MỘT THỜI NHIỄU NHƯƠNG: Phần IV

CHƯƠNG 1

CỘNG SẢN BẮC VIỆT TIẾN HÀNH

CHIẾN TRANH XÂM NHẬP VÀ KHUYNH ĐẢO CHỐNG NAM VIỆT NAM

1-1. Chính quyền Nam Việt Nam truy quét Việt Cộng
(Cộng Sản nằm vùng)

Bản “Đề cương đường lối cách mạng miền Nam” của ông Lê Duẫn như đã đề cập ở phần trên phản ảnh diễn biến của tình hình quốc tế cũng như nội bộ của Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1954-1956. Trên trường quốc tế, Liên Xô và Trung Cộng không quan tâm đến việc thi hành Hiệp định Giơ- ne. Tại miền Nam Việt Nam, Chính quyền Ngô Đình Diệm không những không sụp đổ mà lại vững mạnh thêm; cán bộ Cộng Sản nằm vùng thất vọng vì cuộc Tổng tuyển cử thống nhất bị Chính quyền Nam Việt Nam thẳng tay bác bỏ, và đang lâm vào cảnh ngặt nghèo trước các hoạt động chính trị và quân sự kết hợp chặt chẽ với nhau truy lùng họ của chính quyền Nam Việt Nam.

Về chính trị, trước hết phải kể đến các chiến dịch tuyên truyền nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của Cộng Sản tại những vùng Quân đội Quốc Gia tiếp thu của Việt Minh trong những năm 1954 và 1955. Sau khi quân đội trấn áp và vô hiệu hóa những phần tử Cộng Sản nằm vùng, các đoàn thông tin tuyên truyền tích cực đã phá chính sách hà khắc của Cộng Sản và tiến hành những hoạt động tâm lý chiến để thu phục nhân tâm.

Quan trọng nhất và rộng rãi nhất là “Chiến dịch tố Cộng” do Bộ Thông Tin và Thanh niên phát động vào giữa năm 1955. Chính trong khuôn khổ chiến dịch vừa có tính cách chính trị vừa có tính cách tình báo này mà danh từ “Việt Cộng” đã được sử dụng lần đầu tiên. “Việt Cộng” không phải là một từ ngữ miệt thị Cộng Sản theo như sự võ đoán của giới báo chí và viết lách nước ngoài. Nguyên thủy, nó chỉ là tiếng gọi tắt của nhóm từ “Cộng Sản Việt Nam” để phân biệt với “Việt Minh”, chữ tắt của “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” do phe ông Hồ Chí Minh thành lập và khống chế kể từ năm 1941. Việc dùng chữ “Việt Cộng” thay vì “Việt Minh” phản ảnh lập trường chính thức của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa theo đó trong khoảng thời gian trước khi Hiệp định Giơ-ne ra đời năm 1954, Mặt trận Việt Minh bao gồm cả những người Cộng Sản và quốc gia chung sức chung lòng chống Pháp, song từ sau Hiệp định Giơ-ne, Cộng Sản và quốc gia đã trở thành hai phe đối lập nhau rõ rệt, và mỗi phe chiếm lĩnh một miền riêng biệt. Những người Việt Nam theo Cộng Sản được gọi chung là “Việt Cộng”. Tuy nhiên, do đặc điểm của tình hình chính trị của Việt Nam, từ “Việt Cộng” được giới hạn, áp dụng cho những người Cộng Sản ở Nam Việt Nam để phân biệt với “Cộng Sản Bắc Việt Nam.”

Theo tài liệu của Bộ Thông Tin và Thanh niên của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thì vào tháng 5, 1956, sau gần một năm tiến hành Chiến dịch tố Cộng đã có 44.041 người trước kia theo Việt Minh trở về với chính quyền quốc gia, 5.613 người khác đầu hàng quân đội Chính phủ, hơn 700 hầm vũ khí bị phát hiện và tịch thu. Người ta có thể hoài nghi về con số có vẻ thổi phồng này nhưng không thể chối cãi được rằng Chiến dịch tố Cộng đã gây khá nhiều khó khăn cho cán bộ nằm vùng của Cộng Sản.

Trong năm 1955, Chính quyền Nam Việt Nam cũng đã tổ chức “Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ” phụ trách dân vận, đặc biệt ở nông thôn. Đã có chừng 1.400 Cán bộ Công dân vụ chia thành những toán nhỏ đi lưu động tuyên truyền cho Chính phủ khuyến khích và giúp đỡ dân làng phát triển cộng đồng, xây dựng lại các cơ sở chung đã bị chiến tranh tàn phá.

Song song với các hoạt động chính trị, quân đội Nam Việt Nam đã liên tiếp mở nhiều chiến dịch yểm trợ cho việc tái lập an ninh ở những khu vực mà Pháp và Việt Minh còn tranh chấp nhau trước năm 1954, và xây dựng chính quyền xã ấp ở những vùng hẻo lánh mà suốt 9 năm chiến tranh quân đội Pháp chưa hề đặt chân tới.

