MỘT THỜI NHIỄU NHƯƠNG: Tựa – Mục Lục – Cảm Tạ

Sách này in 500 bộ,
đánh số từ 1 đến 500
Không bán, chỉ dùng vào việc khảo cứu. Qúy vị nào cần xem,
xin vui lòng tìm ở một số trường Đại Học, Thư Viện và Cơ Sở Văn Hóa.

TỰA

Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1975. Phía không Cộng sản ở Việt Nam đã thua. Hai miền Nam Bắc Việt Nam không còn là những thực thể riêng biệt nữa mà đã thống nhất dưới quyền cai trị của Cộng sản.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 những người Việt Nam ở miền Nam Việt Nam chạy thoát ra nước ngòai bị dè bỉu, miệt thị, và phải chật vật với cuộc sống lưu vong ở xứ người; những người kẹt lại bị hành hạ, ngược đãi, và âm thầm chịu đựng chính sách hà khắc của Cộng sản. Một người nào đó thốt ra vẻn vẹn có một câu mà đã nói lên được hết tình cảnh thê thảm của người miền Nam Việt Nam phải sống dưới chế độ sắt máu của Cộng sản : “Cái cột đèn mà đi được thì nó cũng đi.”

Cuối thập niên 1970 sang đầu thập niên 1980 người miền Nam Việt Nam ồ ạt chạy trốn Cộng sản ra nước ngoài trên những con thuyền ọp ẹp thập tử nhất sinh . Đã có cả trăm ngàn người nằm sâu dưới lòng biển Đông , chưa kể biết bao nhiêu người bị hải tặc cướp bóc , hãm hiếp, giết chóc rất man rợ, và cũng đã có cả những vụ ngươi tị nan hết lương thực giữa biển cả mênh mông phải ăn thịt lẫn nhau. Hết làn sóng “thuyền nhân” lại có lớp người bỏ xứ theo “chương trình ra đi có trật tự ”, tiếp đến là những đợt tạ từ quê hương sau khi đã may mắn sống sót qua những năm tù đầy đằng đẵng, rồi lại đến nhóm người trốn đi bị trả về, và về rồi lại được ra đi hợp pháp. Ước lượng có gần hai triệu người Việt Nam, phần lớn ở miền Nam , đã định cư hầu như ở khắp đại lục trên thế giới.

Thời gian trôi qua, nhân dịp Cộng sản Việt Nam chuyển từ chiến lược lấy chiến tranh nuôi chiến tranh sang chiến lược buôn người lấy đô la Mỹ có một số người Việt Nam tị nạn bỗng dưng chửi lại quá khứ của mình. Họ đã nghe lời chiêu dụ của Cộng sản hoặc theo đuôi một bọn điếm chữ nước ngoài nói rằng chiến tranh Việt Nam thuần túy là “chiến tranh giải phóng dân tộc “. Cùng với những người này, một số người được gọi hoặc tự xưng la trí thức và chính khách của miền Nam Việt Nam hồi trước đã bất chấp liêm sỉ hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc, giao lưu văn hóa hòng kiếm miếng đỉnh chung do Hànội vứt ra vào giai đoạn mà Cộng sản Việt Nam chủ trương “đổi mới “ với mục đích tối hậu là kéo dài sự cai trị bất chính của họ trên quê hương yêu dấu của chúng ta.

Về phiá người nước ngoài, phần đông là tác giả và giới truyền thông Hoa kỳ, trừ một vài năm đầu, đã một mực cho rằng Chiến tranh Việt Nam là thất nhân tâm , và vào giai đoạn Chính quyền Hoa Kỳ bị áp lực mạnh mẽ của phản chiến phải rút quân khỏi Việt Nam, lại hùa nhau gọi đó là cuộc chiến tranh vô đạo đức. Đáng kể nhất, cách đây vài năm ông Robert Mc Namara, Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Tổng thống John Kennedy và Lyndon Johnson, từng là một trong những người chủ chốt đưa Hoa Kỳ tham dự vào Chiến tranh Việt Nam, đã ra sách nói rằng Hoa kỳ sai lầm ghê gớm khi quyết định can thiệp quân sự vào Việt Nam. Rồi sau đó không lâu Tổng thống Bill Clinton, một người chống Chiến tranh Việt Nam , đã lập lại quan hệ với Chính quyền Hànội, và cử ông Pete Peterson , nguyên là một phi công bị cầm tù ở Bắc Việt, làm Đại sứ đầu tiên của Hoa kỳ ở xứ Việt Nam Cộng sản. Trước khi hết làm Tổng thống ông còn dẫn cả vợ con đến thăm chính thức Việt Nam và ngồi ung dung ăn phở ở Sài gòn

Nếu không phải là người theo đạo Thiên chúa thì với tư cách Tổng thống Hoa kỳ rất có thể ông đã cung thỉnh vong linh những chiến binh Mỹ bỏ mình trong khi chiến đấu ở Việt Nam trước đây thượng hưởng.

Kể ra thì Hoa kỳ cũng còn chậm chân so với Pháp nhiều. Pháp đã có tòa Đại sứ ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam trong thời kỳ 1954 – 1975, và dĩ nhiên chỉ còn một tòa Đại sứ độc nhất ở Hànội sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Không những thế Pháp còn ra sức vun trồng “quan hệ hữu nghị” mà một số con buôn văn hóa của tây cà lồ đã lộng ngôn gọi là “truyền thống” giữa Pháp và Việt Nam. Tổng thống Pháp Francois Mitterand, một người thuộc đảng xã hội từng chống lại cuộc chiến tranh giai đoạn 1946 – 1954, đã đến thăm Việt Nam, và thăm cả Điện biên phủ, nơi quân đội Liên hiệp Pháp bị thua trận vào tháng 5 năm 1954. Kế đến, cũng chỉ cách đây vài năm, Tổng thống Jacques Chirac thuộc phe “ gô- lít” cũng đã đích thân tham dự Hội nghị các nước nói tiếng Pháp tổ chức tại Việt Nam , nơi mà bây giờ chỉ có 5.000 người nói tiếng Pháp trong số 70 triệu dân. Nước Pháp dường như còn yêu mến thuộc địa cũ của mình lắm lắm.

