MỘT THỜI NHIỄU NHƯƠNG: Phần V

CHƯƠNG 1

CHIẾN TRANH GIỮA HAI MIỀN NAM BẮC VIỆT NAM
SAU NĂM 1954 TRỞ ĐI
LÀ NỘI CHIẾN
GIỮA NGƯỜI CỘNG SẢN
VÀ QUỐC GIA VIỆT NAM

Thực vậy, cuộc chiến tranh từ 1945 đến 1975 ở Việt Nam cực kỳ phức tạp. Riêng cái tên của nó thôi cũng đã phức tạp lắm rồi bởi vì mỗi người gọi một phách tùy theo lập trường chính trị của họ.

Cộng sản Việt Nam trước sau như một gọi đó là “Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc”. Tuy nhiên, khi cần phải tách bạch thì gọi giai đoạn từ 1945 đến 1954 là “Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp” và giai đoạn từ 1957 đến 1975 là “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. Xen vào giữa hai giai đoạn chiến tranh là giai đoạn hoà bình ngắn ngủi theo hiệp định Giơ-ne từ 1954 đến 1956.

Một số người viết Mỹ, đứng đầu là Marvin E. Gettleman, đã có quan điểm tương tự khi gọi hai giai đoạn chiến tranh đó theo thứ tự là ” Cuộc chiến tranh của Pháp” và “Cuộc chiến tranh của Mỹ”. Họ cố ý không đề cập đến việc đông đảo người Việt Nam không Cộng sản đã đánh nhau với người Việt Nam Cộng sản trong cả hai giai đoạn chiến tranh. Với cách gọi này, họ ám chỉ những người Việt Nam không đứng về phía Cộng sản là tay sai của người Pháp và người Mỹ.

Nhiều tác giả trên thế giới, chủ yếu là Pháp, lại gọi cuộc chiến tranh đó là “Cuộc chiến tranh Đông dương” với ngụ ý chiến tranh đã diễn ra ở cả ba nước Việt Nam, Lào, Kampuchea từng hợp thành Liên bang Đông Dương dưới thời cai trị của Pháp trước năm 1945, và đều đã liên hệ đến một mức độ đáng kể trong chiến tranh. Theo từng giai đoạn một, họ gọi là “Chiến tranh Đông dương lần thứ nhất” và “Chiến tranh Đông dương lần thứ hai”.

Một khuynh hướng khác chỉ tập trung vào giai đoạn từ 1957 đến 1975, gọi đó là “Cuộc chiến tranh Việt Nam”. Cũng theo khuynh hướng này, lại có một số người đã dùng từ “Cuộc nội chiến ở Nam Việt Nam”, hàm ý đó là cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam chống chính quyền Việt Nam Cộng Hoà và Mỹ là người can thiệp. Đối với giai đoạn chiến tranh 1945 -1954, những người cùng khuynh hướng không dùng một từ thống nhất; có người gọi là: Cuộc chiến tranh Pháp – Việt” hay “Cuộc chiến tranh Việt – Pháp”, có người lại gọi là “Cuộc chiến tranh Pháp – Việt Minh”.

Thực tại chiến tranh ở Việt Nam từ 1945 đến 1975 không đơn giản nên tìm ra một từ thích hợp hoàn toàn không phải là dễ dàng. Gọi tên một cái gì đó phần lớn là do thói quen, do bắt chước, nhưng trong một số trường hợp nó phản ánh tư duy của người dùng chữ. Trong cuốn sách này tôi dùng từ “Chiến tranh Việt Nam” để chỉ toàn bộ cuộc chiến tranh từ 1945 đến 1975 bởi vì mặc dù diễn ra trên cả bán đảo Đông dương nhưng Việt Nam vẫn là chiến trường chính quyết định đại cuộc và chiến tranh ở Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 chỉ là sự tiếp tục cuộc chiến tranh đã diễn ra từ năm 1945 đến năm 1954 khi có Hiệp định dình chiến Giơ-ne.