Các hoạt động chính trị, quân sự, và hành chánh của Chính quyền Nam Việt Nam đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần của cán bộ Cộng Sản nằm vùng. Một hồi chánh viên cao cấp nguyên là Phó Bí Thư Liên Tỉnh Ủy của Cộng Sản ở Tây Nam bộ xác nhận sự dao động của Việt Cộng trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1956: “Sau khi không có tổng tuyển cử, Đảng tiếp tục hoạt động, nhưng đồng thời đã có những chia rẽ trong nội bộ. Khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đã có sự bất bình đối với Trung Ương Đảng và ông Hồ Chí Minh vì nhân dân nghĩ rằng miền Nam luôn luôn bị coi như con vật hy sinh trong vấn đề thống nhất. Bây giờ người miền Nam lại được yêu cầu khoanh tay, chấp nhận hy sinh thêm nữa. Họ cảm thấy Đảng và ông Hồ Chí Minh còn dại hơn cả Pháp, Mỹ lẫn ông Diệm. Do đó nhiều đảng viên bỏ công tác Đảng, về quy thuận Chính phủ. Hơn nữa, tác dụng đối với nhân dân cũng trầm trọng. Nhân dân phải hy sinh nhiều trong kháng chiến và Đảng đã nói với họ rằng Hiệp định Giơ-ne-vơ sẽ được thi hành. Bây giờ họ thấy Hiệp định Giơ-ne-vơ bị phớt lờ cho nên họ không để ý đến Đảng nữa, và lo công chuyện riêng của họ. Không những thế, nhiều người về đầu Chính phủ, và không còn tin tưởng ở Đảng, đã trở thành những viên chức của Chính phủ quyết tâm tiêu diệt lực lượng còn lại của Đảng.

Vì vậy từ 1954 đến 1956, đặc biệt vào cuối năm 1956, khi vấn đề thống nhất theo Hiệp định Giơ-ne-vơ không còn được đề cập đến nữa, Đảng bước vào một thời kỳ rất đen tối vì thiếu tin tưởng ở tương lai và vì sự phán đoán của Đảng đã tỏ ra hoàn toàn sai lầm. Trong thời kỳ đó Chính phủ Diệm ngày một mạnh hơn, do đó triển vọng của Đảng rất mù mờ.” (1)

Trong hoàn cảnh gay go này, bản “Đề cương đường lối cách mạng miền Nam” có tác dụng trấn an Cán bộ Cộng Sản nằm vùng đang bị Chính quyền Nam Việt Nam săn đuổi đồng thời vạch ra con đường chuẩn bị cho một giai đoạn đấu tranh mới với những đối tượng, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với diễn biến của tình hình sau Hiệp định Giơ-ne. Giai đoạn đấu tranh mới này thực chất là nổi dậy vũ trang, điều mà phe ông Hồ Chí Minh chưa tiện phổ biến trên giấy trắng mực đen vào thời điểm đó, như hai hồi chánh viên cao cấp tiết lộ: “tại những cuộc thảo luận của Đảng từ cấp tỉnh trở lên người ta cho rằng nổi dậy vũ trang đương nhiên được dùng tới trong tương lai nhưng không được truyền đạt cho cấp dưới biết vì sợ gây hoang mang.” (2)

1-2. Việt Cộng tiến hành đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang ở mức độ thấp

Quả vậy, sau khi bản “Đề cương cách mạng miền Nam” ra đời, bắt đầu từ 1957, Việt Cộng đã tiến hành các hoạt động đấu tranh chủ yếu vẫn là chính trị nhưng đã pha lẫn quân sự ở một quy mô nhỏ.

Tại nông thôn, ở những vùng hẻo lánh mà Chính quyền xã ấp của Việt Nam Cộng Hòa chưa vững chắc và lực lượng Bảo an, Dân vệ còn yếu kém, Việt Cộng đã lập những “đội trừ gian”, mỗi đội khoảng năm, mười người thuộc loại trung kiên, có súng ống tiến hành khủng bố, phá hoại. Trong 3 tháng cuối năm 1957 Việt Cộng thực hiện 30 vụ khủng bố, ám sát và bắt cóc 75 viên chức xã ấp. Đã có cả những người làm việc cho Chính quyền lẫn thường dân bị khủng bố, mỗi loại đáp ứng một yêu cầu riêng biệt do các Chi bộ Cộng Sản ở địa phương quyết định nhưng tất cả đều nằm trong khuôn khổ một chiến lược nổi dậy mà mục đích tối hậu là phá vỡ sự kiểm soát của Chính quyền Nam Việt Nam ở địa bàn xung yếu là nông thôn. Chiến lược nổi dậy qua việc khủng bố đã được chỉ đạo khít khao từ trung ương đến địa phương, và tiến hành một cách vừa có khoa học vừa có nghệ thuật. Khoa học ở chỗ lựa chọn đối tượng thế nào để người ngoài cuộc, nhất là giới truyền thông nước ngoài, yên trí rằng chỉ có những viên chức Chính quyền mới bị khủng bố. Nghệ thuật ở chỗ một hành động khủng bố được thực hiện thế nào cho người ta sợ sẽ đến phiên mình nếu không lánh xa Chính quyền, và sợ mà không dám nói ra theo kiểu “sát nhất nhân vạn nhân cụ”, một phương châm mà các vua chúa trước kia đã triệt để áp dụng để bảo vệ ngai vàng. Cộng Sản đã hết lời mạt sát “Khủng bố trắng” nhưng “Khủng bố đỏ” do chính họ tiến hành còn thậm tệ hơn nhiều. Một hồi chánh nguyên là Liên tỉnh ủy viên Tây Nam bộ của Việt Cộng đã nói tới ở phần trên cho biết sơ qua về vấn đề “trừ gian” như sau: “Nói chung, ai làm việc cho Chính phủ vào thời đó đều bị coi là “Việt gian”, hệt như trong thời kỳ Việt Minh, ai làm việc cho Pháp đều là Việt gian. Tuy nhiên, chữ “Việt gian” phải được hiểu theo quan điểm chính trị của Đảng nhằm bảo vệ sự sống còn của mình. Thí dụ trong một xã, tất cả các trưởng ấp đều bị coi là “Việt gian”. Thế nhưng, trong số họ có thể có một người đặc biệt chân thật, am tường chính trị, quyết tâm tiêu diệt bộ máy của Cộng Sản tại nơi họ ở trong khi những người khác ăn hối lộ, và nói chung, chỉ lo công việc riêng tư của mình. Trong tình huống đó, Cộng Sản bề ngoài tố cáo Chính quyền tham nhũng và đòi lật đổ nhưng bề trong thì họ ủng hộ và khuyến khích những trưởng ấp thối nát. Mặt khác, người trưởng ấp chân thật kia đã giúp nhiều cho dân chúng và hiểu rõ về Đảng bị xếp vào loại “một Việt gian quan trọng”, và người đó bị diệt…

