ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN …: Phần I (Văn Bia)

CHƯƠNG 13

Tưởng Chiến Khu là một nơi ở đâu xa xôi hẻo lánh, núi non hiểm trở, ai dè tôi lội bộ không quá nửa ngày đàng là đã tới, và đó là một chỗ còn nằm trong ranh giới làng Nhị Bình của tôi. Nhân dân mỗi vùng sống bám tại chỗ, gọi là giữ độc lập từng tấc đất. Việt Minh cố sức thiết lập cho được Ủy Ban Hành Chánh Xã ở mỗi làng bị chiếm. Nơi nào găng quá, toàn xã bị địch kiểm soát, họ mượn một địa điểm ở làng kế cận, lập Ủy Ban Hành Chánh Xã lưu động / lưu vong.

Kháng Chiến xây dựng nền móng vững chắc trên hệ thống làng xã, cần thiết như thân thể cường tráng nhờ gồm toàn tế bào lành mạnh nuôi dưỡng. Mỗi làng là một đơn vị, tiểu tổ, hay chi bộ, hoàn toàn tự lập, tự trị như một chánh phủ toàn quyền sinh sát. Trưởng Ban Công An trong xã đơn giản thi hành những bản án của Ủy Ban Hành Chánh thường khi hấp tấp nên có lúc quá tàn bạo hay lầm lẫn.

Ủy Ban Hành Chánh lưu động, nay đặt văn phòng tại nhà tư nhân nầy, tuần sau dùng nơi khác làm trụ sở. Dân trong làng muốn liên lạc xin giấy tờ hành chánh, đôi khi phải phăng dò cả buổi mới gặp được chỗ Ủy Ban làm việc.

Ủy Ban thường trực xã tôi gồm có ông Chủ Tịch Thái Hòa Lê tức Hai Xuất, thơ ký Huệ, một Trưởng Ban Công An, và một Ủy Viên Kinh Tài. Ngoài ra, tôi thấy có một thiếu nữ còn rất trẻ bằng tuổi tôi, tên Ngọc Anh. Tôi không biết và cũng không thấy cô ta làm gì mà cứ lẩn quẩn theo Ủy Ban. Nấu cơm thì đã có bà chủ nhà lãnh rồi. Ủy Ban xuất một số tiền tùy theo đầu người, đưa cho bà ấy lo việc ẩm thực.

Ủy Ban dọn đi đâu, tôi theo đó, chớ nơi xa lạ đâu có biết đường đi nước bước. Họ ngồi làm việc trên bàn giữa nhà. Tôi ngồi trên bộ ván kế bên, coi họ. Đến tối ngủ lại đó chung với một vài cán bộ. Chủ tịch và số người còn lại tản ra đi nghỉ qua đêm chỗ nào khác không biết. Bộ ván đủ bốn năm người ban ngày chen nhau nằm như sắp cá hộp. Thường ban đêm chỉ còn hai ba mạng ngủ với tôi trên đó. Một đêm, trở mình xoay qua một bên, gác tay xuống đụng một mái tóc dài, tôi mới biết có phụ nữ ngủ chung với mình, là Ngọc Anh chớ không còn ai vô đó.

Tôi không có hành động cụ thể nào góp vào công cuộc kháng chiến. Song sự hiện diện của một giới trí thức và là con địa chủ như tôi, hẳn có làm tăng giá trị cho hàng ngũ, thêm một lợi điểm để tuyên truyền. Chính vì mục đích đó, họ mời rủ loại thư sinh trói gà không chặt nầy như tôi gia nhập.

Tôi ăn cơm với Ủy Ban là như lãnh lương của Kháng Chiến ngay từ giờ phút đầu. Năm bảy trăm đồng tôi lận theo trong mình suốt thời gian sống trong Chiến Khu, còn y nguyên, không sứt mẻ đồng nào.

Đồ ăn thường gồm có khô cá nướng với món canh tập tàng là mồng tơi, bù ngót, rau chạy, hay rau dền nấu với phần xương của khô cá. Không thấy dỡ. Luôn luôn ăn no, nên không bao giờ cần mua đồ gì ăn thêm.