“Chiến tranh Việt Nam” như tôi gọi gồm hai giai đoạn. Giai đoạn I kéo dài từ 1945 đến 1954 trong đó vào mấy năm đầu Pháp là kẻ xâm lược, và Việt Minh, một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm cả những người Việt Nam không Cộng sản, là đại diện cho phía chống xâm lược Pháp. Kể từ năm 1950 sau khi Việt Minh chính thức đứng về phe Cộng sản quốc tế, chiến tranh chống xâm lược chuyển dần sang chiến tranh ý thức hệ với một bên là Cộng sản Việt Nam vẫn núp dưới danh hiệu “Việt Minh”, và một bên là phe không Cộng sản Việt Nam, từ bỏ hàng ngũ Việt Minh để thành lập một Chính quyền quốc gia tạm thời liên minh với Pháp chống lại Cộng sản. Giai đoạn II từ năm 1954 đến năm 1975 là chiến tranh giữa người Việt Nam với nhau trong đó Cộng sản chiếm lĩnh miền Bắc Việt Nam và phe không Cộng sản chiếm lĩnh miền Nam Việt Nam.

Việc đặt tên này phản ánh trung thực tình hình ở Việt Nam cũng như trên thế giới sau Thế chiến II. Ở Việt Nam thực sự đã có tranh chấp giữa người Cộng sản và không Cộng sản ngay cả trước khi thực dân Pháp tái chiếm Đông dương năm 1945. Trên thế giới cũng thực sự đã có sự tranh chấp nhau giữa những thế lực Cộng sản và không Cộng sản. Chiến tranh nóng ở Việt Nam và chiến tranh lạnh trên thế giới có liên hệ với nhau và tác động lẫn nhau.

Sự kiện này đã được lịch sử xác minh. Vào những năm 1930, phong trào nổi lên giành độc lập của người Việt Nam đã lên đến đỉnh cao, đối với Việt Nam Quốc dân đảng là vụ khởi nghĩa Yên bái, và đối với Cộng sản là vụ Xô viết Nghệ tĩnh. Sau khi cả hai phong trào đều bị dập tắt, những người cách mạng Việt Nam phần lớn phải lánh sang Trung quốc để tiếp tục hoạt động chống Pháp. Rồi Thế chiến II bùng nổ, nhất là sau khi quân đội Nhật vào Đông dương, phong trào cách mạng lại bùng lên. Ở Việt Nam người Nhật ủng hộ một số đảng phái, tổ chức không Cộng sản chống Pháp, và ở Trung Quốc, chính quyền Quốc dân đảng giúp đở các tổ chức cách mạng thuộc các khuynh hướng khác nhau hợp nhất lại thành “Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội” chống cả Pháp lẫn Nhật do Cụ Trương bội Công và tiếp đến là cụ Nguyễn hải Thần làm Chủ tịch. Vào dịp này, ông Hồ chí Minh lúc đó còn mang tên Nguyễn ái Quốc được nhà cầm quyền Trung quốc vận động cho sung vào Ủy ban chấp hành làm Ủy viên dự khuyết , và với tư cách đó được cử về công tác ở mấy tỉnh giáp giới Trung quốc. Ngoài ông Hồ chí Minh, “Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội” cũng đã phái ông Vũ hồng Khanh thuộc Việt Nam Quốc dân dảng về hoạt động ở vùng Lào kay.

Lợi dụng cơ hội tốt, ông Hồ chí Minh gấp rút phát triển “Việt Nam Độc lập đồng minh Hội” viết tắt là “Việt Minh”, một tổ chức của Cộng sản ở nội địa Việt Nam lúc đó, và mồi chài Sở chiến lược vụ OSS của Hoa kỳ ở Trung quốc qua việc cung cấp tin tức về hoạt động của quân đội Nhật ở Đông dương. Do sự móc ngoặc này, những người chủ chốt của phía Hoa kỳ ở Trung quốc có cảm tình với Việt Minh và yên trí Việt Minh là những người theo chủ nghĩa quốc gia (phía Cộng sản gọi là chủ nghĩa dân tộc) nên đã vận động với Bộ Ngoại giao Hoa kỳ công nhận chính quyền Hồ chí Minh sau khi Nhật bản đầu hàng Đồng minh. Chính cảm tưởng sai lạc này tồn tại suốt mấy chục năm, và phe phản chiến Mỹ vào thập niên 60 đã dựa vào đây để chứng minh cho luận điểm của họ là Cộng sản Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia trên hết.