Đối với các nhà giáo cũng vậy, tại sao lại phải ám sát các nhà giáo mà nhiều người trong số đó không làm việc cho Chính phủ? Vì họ là những người hiểu biết sâu rộng về chính trị những người quốc gia thuần thành nhất rất có thể sẽ trở thành những người lãnh đạo chống Cộng ở địa phương. Những người đó rất nguy hiểm cho nên bị liệt vào loại gian. Ngoài những người này, các nhân viên công an hoạt động có hiệu quả nhất và các cảm tình viên của họ được xếp vào loại “nồng cốt”, và là đối tượng phải tiêu diệt. Muốn cho Đảng tồn tại thì điều tuyệt đối cần thiết phải làm là tiến hành những hoạt động trừ khử đó.” (3)

Cố nhiên, khủng bố chỉ là một mặt của chiến lược nổi dậy ở nông thôn. Nó đi đôi với dụ dỗ, mà dụ dỗ thì cơ bản dựa vào sự khai thác những khuyết điểm lớn nhất của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trong cải cách ruộng đất. Trước hết trong cải cách ruộng đất, Chính quyền đã mắc sai lầm nghiêm trọng ở chỗ không ý thức rằng ngay khi Tổng khởi nghĩa tháng 8, 1945 Việt Minh đã chia ruộng cho dân nghèo, và trong những năm chiến tranh từ 1945-1954 nông dân đã nghiễm nhiên khai thác ruộng đất mà các địa chủ bỏ hoang để về lánh nạn ở đô thị. Nay theo luật cải cách ruộng đất của chính phủ Ngô Đình Diệm, nông dân và tá điền muốn có ruộng thì phải mua lại của sở hữu chủ với sự giúp đỡ của Chính phủ. Việc này mới thoạt nhìn thì thấy hợp lý, công bằng nhưng trên thực tế là bất công đối với nông dân thành ra chủ trương người cầy có ruộng bất kể đến bối cảnh lịch sử của vấn đề không những không hấp dẫn với nông dân mà còn gây cho họ có cảm tưởng rằng Chính phủ về hùa với địa chủ. Những người am hiểu tất nhiên biết rằng việc chia đất của Việt Minh là một việc làm mị dân chỉ nhằm một mục đích nhất thời là tranh thủ nông dân, song thuyết phục nông dân và tá điền bỏ tiền ra mua lại ruộng đất mà họ đã và đang làm chủ do Việt Minh và sau này là Việt Cộng công nhận thì quả là vô cùng khó khăn.

Thứ đến, số ruộng đất mà địa chủ được phép giữ lại để canh tác và làm mộ phần cho ông bà, tổ tiên xét ra quá lớn đối với một xã hội nông nghiệp mà tuyệt đại đa số người cầy không có ruộng, cũng đã làm cho nông dân bất mãn. Có thể Chính phủ Ngô Đình Diệm không dám tiến hành cải cách ruộng đất một cách cấp tiến hơn vì e ngại phản ứng của giới đại địa chủ ở miền Nam mà chính họ và con cái họ đang nắm giữ những chức vụ then chốt trong Chính quyền.

Hơn nữa, việc cải cách ruộng đất không được thực hiện đúng đắn. Trong Chính phủ Ngô Đình Diệm đã có một Bộ cải cách ruộng đất nhưng những cấp thừa hành lại chỉ là những công chức cứ tà tà làm việc đến đâu hay đến đó cho nên trung bình phải mất hai năm trời kể từ ngày ban hành, luật cải cách ruộng đất mới có tác dụng cụ thể ở các địa phương mặc dù chia lại ruộng đất là một công tác chiến lược quyết định phải được thực hiện khẩn trương để giành lại quyền kiểm soát

nông thôn. Về viên chức xã ấp trực tiếp phụ trách cải cách ruộng đất thì một số lại chính là những người có nhiều ruộng đất nên không thể tránh khỏi những vụ lạm dụng. Thêm vào đó, còn có những địa chủ vắng mặt trong thời kỳ chiến tranh nay lại trở về ngấm ngầm gây sức ép để việc mua bán ruộng đất có lợi cho họ.