Chủ nhà là anh Năm có một mụt ruồi lớn bên má trái. Anh là một nông dân thật hiền lành, có nụ cười nhẹ không bao giờ vắng khỏi gương mặt. Vợ anh, trái lại, mặt mày như hay muốn gây hoài, lâu lâu lại thốt ra một vài tiếng riêng nhỏ với tôi, để lòi ra sự bất mãn của chị. Hình như lý do là nhà chị bị sung công, cán bộ lui tới quấy rầy cuộc sống gia đình êm ả.

Khi có cuộc bố ráp, anh Năm không thấy vội vã bỏ chạy như nhiều người. Anh có đào một cái hầm bí mật khá tinh vi ngay dưới bờ đê dọc theo con rạch trước nhà anh. Muốn chun vô trong đó, phải lặn xuống nước, nhằm lúc nước lớn phải lặn khá sâu, chui vô một đường hang ngắn mới tới hầm. Phần dưới chỉ hơi khô ráo lúc nước ròng.

Thỉnh thoảng anh đâm tiêu làm một gói mà không thấy ăn. Một lần có tù-và báo động đang lúc tôi đi ỉa giấc ngoài bờ rạch, chạy trốn bố hơi trễ, gặp anh đang rắc tiêu bột trên một khoảng bờ. Tối về tôi tọc mạch hỏi việc làm kỳ lạ của anh, mới được biết tiêu bột là thứ bùa trị chó đánh hơi.

Pháp bắt đầu lùng bắt du kích bằng chó săn, đã bị vô hiệu quả vì mùi tiêu làm chó không khám ra hơi người. Sau nầy phải đương đầu với quân lính Mỹ, du kích Việt Cộng có áp dụng một loại “vũ khí hóa học” khác đơn giản tương đương mà cũng có hiệu lực không kém. Lúc tôi làm Trưởng Phòng Nhân Viên cho quân đội Hoa Kỳ thường hay xảy ra chuyện rắc rối lính Mỹ than phiền bị mấy chị bồi phòng làm thất thoát quần áo bỏ giặt. Tôi không mấy quan tâm về việc nghĩ là tham lam nhỏ nhặt của mấy người làm công. Sau chiến tranh, được dịp đi coi mấy hầm địa đạo, thấy hệ thống những lỗ thông hơi thường trổ ra trên mặt đất tại chỗ giữa những lùm tre dày dặt, được giải thích là không hề bị chó đánh hơi phát giác là nhờ du kích dùng quần áo dơ dính mồ hôi Mỹ nhét phía dưới gần miệng lỗ. Mùi quen thuộc xông lên lấn át mùi người du kích.

Có những ghe tro trấu chở về đổ ra thành đống trong một khu vườn xong, phụ nữ hè nhau xách sàng tới rây, vui nhộn như ngày hội. Trong chốc lát, vỏ đạn lòi ra cả thúng. Thỉnh thoảng có đống tro trấu giấu đạn dược thiệt và cả súng ống nữa. Cuộc vận tải vũ khí ngang qua giữa vùng địch một cách quá đơn sơ mộc mạc mà cũng quá hữu hiệu.

Quỹ kháng chiến không khi nào cạn. Xã luôn luôn thâu nhiều xài ít, còn dư gởi đều đều lên cho Trung Ương cả bao bạc. Thỉnh thoảng một anh liên lạc viên, một cán bộ kinh tài mang tiền thu góp của dân từ ngay cả trong vùng bị tạm chiếm, đến nạp cho xã.

Người dân đóng tiền cứu quốc có loại thật tình ái quốc, hăng say góp cứu nước. Có những cô gái ở vùng bị chiếm, như tôi còn nhớ có chị Dung thật duyên dáng, nhìn tôi cười hoài, thường lặn lội mang tới tặng cho Kháng Chiến những thúng rổ trái cây, những xấp vải khăn rằn. Khi nào cán bộ có nhờ mua giùm pin đèn, bút mực, giấy viết, chị mang đến nhiều hơn số lượng yêu cầu mà không nhận tiền.

