., New York, Hoa Kỳ, 1965 , trang 67.

(27) Lịch sử Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Tập I, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Việt Nam, 1977, trang 243.

(28) Biến cố Việt Nam: Chuyền đuốc (” The Vietnam Experience: Passing the torch”), NXB Boston Publishing Company, Hoa Kỳ, 1981, trang 25.

(29) Maclear, Michael, sđd, trang 20- 21.

—>Chương 2

This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN ĐỨC MINH: Một Thời Nhiễu Nhương, Việt Sử. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s