Nguyên Phó Bí Thư liên tỉnh ủy miền Tây Nam bộ của Việt Cộng đã phát biểu ý kiến về công cuộc cải cách ruộng đất của Chính phủ Ngô Đình Diệm: “Chương trình cải cách ruộng đất này gây tác dụng lớn ở nông thôn, làm cho đa số nông dân phẫn nộ đối với Chính phủ. Nông dân nghĩ rằng họ đổ máu đánh đuổi Pháp trong khi địa chủ liên kết với Pháp chống lại nông dân nên chí ít đi nữa quyền lợi của nông dân về ruộng đất lẽ ra cũng đã phải được xác nhận. Nhưng không, họ bị bắt buộc phải mua lại ruộng, vì vậy họ cảm thấy họ là nạn nhân của Chính phủ. Trong lúc đó bộ máy Đảng lợi dụng tình hình này tuyên truyền việc làm của Chính phủ là xấu, và Chính phủ của địa chủ đang cướp đất của nông dân…

Người nông dân ở thôn quê có cái nhìn rất hạn hẹp. Một số chưa bao giờ ra khỏi xã ấp đi thăm Sàigòn hay tỉnh lỵ của họ. Họ sống gắn bó với ruộng đồng và hầu như không quan tâm đến điều gì khác. Trong khi đất nước đang có chiến tranh, trong khi kỹ nghệ đang tiến bộ, và có cả một số người trong giới của họ đang sử dụng máy cầy, máy bơm nước v.v… thì họ vẫn không có đủ trâu để cầy, vẫn dùng chiếc cầy thô sơ. Vì vậy họ không có thì giờ nghĩ đến những vấn đề lớn lao, chẳng hạn như tương lai của chủ nghĩa Cộng Sản là những vấn đề không liên quan đến họ. Tương tự như vậy, họ không để ý đến chương trình cải cách ruộng đất của chính phủ, nghĩa là không cần biết Chính phủ truất hữu như thế nào, hoặc Chính phủ làm cách nào để biến họ thành tiểu địa chủ. Đối với họ, không việc gì phải nghĩ đến những vấn đề đó. Họ chỉ quan tâm đến quyền lợi thiết thân của họ được bảo vệ như thế nào, và mong mỏi được đối xử hợp lý, tử tế.

Trong tình hình này, Cộng Sản rỏ ra cực kỳ khôn khéo. Họ không bao giờ tuyên truyền chủ nghĩa Cộng Sản theo đó ruộng đất phải tập thể hóa bởi vì nếu làm như vậy thì ai mà nghe theo. Họ chỉ nói rằng nông dân là chủ lực của cách mạng. Nếu nông dân theo Đảng thì sẽ làm chủ nông thôn, làm chủ đất đai, thế là gãi đúng chỗ ngứa của nông dân. Giả thử Đảng nói trong tương lai nông dân sẽ trở thành công nhân nông nghiệp, ruộng đất sẽ được tập thể hóa, không còn súc vật để cầy bừa hay nhà cửa, mà sẽ trở thành tá điền cho Đảng hoặc tá điền cho Nhà nước xã hội chủ nghĩa thì họ chẳng thèm để ý những lời lẽ ấy. Nông dân không bao giờ nghĩ đến tương lai xa xôi của chủ nghĩa Cộng Sản. Cán bộ Đảng đã được chỉ thị không bao giờ nhắc đến điều này vì theo lời chỉ dậy của Lê-nin nông dân là người có óc tư sản lớn nhất: họ chỉ nghĩ đến họ thôi. Chỉ hở một lời về chủ nghĩa tập thể là họ chống lại rồi. Đây là chân lý mà Đảng đã nghiên cứu và tìm cách khai thác.” (4)

Tóm lại, ở địa bàn trọng điểm là nông thôn, Cộng Sản đã nắm được thế chủ động ngay từ năm 1945, và sau Hiệp đinh Giơ-ne 1954 họ tiếp tục giữ thế chủ động. Chính quyền Nam Việt Nam do áp dụng một chính sách ruộng đất rụt rè, bảo thủ, không phù hợp với thực tế nên đã bỏ lỡ cơ hội giành lại quyền kiểm soát nông thôn. Sai lầm này sẽ đưa tới những hậu quả có thể nói là quyết định đối với cuộc chiến tranh Việt Nam.

1-3. Việt Cộng bắt đầu thành lập các đội du kích (1957)

Song song với hoạt động khống chế nông thôn chủ yếu còn nặng về chính trị, kể từ năm 1957 Việt Cộng bắt đầu xây dựng lại lực lượng quân sự, phần lớn dựa vào số người đã nằm vùng, chỉ có một số rất nhỏ là người tập kết ra Bắc xâm nhập qua nhiều ngả khác nhau vào nội địa Nam Việt Nam. Tháng 10, 1957 họ thành lập Đơn vị 250 là lực lượng sơ khởi ở miền Nam, gồm 37 Đại đội du kích chia ra 30 đại đội ở miền Tây, 2 đại đội ở miền Đông, và 5 đại đội ở miền Trung, đồng thời cũng đã phái cán bộ quân đội xây dựng cơ sở chính trị ở Cao Nguyên Trung phần Việt Nam làm điều kiện cho các hoạt động quân sự sau này.

