ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN …: Phần I (Văn Bia)

CHƯƠNG 16

Nhiều lúc không thấy có dấu động tĩnh gì mà Chi Đội 12 chúng tôi lại được lịnh di tản đi ngày đi đêm đến những khu rừng thật xa. Có khi mỗi ngày chuyển tới ở một vùng khác nhau. Nhiều ngày trở về ở lại chỗ cũ mới vừa rời khỏi bữa hôm trước. Lưu động là một chiến thuật mà lúc ấy còn phải được coi là một thứ vũ khí lợi hại thật hiệu lực nữa vì lực lượng Kháng Chiến luôn luôn được bảo toàn… bằng tay không. Chỉ bằng chưn di chuyển liên tục.

Tiếng đạn đại bác văng vẳng từ xa, có khi nghe được cả tiếng súng nhỏ nơi hướng chúng tôi vừa rút khỏi ngày hôm qua. Làm như có đấng thiêng liêng hướng dẫn chúng tôi tránh né những nơi có địch hành quân. Sau nầy tôi mới biết vị thần đó là Tình Báo, luôn luôn hoạt động hữu hiệu suốt thời kỳ kháng chiến, phát sinh bởi tâm hồn yêu nước hơn là do tiền bạc mua chuộc được.

Những vùng chúng tôi đi qua hay tạm dừng chân lại, thường thấy rải rác có dân cư. Toàn người quê mùa chịu bám lại sống chết với mảnh đất của họ. Có nhà có xe bò, sống nghề rẫy bái trên những vùng hầu hết là đất gò. Nghèo nàn lắm.

Đi tới nơi nào tôi cũng không biết đó là đâu. Ngoại trừ những chỗ anh em bộ đội quen thuộc địa phương nói ra những địa danh. Tôi thường nghe nhắc đi nhắc lại nhiều nhứt là Bến Cỏ, Pa Ri Tân Qui, An Nhơn Tây, Hố Bò và Bời Lời. Chỉ Bến Cỏ có đất bưng và sông ngòi, ngoài ra đâu đâu cũng đất cao, đào hầm bí mật sâu mấy cũng không ẩm nước.

Hình như ở Hố Bò hay Bời Lời toàn rừng cây. Những đồn điền cao su ở Pa Ri Tân Qui, vườn cây cạo mủ bỏ hoang trở thành rậm rạp không thua gì rừng. Tôi khó quên An Nhơn Tây vì những bộ ngực trần của phụ nữ trong một xóm hẻo lánh. Chắc không mấy khi có người qua lại, lại nghèo túng hà tiện quần áo, họ mặc có mỗi một cái quần xà lỏn, còn phần từ rún trở lên không một mảnh vải để che.

Bộ đội võ trang không sống chung với nhân viên văn phòng. Thỉnh thoảng thấy vài chục du kích quân mang súng ống đứng sắp hàng tề chỉnh trước sân để nghe huấn thị của anh Ba Tô Ký. Vị chỉ huy nầy, sau khi kiểm tra mau lẹ như sơ qua, thường nói vài lời vắn tắt, cổ võ tinh thần tôi đã nghe được như ” lần nầy lực lượng hùng hậu hơn, cố gắng thành công lớn…” Không hề nghe nhắc tới chuyện chánh trị hay xã hội chủ nghĩa. Không như sau nầy mỗi lần nhắc tới chữ yêu nước luôn luôn có dính kèm theo chữ yêu xã hội chủ nghĩa.

Nhớ hồi đó tôi chỉ nghe nói toàn chuyện yêu nước chống Pháp mà thôi, không hề nghe nhắc tới hai chữ Cộng Sản hay lý thuyết Mác Xít, mặc dầu anh Ba Tô Ký, mãi sau nầy tôi mới hay biết, là một đảng viên Cộng Sản và đã tích cực hoạt động tuyên truyền, rải truyền đơn xúi dục nông dân vùng Hốc Môn nổi lên chống thực dân Pháp, theo sự điều động của đảng đó ngay từ hồi anh còn là một thanh thiếu niên.