Mỗi người, từ những gốc gác, góc độ, phương vị và động cơ khác nhau, đều có quyền lên tiếng và hành động theo mình nghĩ. Cá nhân tôi cũng có ý nghĩ riêng. Tôi không có gì phải ân hận vì đã đứng về phía không Cộng sản ở Việt Nam. Đối với tôi thua trận không có nghĩa là thua cuộc, và tôi rất tự hào đã thuộc về phía thua trận. Với một lòng son sắt tôi tin tưởng rằng sớm hay muộn chế độ Cộng sản sẽ bị xóa bỏ trên quê hương tôi như đã bị xóa bỏ ở Liên Xô, nước mà giới lãnh đạo Cộng sản Hànội có thời đã coi là thành trì của Cách mạng vô sản thế giới và Tổ quốc thứ hai của họ.Từ khi thành lập đến nay, đảng Cộng sản Việt Nam đã tự tiện đồng hóa với dân tộc Việt Nam, và việc làm không minh bạch của họ đã bị kiên quyết chống đối trong suốt nửa thế kỷ qua. Sự chống đối này hẳn nhiên sẽ tiếp tục chừng nào mà chế độ Cộng sản còn tồn tại ở Việt Nam.

Bản thân tôi lúc còn nhỏ mơ ước làm một nhà giáo tầm thường sống một cuộc đời bình dị tại nơi chôn rau cắt rốn ở châu thổ sông Hồng. Nhưng thời thế đổi thay, ước mơ nhỏ bé đó không thực hiện được, rồi do sự tình cờ của lịch sử tôi trở thành một người lính, dù chỉ là lính bất đắc dĩ, và vẫn là lính bất đắc dĩ , của bên thua trận cho đến ngày cuối cùng của chiến tranh . Tuy nhiên, trớ trêu thay, mặc dù chỉ là người lính bất đắc dĩ, định mệnh lại đưa đẩy tôi vào vị thế chiến đấu đến phút chót trong cả hai giai đoạn của cuộc chiến tranh Việt Nam, lần trước vào ngày đình chiến 20 tháng 7 năm 1954 theo Hiệp định Giơ-ne trong khi chỉ huy điểm tựa Việt trì đông của Quân đội quốc gia Việt Nam thuộc tỉnh Vĩnh yên ở miền bắc Việt Nam, và lần sau vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 với cương vị Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh mà danh xưng nguyên thủy là Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tại ngọn đồi Tăng nhơn phú ở miền nam Việt Nam. Thua trận rồi, tôi sống trong tù đầy, cực khổ, tủi nhục mười lăm năm trên quê hương sau đó đoàn tụ với gia đình đã trôi dạt sang Mỹ từ ngày Sàigòn bị mất tên, và ở xứ Mỹ, mặc dù tuổi đã cao tôi vẫn tự lực mưu sinh.

Bây giờ nợ cơm áo đã tạm xong. Vào lúc hoàng hôn của cuộc đời, tôi cố gắng viết lại một cách sơ lược về cuộc chiến tranh tôi đã bị lôi cuốn vào đó để gia đình , bạn bè, chiến hữu của tôi, và thản hoặc có vị nào còn khắc khoải chưa quên được một thời ly loạn dằng dặc trên quê hương đọc cho vui. Cuốn sách này không phải là một hồi ký nhằm tự biện bạch, hoặc đề cao hay đả kích ai. Cuốn sách này cũng không phải là một cuốn 1ịch sử Chiến tranh Việt Nam hay một công trình nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam. Đúng ra cuốn sách tôi viết chỉ là một vài nét chấm phá chân thực theo kinh nghiệm, hiểu biết , và suy nghĩ của tôi về một cuộc chiến tranh thảm khốc dai dẳng từ 1945 đến 1975 trên dải đất Việt Nam minh châu trời Đông. Quả là thảm khốc! Ngay cả cho đến đầu thế kỷ XXI này người ta vẫn chưa đồng ý được với nhau về tên gọi của nó bởi vì rất nhiều người coi đó là cuộc chiến tranh thần thánh mà cũng có rất nhiều người coi đó là cuộc chiến tranh bẩn thỉu. Lập trường của hai phe Việt Nam dính líu vào cuộc chiến tranh này khác nhau một vực một trời. Có lẽ phải đứng trên lập trường dân tộc mới có thể nhận thức vấn đề một cách tương đối thoáng đạt, và do đó đi đến một cách ứng xử phải chăng. Các thế hệ đối nghịch nhau sẽ lần lượt qua đi, nhưng dân tôc Việt Nam sẽ tồn tại mãi mãi.

Đối với một cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi năm thì một cuốn sách dù dồi dào thông tin và hệ thống hóa đến đâu đi nữa cũng không thể nào nêu ra hết được những vấn đề có liên quan và cũng không thể nào tránh được những thiếu sót. Xin quý vị độc giả vui lòng lượng thứ.

Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả các tác giả về những đoạn trích dẫn từ các tác phẩm của quý vị tôi đã mạn phép sử dụng trong khi viết cuốn sách này.

Bellevue, Washington ngày 5 tháng 8 năm 2002

—>CẢM TẠ

This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN ĐỨC MINH: Một Thời Nhiễu Nhương, Việt Sử. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s