Vào ngày 10 tháng 8, 1957 quân du kích Việt Cộng với sự trợ lực của một nhóm tàn quân Bình Xuyên mở cuộc tiến công đầu tiên vào một vị trí quân sự của Nam Việt Nam ở đồn điền Minh Thạnh thuộc quận Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Hoạt động quân sự này có thể coi như là tiếng súng khởi hấn đầu tiên của Cộng Sản mở đầu cho cuộc thôn tính Nam Việt Nam bằng vũ lực.

Năm 1957, ngoài vụ Minh Thạnh vừa kể, người ta đã ghi nhận được một số sự kiện khác đánh dấu giai đoạn manh nha nổi dậy vũ trang của Cộng Sản. Trong tháng giêng có 7 cuộc chạm súng giữa quân du kích Việt Cộng và lực lượng Chính phủ ở đồng bằng sông Cửu Long. Vào tháng hai khoảng 1 Trung đội du kích Việt Cộng tiêu diệt một toán Công dân vụ đang hoạt động ở xã Trị Bình cách tỉnh lỵ Tây Ninh 15 dặm về phía Nam. Riêng trong 3 tháng cuối năm trên toàn quốc đã có 140 vụ tiến công và khủng bố do Việt Cộng gây ra.

Bước sang năm 1958 Việt Cộng đẩy các hoạt động quân sự của họ lên một mức cao hơn. Phạm vi hoạt động mở rộng thêm, lực lượng sử dụng lớn hơn, và các mục tiêu tiến công có tầm quan trọng nhiều hơn.

Ở Nam phần Việt Nam, Việt Cộng gia tăng hoạt động ở cả miền Đông lẫn miền Tây. Những vùng Việt Cộng hoạt động mạnh nhất ở miền Tây là khu vực Đồng Tháp Mười giáp ranh với Cao Miên, và khu vực mũi Cà Mau ở cực Nam. Ở miền Đông hoạt động lan ra các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long và Bình Dương. Ở Cao Nguyên Trung phần, Việt Cộng cũng đã rục rịch nổi dậy, đồng thời ở miền Trung, phía Việt Nam Cộng Hòa đã phát hiện được những chỉ dấu cho thấy có các hoạt động tiếp tế ở vùng rừng núi của các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam dọc theo biên giới Lào.

Tháng 6, 1958 Cộng Sản thành lập “Bộ chỉ huy miền Đông Nam bộ” điều khiển một lực lượng sơ khởi gồm 3 Đại đội du kích, mỗi đại đội trên dưới 100 người, và một đại đội đặc công 65 người trong đó có cả một toán chế tạo mìn.

Khó mà ước tính chính xác lực lượng vũ trang của Việt Cộng. Cơ quan trung ương tình báo Hoa Kỳ cho rằng vào đầu năm 1958 lực lượng quân sự của Việt Cộng kể cả tàn quân của các giáo phái và Bình Xuyên dưới quyền khống chế của họ gồm khoảng 1.700 người. Con số này có vẻ thấp nếu đối chiếu với những tin tức mà các cán bộ Cộng Sản cao cấp bị bắt hoặc hồi chánh cho biết. Chẳng hạn như ở mỗi tỉnh, sau Hiệp định Giơ-ne, Việt Cộng đều giữ lại một tiểu đoàn chủ lực ẩn náu ở những vùng rất hẻo lánh hầu như người ngoài không thể lui tới được. Hơn nữa, trong việc ước tính lực lượng địch, có cơ quan chỉ tính đơn vị chủ lực, có cơ quan lại tính cả chủ lực lẫn dân quân, du kích.

Trong năm 1958, Việt Cộng đã tiến hành một số vụ tiến công cấp đại đội. Vào đầu năm khoảng 100 quân du kích Việt Cộng đánh đồn Thới Bình, và sau đó một lực lượng tương đương như vậy cũng đã đánh đồn Hưng Mỹ, cả hai đồn đều thuộc tỉnh An Xuyên ở khu vực Cà Mau. Tháng 6, khoảng 1 đại đội Việt Cộng tiến công trại tù ở PleiKu, giải thoát một số cán bộ Cộng Sản. Đáng chú ý nhất là vào đêm 10 tháng 8, 1958 khoảng 400 quân du kích Việt Cộng tiến công vào đồn điền cao su Michelin thuộc tỉnh Bình Dương do một đại đội quân đội Việt Nam Cộng Hòa phối hợp với lực lượng an ninh địa phương tổng cộng chừng 200 người trấn giữ. Trong trận này Việt Cộng không những thu được 100 vũ khí mà còn gây được một tiếng vang rất đáng kể về mặt tâm lý vì chưa đầy một tuần lễ trước đó Tổng thống Ngô Đình Diệm đã đến đây thị sát.