Tôi không biết nhóm bộ đội anh Ba Tô Ký thường duyệt kia là chủ lực của Chi Đội 12 mới còn trong tình trạng nhóm du kích, hay đó chỉ mới là vài tiểu đội hoặc một trung đội của một đoàn quân đóng ở đâu trong rừng sâu. Song tôi nghĩ chắc là như vậy. Vì tôi cho rằng Kháng Chiến hùng hậu, binh lực đồ sộ. Và mục đích cũng chỉ chống Tây và Việt gian, ngoài ra đâu có thấy lớp hay khóa chánh trị dạy chủ thuyết nào. Tôi chỉ nghe anh em thường kháo nhau về những thành tích của các lực lượng khác, như những chiến thắng oai hùng của Bình Xuyên (Bảy Viễn), của Huỳnh Tấn Chùa, Trần Văn Trà, chị Năm Bi (Hồ Thị Bi), hay của Huỳnh Văn Nghệ hoặc của Hoàng Thọ, Chi Đội 1 hay 2 gì đó.

Đời sống của tôi trong Chiến Khu không mấy hứng thú khi thấy mình chẳng có làm cái gì gọi là ái quốc hay anh hùng cả. Chiến công làm gì có để lập. Hồi còn sống trong vùng Pháp chiếm đóng, lúc mới ở dòng tu trở về thế gian, tôi đã tự tạo cho mình được thành tích oai hùng can đảm rồi. Không nhận chỉ thị từ đâu cả, cũng chả có ai xúi giục, chỉ tự nghĩ ra cách yêu nước là nhắc nhở cho Tây và bè lũ (bọn lính partisan) thấy Việt Nam làm chủ đất nầy, mà biểu tượng để xác nhận chủ quyền là lá quốc kỳ Việt Nam cờ đỏ sao vàng cho nên tôi mạo hiểm đem phô trương, liều lĩnh không thua gì anh Ba Tô Ký hồi nhỏ đi rải truyền đơn.

Khoảng cuối năm 1946, thỉnh thoảng có cờ đỏ sao vàng xuất hiện tại ngã tư nhà thờ Tân Qui, làm rúng động dân địa phương lẫn lính Pháp đóng quân tại đó. Họ cho là hồi hôm Việt Minh đã kéo về tới đó. Chính tôi có lần nghĩ y vậy tuy chính tôi từng cắt giấy màu làm cờ đỏ sao vàng (cờ Việt Nam đã có từ thời Việt Minh kháng chiến chống Pháp), nhờ chị Tư tôi khuấy hồ. Thường tôi lựa tối Thứ Bảy, lén ra gốc dừa gần ngã tư kế nhà, dán lên cho đồng bào sáng hôm sau đi xem lễ Chúa Nhựt thấy. Song có lần sao lại có cờ đỏ sao vàng dán lên gốc cây điều cách đó không xa. Như vậy đâu phải chỉ có mình tôi yêu nước. Việt Minh thật sự có về làm hành động gan dạ như tôi chăng ?

Lính thân binh kéo tới gỡ cờ. Có một lần tôi giựt mình nghe một anh lính chửi thề nói:

– Đéo Mẹ! mình canh mỗi đêm không có. Mới nghỉ tối qua thì tụi nó mò về.

Hú hồn! Mãi đến khi cùng rời khỏi quê hương và gặp nhau lại trên đất Mỹ, em gái tôi là Lê Thị Hồng Ánh mới khai thiệt, cờ đỏ sao vàng dán trên gốc điều không phải do Việt Minh. Chính em gái tôi đã bắt chước anh mình làm nữ anh hùng ái quốc. Không dám tiết lộ, sợ anh chị cấm cản.

Ở Chiến Khu chưa làm được gì gọi là cứu nước. Di chuyển đó đây để trốn tránh mà thôi. Chưa có khả năng đương đầu chống cự với lực lượng võ trang hùng hậu của địch. Tuy nhiên, trong cuộc sống bất ổn có mạo hiểm là được một thứ kích thích, có tác dụng như ớt cay giúp ăn thấy ngon.

Lực lượng kháng chiến lần hồi tăng trưởng. Đồng thời, nền cai trị của Pháp cũng củng cố thêm thế lực của họ bằng những thủ đoạn chánh trị và quân sự ngày càng thêm ác độc tinh vi hơn. Chủ yếu xoay vòng trong trò dùng người Việt diệt người Việt. Tận lực khai thác sự bất đồng chánh kiến giữa đồng bào. Thâu dùng những kẻ rời bỏ hàng ngũ kháng chiến, dùng họ chống lại những chiến hữu cũ.