Không phải chỉ có tình báo Mỹ bị lừa. Tháng 8 năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, họ đã được đại đa số nhân dân ủng hộ. Ai cũng ngỡ Việt Minh là một phong trào chống Pháp giành độc lập quốc gia bởi vì Việt Minh đã giấu nhẹm hình tích Cộng sản của họ. Khẩu hiệu “Thành lập chính phủ công nông binh” sặc mùi Cộng sản như vậy đã được công bố trong bản tuyên ngôn thành lập đảng Cộng sản Đông dương năm 1930 không được nhắc tới nữa, và năm 1941, ông Hồ chí Minh hô hào mọi người từ những người giàu có, binh lính, thợ thuyền, trí thức, công chức, thương gia, thanh niên, phụ nữ có lòng yêu nước nồng nàn đồng tâm hiệp lực đánh đổ Nhật, Pháp, và tay sai để cứu dân tộc khỏi cảnh dầu sôi lưả bỏng vì “lúc này giải phóng dân tộc là việc quan trọng nhất”.

Chẳng ngạc nhiên gì Khâm sai Phan kế Toại ở Hà Nội ngả theo Việt Minh khi họ rục rịch chuẩn bị cho cuộc biểu tình cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm 1945. Cũng chẳng ngạc nhiên gì khi Bác sĩ Nguyễn xuân Chữ, một người trong Ủy ban chỉ đạo chính trị tại bắc phần Việt Nam của Chính phủ Trần trọng Kim thuộc Triều đình Huế lúc đó, cho lệnh Bảo an binh đưa quân tới bảo vệ phủ Khâm sai thì một viên Trung úy chỉ huy phó đã nói: “Người ta cũng là quốc gia cả”. (1)

Sự ủng hộ nồng nhiệt của nhân dân đối với phong trào Việt Minh hồi đó đã được Bác sĩ Nguyễn xuân Chữ ghi lại một cách trung thực: “không những quốc dân đã xa Triều đình, ở cả các nơi chính quyền, khắp các chính giới, các ngành chuyên môn thuộc Triều đình, lại ở ngay quân đội của triều đình, không nơi nào thấy một cột nhỏ có thể dựng được” (2)

Tuy nhiên, nắm được chính quyền rồi, Việt Minh làm ngược lại những điều họ đã công khai hô hào, và triệt để thực hiện phương châm “không theo ta là kẻ thù của ta”. Nhiều người làm cách mạng có tên tuổi nhưng không thuộc khuynh hướng Cộng sản đã bị sát hại hoặc cầm tù. Những đảng viên của các đảng Cách mạng không Cộng sản, và những người dân tầm thường bị nghi ngờ có cảm tình với các đảng này đều đã bị âm thầm thủ tiêu.

Lúc người Pháp đưa quân ra miền bắc Việt Nam theo Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 do chính quyền Hồ chí Minh ký kết với họ thì Việt Minh đã hợp lực với lực lượng Pháp triệt hạ tất cả các cơ sở của Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội, và nhiều đảng phái khác nữa để độc quyền cai trị và mặc sức thương thuyết với Pháp theo đường lối và kế hoạch riêng của họ.

Khi quan hệ của Pháp và Việt Minh đi đến chỗ tan vỡ thì Việt Minh tiến hành kháng chiến. Trong mấy năm đầu, những đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, cũng như cán bộ ở Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tổng tư lệnh phần đông thuộc thành phần tiểu tư sản. Nhưng lần hồi lớp người có học xuất thân từ những gia đình giàu có và quan lại thời trước đã bị loại bỏ ngoại trừ một số ít đồng hoá với Cộng sản.

Vào thời kỳ giải pháp Bảo Đại thành hình thì Việt Minh còn quyết liệt hơn nữa trong việc loại bỏ các cán bộ quân sự và hành chính gốc gác tiểu tư sản. Đặc biệt đến giai đoạn Việt Minh bắt tay được với Cộng sản Trung quốc (1950) họ đã cải tổ lại toàn bộ hệ thống tổ chức theo kiểu Cộng sản, và triệt hạ luôn cả những người tiểu tư sản đồng hoá với họ đang tích cực tham gia kháng chiến.

Với sự ra đời của Hiệp định Giơ-ne năm 1954, người Việt Nam không Cộng sản đã đứng chân được ở một miền đất riêng biệt, và bắt đầu xây dựng một chính quyền có thể thống. Hai chính quyền Nam, Bắc Việt Nam công khai đứng vào hai phe đối nghịch nhau trên thế giới.