Cũng có hạng người, thường là nhà giàu và người Tàu, sốt sắng bỏ tiền ra để mua sự yên thân. Còn người nghèo đóng ít lại thường kỹ lưỡng xin biên lai cất giữ, trong khi nhà giàu và nhứt là dân Tàu, từ chối lấy biên nhận, càng kỵ nhứt là có ghi tên họ, đề phòng khỏi lòi ra sẽ bị Pháp bắt bớ. Nhưng nhà giàu cố tránh né khéo léo cũng không thoát khỏi bọn tay sai Pháp làm tiền. Chúng dư biết người dân nào cũng có đóng góp cho Kháng Chiến mới ở yên. Mà không bắt được bằng chứng thì họ cứ việc tạo ra. Cả hai bên Nội Ngoại đều bằng cách nầy hay cách khác moi tiền của dân.

Đóng góp cho Kháng Chiến, tự nguyện cũng có, mà bị bắt ép hăm dọa cũng nhiều. Người dân quê lam lũ làm đổ mồ hôi nước mắt kiếm ra từng đồng từng cắc, đâu có dễ dàng như hạng con buôn hay giới tham nhũng. Nhiều nông dân hà tiện đến mức hút thuốc, họ tự vấn lấy cho rẻ tiền. Giấy huyến giá chẳng có bao nhiêu mà họ không dám mua, đi xé tập sách cũ của học trò ra vấn thuốc rê. Người nào chê mùi giấy khét lẹt thì chịu khó tước lớp lụa của mo cau ra làm giấy quấn. Có người như Chú Sáu của tôi tiện tặn cả diêm quẹt, đành sống kiểu người thời thượng cổ. Trong túi thuốc rê của ông có chứa thêm bùi nhùi và hai cục đá nhỏ. Ông khẻ hai cục đá với nhau cho tia lửa bắt vào bùi nhùi để dùng mồi thuốc.

Dân quê mình coi đồng tiền liền với núm ruột, chi ra một đồng bạc đau bụng như thắt. Ương ngạnh chống đối, nông dân nào keo kiệt nhứt và cằn nhằn to nhứt, – chỉ mới dám cằn nhằn thôi – , là bị chọn trị tội để làm gương. Bằng cách cảnh cáo quá tàn bạo. Cán bộ kinh tài chỉ báo cáo một tiếng, tên “phản động” đó bị Công An hay du kích lẻn về gõ cửa giữa đêm khuya, lôi đầu ra chặt hay dùng cuốc đập vỡ sọ. Ít khi bắn gây tiếng động. Thường để lại trên mình nạn nhân một mảnh giấy viết bản án có đóng mộc đỏ và chữ ký của Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh.

Trong những năm đầu kháng chiến, không có chuyện trực diện chống cự nổi với lực lượng Pháp. Chúng tôi chỉ có việc chạy trốn bố ráp, lắm khi phải trốn chui trốn nhủi nhọc nhằn. Người nào chịu gian khổ không nổi thì lẩn tránh về Thành cho được an tấm thân chớ chưa hẳn là muốn đầu Pháp hay từ bỏ Kháng Chiến.

Để nâng cao tinh thần dân địa phương, lâu lâu có quân chủ lực của Kháng Chiến từ đâu kéo về, tấn công đồn lính cướp súng, rồi rút sâu về chiến khu, bảo toàn lực lượng. Dân vệ và Ủy Ban Hành Chánh Xã cùng dân quê trong vùng ở lại lãnh chịu mọi đòn bố ráp trả thù. Cảnh chạy trốn tản cư tiếp diễn.

Trong làng xã bị địch chiếm, nhẫn nại lâu ngày, họa hoằn tổ chức được một vụ dùng mỹ nhân kế công đồn, cướp được vài chục cây súng, bộ đội chủ lực tóm giữ hết. Kho súng đạn của Kháng Chiến theo năm tháng dồi dào thêm, lực lượng lần hồi phát triển ngày càng thêm mạnh. Vùng giáp giới khu xôi đậu vẫn luôn trong tình trạng du kích với mớ vũ khí thô sơ.

Có cơ hội nhìn thấy tận mắt công lao của người nông dân đóng góp vào cuộc chiến chống Pháp, mới nhìn nhận chính họ là những anh hùng kháng chiến bền dai.