Tính chung, hoạt động khủng bố và tiến công vũ trang của Việt Cộng trong năm 1958 đã gây cho phía Việt Nam Cộng Hòa mỗi tháng thiệt hại chừng 20 nhân viên quân sự và 20 nhân viên dân sự gồm các chức việc xã ấp và Cảnh sát.

Thêm vào đó, nhiều xã ấp ở xa các thị trấn và các trục giao thông đã lọt vào vùng ảnh hưởng của Việt Cộng. Vào tháng 12, 1958 cơ quan trung ương đảng Lao động Việt Nam đã quyết định “mở một giai đoạn đấu tranh mới” chuyển sang nổi dậy công khai.

Căn cứ vào các hoạt động cụ thể của Việt Cộng từ đầu năm 1957 đến đầu năm 1959, người ta thấy nổi bật một số điểm quan trọng.

Bản “Đề cương đường lối cách mạng miền Nam” của ông Lê Duẩn chính là tài liệu chỉ đạo chiến lược chuẩn bị cho cuộc nổi dậy vũ trang lật đổ Chính quyền Nam Việt Nam. Phe ông Hồ Chí Minh chủ trương một cuộc nổi dậy mà chủ lực là nông dân trong nội địa Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam là căn cứ đầu não. Đảng Lao Động Việt Nam ở Hà Nội hoạch định chính sách, và Xứ Ủy Nam bộ (sau này đổi thành Trung ương cục miền Nam), một bộ phận của Đảng Lao Động Việt Nam, trực tiếp điều khiển cuộc nổi dậy, tùy nghi ứng xử cho phù hợp với tình huống thực tế ở địa phương.

Cuộc nổi dậy vũ trang được tiến hành từ thấp đến cao, từ cục bộ đến rộng khắp ở cả ba vùng chiến lược: nông thôn, rừng núi, thành thị. Tại nông thôn, nơi mà Cộng Sản mạnh thì họ kết hợp đấu tranh chính trị với quân sự; tại vùng rừng núi họ từng làm chủ từ trong chiến tranh 1945-1954, Cộng Sản tái lập các vùng căn cứ trực tiếp hỗ trợ quân sự cho nông thôn, trong khi tại thành thị, nơi họ yếu, Cộng Sản chú trọng đấu tranh chính trị, gián tiếp trợ lực về mặt tinh thần cho hoạt động của họ ở nông thôn.

Để lôi kéo nhân dân miền Nam, Cộng Sản tập trung vào ba chủ đề. Chủ đề thứ nhất xoáy vào vấn đề chống “Mỹ – Diệm” với mục đích chiến lược cực kỳ thâm độc ám chỉ chế độ Ngô Đình Diệm là tay sai của Hoa Kỳ, chủ đề thứ hai dề cao chủ trương người cầy có ruộng mà Việt Minh đã thực hiện từ Cách mạng tháng 8, 1945, và chủ đề thứ ba khai thác những bất công thực sự cũng như giả tưởng trong xã hội miền Nam. Trong giai đoạn chuẩn bị nổi dậy, Cộng Sản tiến hành nhiều phương thức đấu tranh ăn khớp với mọi tình huống. Về chính trị, Cộng Sản lập các hội đoàn bí mật, tổ chức mít-tinh, biểu tình, ám sát, bắt cóc, dọa nạt, thu thuế, phá hoại, binh vận, chống quân dịch v.v… Trong phạm vi quân sự, các đơn vị du kích Việt Cộng chủ yếu nhằm tiêu hao lực lượng Bảo an, Dân vệ trực tiếp bảo vệ xã ấp, tránh giao tranh với lực lượng chính quy của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa trừ trường hợp ở trong điều kiện hoàn toàn có lợi cho họ. Qua các cuộc đấu tranh chính trị và quân sự phối hợp chặt chẽ với nhau, trong giai đoạn chuẩn bị nổi dậy vũ trang, Cộng Sản đã tìm mọi cách tách dần xã ấp, từ xa đến gần, khỏi sự kiểm soát của đồn bót, quận lỵ và tỉnh lỵ, và chính quyền trung ương ở Sàigòn. Tóm lại, với chiến lược nổi dậy vũ trang, Cộng Sản đã đẩy Chính quyền Nam Việt Nam vào thế phải đối đầu với một cuộc chiến tranh du kích bề ngoài có vẻ như là một cuộc nội chiến trong nội địa Nam Việt Nam nhưng kỳ thực Hà Nội chính là người lãnh đạo, tổ chức, và tiến hành, lúc đầu với một hệ thống cán bộ chính trị và quân sự nằm vùng từ năm 1954, và sau này khi chiến tranh phát triển đến mức độ cao hơn, với toàn thể “sức người sức của” của Bắc Việt Nam.

1-4. Hà Nội quyết định cho Việt Cộng chuyển sang nổi dậy công khai ở miền Nam Việt Nam (1959)

Tin tức liên quan đến việc Cộng Sản mở “một giai đấu tranh mới” mà giới tình báo Hoa Kỳ thâu lượm được trong tháng 12, 1958 chẳng bao lâu đã được xác nhận. Vào tháng giêng 1959, Ban chấp hành trung ương đảng Lao Động Việt Nam ở Hà Nội họp hội nghị lần thứ 15 chính thức ra nghị quyết xác định “nhiệm vụ cách mạng Việt Nam và cách mạng miền Nam” như sau:

“Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh để giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, ra sức củng cố miền Bắc và đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa…

Đối với miền Nam, “nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cầy có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam…

Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ.