Tranh chấp Quốc-Cộng đã âm thầm diễn ra ngay cả trong khoảng thời gian hoà bình ngoài mặt. Sau khi ngưng bắn, Hà Nội dùng nhóm Nguyễn hữu Thọ, Trịnh đình Thảo, Phạm huy Thông ở Sàigòn núp dưới nhãn hiệu trí thức đòi chính quyền Nam Việt Nam thi hành những điều khoản của Hiệp định Giơne có lợi cho họ. Ngoài ra, Hà Nội cũng đã cho lệnh những phần tử Cộng sản nằm vùng ở miền Nam Việt Nam hợp tác về mặt quân sự với tàn quân của các giáo phái để kéo dài sự chống đối với chính quyền Ngô đình Diệm lúc đó đang nổ lực thống nhất quyền hành ở miền đất dưới quyền quản lý của mình.

Năm 1957 khi thấy không còn hy vọng thôn tính miền Nam Việt Nam bằng phương pháp hoà bình, Hà Nội cho người của họ nổi dậy, và đến năm 1960 thì chính thức thành lập “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” trong khuôn khổ chiến lược hai đảng, hai chính quyền theo đó tạm thời ở bắc Việt Nam có “Đảng Lao động Việt Nam” và chính quyền “Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà” trong khi đó “Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam” bí mật chỉ huy “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam”, một thứ chính quyền trong bóng tối của Cộng sản đối nghịch với chính quyền Nam Việt Nam ở nội địa Nam Việt Nam.

Chiến lược phân thân của phe ông Hồ chí Minh đã làm cho biết bao người trong nước cũng như ngoài nước ngộ nhận “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” là một tập hợp những người ở miền Nam Việt Nam chống lại chính quyền Nam Việt Nam mà Cộng sản đã gọi một cách xỏ lá là “Mỹ-Diệm”

Đối với người Việt Nam ở miền Nam, không ít người nhất là ở thôn quê đã ngỡ cái mặt trận đó là thuần túy của người miền Nam chống lại chính quyền miền Nam, tay sai Mỹ. Nhiều tay trí thức khờ khạo, và một số người nặng đầu óc địa phương Nam Kỳ cũng tưởng rằng “Mặt trận” đó là một thực thể độc lập với Hà Nội khi được cán bộ Cộng sản toàn là gốc gác miền Nam móc nối. Sự thể này giống hệt như hồi 1945 khi người Việt Nam từ Bắc chí Nam đã ngỡ, đã tưởng Việt Minh là một phong trào yêu nước chống thực dân Pháp, không có hơi hướng Cộng sản. Việc ngộ nhận đó càng thấm dần vào đầu óc người ta mạnh hơn nữa khi khối Cộng sản quốc tế đứng đầu là Liên xô và Trung cộng với chủ đích tranh ăn với Hoa kỳ đã hết sức tô son điểm phấn cho “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” và kéo luôn cả các nước thuộc “Phong trào không liên kết” trên thế giới ủng hộ cái Mặt trận đó nữa. Rồi theo thời gian, vào giai đoạn hoà đàm ở Paris, Hà Nội lại đạo diễn cho nâng cấp cái “Mặt trận” đó thành “Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam” tức là một thứ Chính quyền hẳn hoi chống lại Chính quyền miền Nam Việt Nam, và khối Cộng sản lại ùa nhau công nhận.

Hoa kỳ, đồng minh của Nam Việt Nam, ở vào thế khó xử. Một số người trong chính quyền Johnson cũng tưởng “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” là một tổ chức chính trị của nhân dân miền Nam được Hà Nội ủng hộ chứ không phải do Hà Nội nặn ra. Khuynh hướng này càng ăn khách hơn nữa khi Hoa kỳ do áp lực phản chiến phải chấp nhận “Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam” như là một chính phủ trên thực tế khác với Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà vào giai đoạn chót của cuộc hoà đàm Paris.

Pháp, không còn là bạn nhưng chưa phải là thù của Nam Việt Nam, dưới thời Tổng Thống De Gaulle đã coi “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” như là một thực thể độc lập với Hà Nội. Khi quân lính của Hà Nội sắp chiếm Sàigòn, Chính phủ Pháp dưới thời Tổng Thống Giscard d’Estaing vẫn theo đuổi đường lối ấy, và đã cố gắng dàn xếp cho một Chính phủ liên hiệp giữa Chính quyền sau chót của Việt Nam Cộng Hoà do tướng Dương văn Minh lãnh đạo và tướng Trần văn trà, Tư lệnh” Quân giải phóng miền Nam Việt Nam” mà người ta cho là không thuộc Hà Nội !

