ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN …: Phần I (Văn Bia)

CHƯƠNG 12

Sau khi nhờ Đồng Minh mà được đưa quân trở lại Việt Nam, và tuy chỉ được phép đóng ở những khu quy định sẳn, quân Pháp luôn luôn tìm cách nầy thế nọ tăng cường lực lượng. Sớm muộn gì đạo quân Viễn Chinh Pháp cũng thực hiện ý đồ tái chiếm Việt Nam, bung quân ra từ những cứ điểm họ trú đóng. Chánh quyền Việt Nam ở miền Bắc và ở miền Trung đã chuẩn bị di tản các cơ quan đầu não và chủ lực quân từ những ngày đầu. Khi Pháp nổ súng, chỉ còn Tự Vệ cảm tử ở lại chống đối. Dân thành phố đùm đề bỏ chạy về các vùng quê tránh nạn.

Việt Nam bị mất phần lớn đất, không mất độc lập. Chánh phủ hô hào toàn dân trường kỳ kháng chiến, cuộc kháng chiến thần thánh, mà miền Nam đã khởi đầu cả năm trước.

Chánh phủ Trung Ương càng rút xa và rút sâu vô rừng, dân thành phố càng lần lượt kéo về chỗ ở cũ là nơi bây giờ trở nên an toàn hơn. Họ chấp nhận chịu sự cai trị của Pháp do người Việt hợp tác (collaborateur) điều hành. Kháng chiến ngầm len lỏi theo, hoạt động bí mật. Kể từ đó, tôi không còn rõ những gì xảy ra ở Hà-Nội và Huế hay Đà Nẵng nữa.

Vùng bị chiếm chia cắt ra làm hai khu Bắc và Nam. Khu Bắc gồm có Bắc Việt với Trung Việt và khu Nam là Nam Kỳ thêm vài tỉnh phía cận Nam của Trung Việt, từ Phan Thiết tới khỏi Nha Trang. Hai khu chia cách nhau bởi Liên Khu 5 là vùng độc lập Quãng Ngải và Qui Nhơn. Pháp không hề chiếm khu nầy. Tới lúc thi hành Hiệp định Genève năm 1954, Việt Minh ở vùng nầy mới tập kết ra Bắc, trao trả lại cho chánh quyền Miền Nam, và từ lúc đó miền Nam mới ”thống nhứt” được từ Cà Mau tới sông Bến Hải tại vĩ tuyến 17.

Pháp đã không quyết tâm dứt điểm vùng độc lập Liên Khu 5 để chia đôi Việt Nam bị tạm chiếm thành hai phần Bắc và Nam rõ rệt là có mưu đồ chánh trị. Nếu họ không thể nuốt trọn cả Việt Nam nổi như họ dự tính, thì còn giữ được thuộc địa cũ Nam Kỳ mà họ đã lập cơ sở vững chắc hơn và tin tưởng người dân thuộc địa Nam Kỳ thân Pháp hơn. Ít ra họ cũng dựa vào mặt pháp lý với bản Hòa Ước 1884 mà vua nước ta đã ký kết cắt nhượng phần đất nầy cho họ.

Khó mà nói được Nam Kỳ lúc bấy giờ sống dưới thể chế nào. Không hề có bố cáo tuyên ngôn nào minh bạch. Từ thành thị đến nông thôn, Pháp cai trị bằng quân sự. Lối Quân Quản mà sau nầy Bắc Việt, sau khi thắng Miền Nam năm 1975, cũng áp dụng một thời gian đầu.

Cái chánh phủ bù nhìn Nam Kỳ quốc, được gọi là chánh phủ Phân Ly do Pháp dựng ra, thay đổi Thủ Tướng liên tiếp, với vẫn một mớ cựu công chức cũ từ chế độ thuộc địa chịu ở lại làm việc. Mọi quyền nội vụ, ngoại giao, quân sự, công an, tài chánh đều do Pháp nắm giữ.

Ông Thủ Tướng nào không thu phục được lòng dân thì Pháp hạ bệ đưa ông khác lên thử tiếp. Mà dân có chịu ông Thủ Tướng tay sai nào của Thực Dân đâu.

Nơi thôn quê coi như không có ánh sáng mặt trời nên xảy ra những điều còn đen tối hơn. Quân Pháp kiểm soát không xuể, manh tâm chia từng khu cho các phe phái chiếm đóng: Bình Xuyên vùng Saigon và phụ cận, Hòa Hảo phần lớn ở Lục Tỉnh, Công Giáo về sau có nhóm Leroi ở Bến Tre, Cao Đài vùng Tây Ninh và rải rác ở mấy khu nhỏ như làng tôi, tuy Công Giáo song Pháp không tin tưởng người địa phương nên giao cho một toán lính Cao Đài.

Có lúc lính Đàn Thổ (Miên, nay được gọi là Campuchia) tới đóng chung với lính Lê Dương. Lê Dương là đoàn ô hợp lính đánh thuê của Pháp lập ra, đa số thuộc thành phần tù binh gốc phát xít Đức và Ý có cả cựu tội phạm người Pháp. Đám lính người Miên hoặc Việt do Pháp thu nạp làm Thân Binh hay do các giáo phái và băng đảng quy tụ, đều lãnh lương của Pháp. Vùng lớn nhỏ nào cũng bị Pháp để cho các lãnh chúa làm mưa gió. Pháp khai thác sự chống đối trong nội bộ Kháng Chiến, thu nạp tất cả những người và phe phái bất mãn rời bỏ Chiến Khu về phục vụ họ, ban phát cho mớ quyền lợi, đồng thời làm ngơ những hành động sai trái.

Chương 13

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.