Để thực hiện những nhiệm vụ trên, nghị quyết 15 đã khẳng định: Ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ…

Nghị quyết còn vạch rõ: Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, bằng sức mạnh của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang.

Nghị quyết cũng dự đoán: Đế quốc Mỹ là tên đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Trong tình hình đó, cuộc đấu tranh sẽ chuyển sang một cục diện mới là: Chiến tranh trường kỳ giữa ta và địch, và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta.” (5)

Không còn nghi ngờ gì nữa, sau giai đoạn chiến tranh thầm lặng gồm hai năm đấu tranh chính trị (1954-1956) đòi Tổng tuyển cử thống nhất đất nước không thành công, và hai năm đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang quy mô nhỏ (1957-1958) chuẩn bị cho một hướng đi mới, Cộng Sản Việt Nam đã quyết định dứt khoát lật đổ Chính quyền Nam Việt Nam bằng “bạo lực cách mạng”

Cũng như bản “Đề cường đường lối cách mạng miền Nam”, Nghị quyết 15 của Cộng Sản Hànội ra đời trong lúc tình hình thế giới vào thời kỳ hậu Xta-lin vẫn còn yên ắng. Nó không đi ra ngoài khuôn khổ của đường đối “đấu tranh bằng phương cách hòa bình” của Liên Xô, nghĩa là không chủ trương xâm lược, công khai, ồ ạt, vượt qua giới tuyến quân sự như ở Triều Tiên năm 1950. Thực chất nghị quyết 15 của Cộng Sản Hà Nội nhằm một mục tiêu trước mắt là cứu nguy cho đội ngũ cán bộ của họ nằm vùng ở miền Nam đang bị truy lùng gắt gao, bị rệu rã, có nguy cơ bị Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tiêu diệt, đồng thời cũng hướng tới một mục tiêu lâu dài mà họ đã ấp ủ từ lâu là làm chủ toàn thể đất nước Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau.

Sau Nghị quyết 15 của Cộng Sản Hà Nội, tình hình chiến sự ở Nam Việt Nam trở nên sôi động. Việt Cộng đẩy hoạt động của họ lên một mức cao hơn về lượng cũng như phẩm. Về đấu tranh chính trị thì tháng 2, 1959 nhật báo “Cách Mạng Quốc Gia”, cơ quan ngôn luận của một tổ chức chính trị ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm , xác nhận “tình hình nông thôn ung thối”. Việt Cộng đã thành lập tại mỗi xã một chi bộ Đảng phụ trách thu thuế, thu thóc, và làm công tác do thám. Ở các xã ấp bị cô lập, họ đã tổ chức những ủy ban quân sự và hành chánh cai trị dân chúng theo những chỉ thị của tỉnh ủy và xứ ủy. Các chương trình hành chánh và kinh tế của chính phủ bị cản trở. Đường sá bị cắt, cầu cống bị đánh sập. Trong tháng 5 đã có 21 máy cầy và một tầu vét kinh trị giá 245 ngàn đô-la, tất cả đều thuộc viện rợ Mỹ giúp cho việc tái thiết Nam Việt Nam, đã bị phá hoại bằng chất nổ.

Trong 6 tháng cuối năm 1959, số vụ ám sát các viên chức chính quyền xã ấp và cảnh sát tăng gấp đôi so với cuối năm 1958 và đầu năm 1959, và số vụ bắt cóc những đối tượng đó cũng tăng vọt, từ 236 vụ trong toàn năm 1958 lên 348 vụ chỉ riêng trong 6 tháng sau của năm 1959. Ở một số nơi thuộc đồng bằng sông Cửu Long và ở Cao Nguyên Trung phần đã có một số vụ gọi là “nổi dậy tự phát” do Việt Cộng dàn dựng. Trong lãnh vực quân sự, đã có những chuyển biến rõ nét.

Vào tháng 1, 1959 Hànội chỉ thị cho Việt Cộng thành lập 2 căn cứ du kích, một ở Tây Nguyên (tức là Cao Nguyên Trung Phần) và một ở phía Bắc tỉnh Tây Ninh.

Trong vùng Chiến Khu Đ cách Sàigòn khoảng 50 cây số về phía Đông Bắc, các đơn vị Việt Cộng không còn tránh né mà đã ra mặt đối đầu với các đơn vị chính quy của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Điển hình là ở khu vực rừng núi đó, trong tháng 3, 1959 đã có 10 vụ chạm súng giữa du kích Việt Cộng và quân Chính phủ; và vào tháng 5, 1959 một lực lượng Việt Cộng đã chặn đứng nhiều đợt tiến công của 1 Tiểu đoàn quân chính phủ, sau đó rút êm trước khi pháo binh can thiệp. Hoạt động quân sự của Việt Cộng trong 6 tháng cuối năm 1959 cũng tăng thêm nhiều. Tính trung bình, mỗi tháng có hơn 100 vụ tiến công và phục kích. Đáng kể nhất là vào tháng 10, 1959 khoảng 1 đại đội Việt Cộng đã đột nhập quận lỵ Kiến An thuộc tỉnh Kiến Phong ở đồng bằng sông Cửu Long, giết Quận trưởng cùng với 6 Bảo An và lấy đi hơn 20 vũ khí.