Đằng sau Chính quyền Hoa kỳ và Pháp, cả một lô học giả tác giả của nước họ, vì những động cơ khác nhau, đã trình bầy luận điểm của họ theo đó “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” như là một bộ phận thuần túy của người miền Nam tự phát nổi lên chống các chế độ độc tài kế tiếp nhau nắm chính quyền ở miền Nam Việt Nam, và chống lại sự can thiệp của Hoa kỳ. Đã có một nhóm người trong số họ còn nói rằng cuộc nổi dậy ở miền Nam đã diễn ra bất chấp lệnh của Hà Nội !

Sau khi quân lính của Hà Nội đã chiếm Sàigòn ngày 30 tháng 4 năm 1975, Hà Nội công nhiên cho biết chính họ là người tổ chức mọi thắng lợi ở Việt Nam. Trước đó, Cộng sản đã nói láo. Bọn thợ viết trên thế giới đã nói láo. Tất cả đều là bịp bợm, và trong lịch sử thế giới chưa có một vụ lừa bịp lớn lao và nghiêm trọng như vậy. Con đĩ thập thành mà người ta lại lập hương án để thờ!

Mấy ngàn năm về trước, một nhà hiền triết Trung hoa đã nói rằng làm chính trị mà lầm thì hại một đời, nhưng làm văn hoá mà lầm thì hại đến muôn đời. Bọn chính khách hoặc ngờ nghệch hoặc ác ý, bọn buôn chữ hoặc dốt nát hoặc bất chính từng làm người ta ngộ nhận “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” là một thực thể độc lập với Hà Nội đều đáng nọc ra đét vào đít một roi để giải oan cho mấy triệu người Việt Nam đã chết, và đã đau khổ về thể chất cũng như tinh thần trong cuộc chiến tranh Việt Nam và do hậu quả của việc Hà Nội thôn tính Nam Việt Nam.

Giải oan cho người Việt Nam Không Cộng sản chưa đủ mà còn phải mở lòng thương cảm cho thân phận những người miền Nam trót tưởng rằng “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” không phải là Cộng sản bởi vì khi chiếc mặt nạ “con nhà lành” đã rơi, nghĩa là khi Hà Nội khai tử một cách không kèn không trống cái “Mặt trận” mà họ đã dựng lên trước kia thì những kẻ nào nho nhe là bị phục viên hoặc biến thành thuyền nhân chuồn khỏi cái miền Nam đã được “giải phóng”.

Bây giờ mọi chuyện đã thuộc về quá khứ. Tuy nhiên, cần nói rằng danh xưng, tổ chức “Mặt trận Việt Minh” năm 1945 và “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” năm 1960 đã đặt người Việt Nam không Cộng sản vào tâm trạng phân vân, rồi từ phân vân đi đến chỗ thất thế. Khi nhận ra sự thật phũ phàng thì đã quá trễ. Năm 1954 Cộng sản chiếm nửa nước, và năm 1975 nửa nước còn lại bị Cộng sản thôn tính nốt.

Đặc biệt trong giai đoạn II của “Cuộc chiến tranh Việt Nam”, chiến lược phân thân của Cộng sản đã đẩy Nam Việt Nam và Hoa kỳ vào thế danh không chính ngôn không thuận. Một khi người ta yên trí rằng “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” là một thực thể độc lập với Hà Nội và không thấy được sự xâm nhập cụ thể của quân Cộng sản Bắc Việt thì cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam trở thành một cuộc nội chiến của những người miền Nam nổi dậy chống chính quyền, và do đó sự can thiệp của Hoa kỳ là không chính đáng, và dần dà phản chiến Mỹ leo thang chữ nghĩa gọi đó là “cuộc chiến tranh vô đạo đức” để lung lạc công chúng Hoa kỳ chủ trương chỉ tham dự chiến tranh trên cơ sở đạo đức.

Tóm lại, do chiến lược phân thân của Cộng sản, những người Việt Nam không Cộng sản đã không xác định được tư thế chính nghĩa của mình một cách hoàn toàn rõ ràng, và đây là điểm yếu đầu tiên và cơ bản nhất của Nam Việt Nam trong khi chống lại cuộc chiến tranh do Cộng sản chủ mưu và tiến hành.

(1) Nguyễn xuân Chữ, Hồi ký, NXB Văn hóa , Hoa kỳ, 1996, trang 282.

(2) Nguyễn xuân Chữ, sđd, trang 279.

—>Chương 2

This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN ĐỨC MINH: Một Thời Nhiễu Nhương, Việt Sử. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s