Tôi thường chứng kiến cảnh người quê mùa đem nạp tại văn phòng Ủy Ban Hành Chánh Xã mỗi lần vài viên đạn mút-cà-tông (mousqueton = một loại súng trường), với vẻ mặt hớn hở mừng rỡ đã góp công trạng cho Kháng Chiến. Vợ con họ đã mạo hiểm lén ăn cắp mớ đạn dược nầy của lính pạc-ti-xăng (partisan = thân binh = lính Việt đánh mướn cho Pháp). Có khi lính túng tiền đem bán nữa. Phần nhiều chỉ có phụ nữ dám liều mạng mua, vì rất dễ bị chính bọn lính gài bắt.

Một vụ lính Tây gài bẫy bắt giết một số thanh niên ưu tú và người có tai mắt trong họ đạo Công Giáo Tân Qui. Anh Tư Sanh học trường Taberd, biết tiếng Pháp, móc nối với một tên lính Lê Dương chịu bán một mớ súng ống. Đám thanh niên Công Giáo mượn nhà ông Xã Đồng ở gần bót cầu Bà Hồng hội họp bàn tính việc di chuyển vũ khí mua được. Lính Pháp ập vào bắt trọn gói kể cả chủ nhà, lôi ra bắn chết tại cầu Bà Hồng gần đó. Ông Xã Đồng là cha của anh Phát, một cựu đệ tử dòng Chúa Cứu Thế như tôi. Ba nạn nhân khác là anh Mười Thường, anh Tư Sanh và anh thợ hớt tóc tôi không nhớ tên.

Tôi thấy liên tiếp quá nhiều đồng bào gục ngã dưới làn đạn của quân xâm lăng Pháp. Tất cả đều là bạn bè hay bà con quen biết của tôi. Tôi nghĩ anh hùng đều bị Pháp giết chết hết rồi. Những người còn sống sót như tôi đều không phải là anh hùng.

Phấn khởi và ghê sợ lẫn lộn, tôi không ngao ngán sự việc xảy ra hằng ngày. Việc đánh đuổi ngoại xâm chưa thấy tới đâu, thì xảy ra vụ anh Tám Sở dẫn toàn bộ lính trong đồn Nhị Bình kéo vô Khu đầu thú. Người Việt đi theo Việt Minh là trở về chung nguồn coi như một việc sớm muộn rồi cũng phải đến thôi. Tuy nhiên, hậu quả không ngờ là Tây không còn tin tưởng người Công Giáo trong làng, giao cho lực lượng Cao Đài tới chiếm đóng.

Thanh niên trong khu Kháng Chiến họp thành đoàn Tự Vệ, thay phiên nhau từng tiểu đội canh gác với vài ba cây súng mút cà tông cũ kỹ. Du kích leo lên một cây cao lớn nơi chỗ hiểm yếu, quan sát, thấy được lính từ đàng xa kéo tới thì gióng tù-và lên cho cả làng chạy trốn.

Có lần, tiếng tù-và vang lên một lượt với tiếng súng nổ rất gần. Chúng tôi bỏ chạy thục mạng. Chiều tối trở về, hay tin hồi sáng Tự Vệ sơ hở để địch kéo tới sát phục kích bất ngờ. Họ vẫn còn cố thổi tù-và trước khi bị bắn chết. Tôi tới viếng thi thể những anh hùng đã cứu mạng mình, ngậm ngùi, nao núng tinh thần. Lòng càng quặn thắt hơn vì họ không phải chết dưới làn đạn thực dân Pháp, mà là bị chính đồng bào mình, là lính Cao Đài bắn giết.

Lính Cao Đài tận lực chống Kháng Chiến không nương tay, vì sự sinh tồn của họ. Họ can đảm và siêng năng đi bố ráp thường xuyên hơn bọn lính Pháp hay đám lính thân binh. Thỉnh thoảng, đêm tối họ còn mạo hiểm mò vào Khu, khiến chúng tôi mất ăn mất ngủ. Chúng tôi dùng tiếng lóng ”ớn bị rờ đầu” ban đêm, là ngủ quên để họ thình lình áp vô thộp cổ.

Ban ngày phải di tản thường xuyên hơn, tối lại lắm đêm đến khuya vẫn chưa dám trở về nhà, khi chưa nghe tiếng tù-và báo an toàn.

Chương 14

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.