Đặc biệt giữa năm 1959, Việt Cộng đã chủ động gây ra một biến cố rất có ý nghĩa về mặt chính trị khiến cho dư luận trong nước và thế giới phải chú ý. Đêm 8 tháng 7, một toán Việt Cộng đột nhập vào chỗ ở của Đoàn Cố Vấn Hoa Kỳ làm việc cạnh Sư đoàn 7 của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại Biên Hòa cách Sàigòn 30 cây số về phía Bắc, giết chết 2 và làm bị thương 1 người Mỹ. Thiếu tá Dale R. Buis và Thượng sĩ Chester M. Ovnand là hai quân nhân Hoa Kỳ đầu tiên chết vì công vụ trong chiến cuộc Việt Nam.

1-5. Cộng Sản Bắc Việt thành lập Đoàn 559 (1959)
phụ trách mở đường vận tải chiến lược để xâm nhập
quân lính và vũ khí qua Lào và Nam Việt Nam

Tuy nhiên, có một biến cố khác không ồn ào mà lại nguy hiểm đến vận mệnh của Việt Nam về lâu dài, đó là việc Cộng Sản Hànội âm thầm mở hành lang chiến lược xâm nhập quy mô qua lãnh thổ Lào vào Nam Việt Nam.

Để thực hiện Nghị quyết 15, vào ngày 19 tháng 5, 1959 Bộ chính trị đảng Lao Động Việt Nam quyết định “thành lập Đoàn 559 với nhiệm vụ được giao ban đầu là mở đường giao liên mở đường vận tải quân sự chiến lược, để chi viện sức người, sức của cho nhân dân miền Nam đánh Mỹ.” (6)

Đoàn 559 sơ khởi gồm một số cán bộ chỉ đạo, và bộ phận Kỹ thuật, và Tiểu đoàn 301 của quân đội Bắc Việt, tổng cộng chừng 500 người đặt dưới quyền chỉ huy của Võ Bẩm, nguyên là một cán bộ quân sự của Liên Khu 5 tập kết ra Bắc, và sau này trở thành một tướng lãnh. Công tác mở hành lang xâm nhập do Nguyễn Văn Vịnh, Thiếu tướng Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Bắc Việt giám sát và trực tiếp báo cáo lên Quân Ủy trung ương.

Thực ra từ trước năm 1959 Hà Nội vẫn duy trì đường dây Thống nhất liên lạc với Trị Thiên, Liên Khu 5, và Tây Nguyên (Cao Nguyên Trung phần) do các địa phương phụ trách. Nay Cộng Sản quyết định tiến hành chiến tranh ở miền Nam nên phải làm hành lang chiến lược do Trung ương quản lý. “Hành lang của trung ương làm từng bước vững chắc, từ nhỏ đến lớn, từ vươn tới một đoạn ngắn, đến phát triển sâu vào các chiến trường. Lúc đầu vận tải bằng phương thức thô sơ, ráo riết chuẩn bị vẽ đường để tiến lên cơ giới hóa khi tình thế đã đến.” (7) Tuyến đường chiến lược này đánh dấu bước leo thang đầu tiên của Cộng Sản, và sau này sẽ đóng vai trò quyết định trong chiến tranh Việt Nam.

Đoàn 559 mò mẫm soi đường cả tháng trời, cuối cùng đã chọn địa điểm vượt qua ở chỗ cách đồn Rào Quản thuộc tỉnh Quảng Trị của Nam Việt Nam có 500 mét là nơi khuất nẻo, lại có những khe nhỏ chạy sát đường 9, dễ ẩn núp để luồn cống ngang qua.

Phương tiện vận tải của họ lúc đầu chỉ gồm có gùi đeo trên lưng và xe đạp thồ. Hàng chuyển vào Nam gồm vũ khí và đồ tiếp tế nguyên là chiến lợi phẩm trong thời chống Pháp, không dùng đồ mang nhãn hiệu miền Bắc hay các nước Cộng Sản khác để phi tang trong trường hợp bị phát hiện. Còn cán binh xâm nhập thì là người miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954.

Ngoài Đoàn 559, vào tháng 7, 1959 Hà Nội còn thành lập đoàn 759 phụ trách mở hành lang xâm nhập đường biển, và vào tháng 9, 1959 thành lập đoàn 959 tiếp tế cho Pathet Lào và quân đội Bắc Việt Nam hoạt động ở Lào.

(1) Race, Jeffrey, Chiến tranh đến Long an (” War comes to Long an”), Sách bìagiấy, NXB University of California Press, 1973, trang 74.

(2)Race, Jeffrey, sđd, trang 81.

(3) Race, Jeffrey, sđd, trang 84.

(4) Race, Jeffrey, sđd, trang 97- 98.

(5) Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập II, trang 22- 23.

(6) Trường Sơn , Cuộc hành trình năm ngàn ngày đêm ( Đường Hồ chí Minh), NXB Văn Nghệ, TP Hồ chí Minh, Việt Nam, 1992, trang 10.

(7) Trường Sơn, sđd, trang 31.

—>Chương 2

This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN ĐỨC MINH: Một Thời Nhiễu Nhương, Việt Sử. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s