Rất nhiều người Việt Nam lần lượt bỏ Chiến Khu trở về thành sinh sống. Không ít số người đó là những bộ mặt tên tuổi. Chỉ nhắc tới riêng giới văn nghệ sĩ của tôi như Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Huy Cận, Chế Lan Viên, Cao Minh Chiếm, Đinh Hùng, Nguyễn Hiền, Đoàn Chuẩn, Nhật Bằng, Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Phạm Đình Chương, Phạm Duy và gia đình ban hợp ca Thăng Long, v.v. Một số hồi cư luôn, số khác hồi cư ít lâu sau ra trở lại Chiến Khu hay ra Bắc, cùng với số kiên cường ở lại tiếp tục kháng chiến đến ngày hoàn toàn thắng lợi, đuổi sạch bóng ngoại nhân.

Lý do chánh hồi cư là tránh cuộc sống gian khổ và những hiểm nguy của chiến tranh, đa số người hồi cư tìm một nơi ẩn dật yên ổn cho bản thân họ, có khi cho cả gia đình họ. Và cũng vì sinh kế, không ít người phải kiếm việc làm với thực dân Pháp và chánh phủ tay sai của chúng. Lý do mạnh mẽ nêu ra để được trở về thành hay được nhận hợp tác với địch là nhứt định phải chống Cộng. Một số thật sự có tinh thần chống Cộng vì lý tưởng quốc gia hay tôn giáo nên thật tình theo địch chống lại Kháng Chiến. Tuy nhiên, tinh thần kẻ sĩ và lòng ái quốc kiềm giữ hầu hết người Việt, nhứt là ở vùng nông thôn, thà chịu sống gian nguy trong suốt cuộc trường kỳ kháng chiến dai dẳng chống xâm lăng.

Người ái quốc, kẻ Việt gian chung quy đều là người Việt Nam. Thực dân đế quốc ở thời đại nào cũng manh tâm tìm cách gây nghi kỵ giữa đồng bào, khai thác vấn đề ý thức hệ và đầu óc kỳ thị địa phương Nam Bắc, thành công đến mức làm đồng bào Việt phải tương tàn, giết chóc lẫn nhau. Tôi không ngạc nhiên thấy anh em trong Chiến Khu đề cao cảnh giác coi chừng lẫn nhau.

Lúc tôi mới vô Khu đã nghe có xảy ra vụ gài người của Phòng Nhì Pháp vào cả cơ cấu cấp cao của Chi Đội 12 vừa bị khám phá. Đạn do binh công xưởng của Việt Minh thiết lập trong rừng ở Tây Ninh đem phân phối cho bộ đội thường bị lép làm mất tinh thần anh em. Đâu có ai ngờ chính anh Trưởng Ban Vũ Khí lại là tay sai của giặc Pháp. Cũng nhờ Kháng Chiến biết tổ chức chặt chẽ, điều tra theo dõi phanh phui mau lẹ, nội bộ mới không bị hoảng hốt lung lay. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, các đảng phái như Quốc Dân Đảng đã đi tiên phong nhưng thất bại, vì tổ chức lỏng lẻo để kẻ địch đưa bộ hạ len lỏi vô nội bộ.

Anh Trưởng Ban của tôi theo dõi tôi từ hồi nào không rõ, chắc khả nghi về tôi lắm vì thấy tôi mỗi lần tắm rửa, có lấy một gói nhỏ trong lưng quần ra. Gói nầy tôi quấn kỹ lưỡng trong hai lớp ni-lông, mấy lần nhảy xuống mương, ngâm mình hằng giờ đồng hồ tránh đạn vẫn không bị thấm nước.

Khi tắm cổi quần giặt tôi mới thỉnh thoảng móc gói ấy ra. Anh ta tịch thu gói đó làm tang chứng đem lên tố tôi với Chi Đội Trưởng. Tôi biết chuyện nguy to sắp đến với mình rồi và nghĩ mình sẽ bị đưa ra xử tử liền.

Không biết sao, ông Tô Ký chỉ làm giấy trả tôi về nguyên quán. Nghĩa là không còn chờ đưa tôi lên Trung Ương làm việc, mà cũng chẳng cho tôi ở lại trong Ban Quân Y Chi Đội 12… rửa ghẻ. Xui hay hên, cho đến ngày nay tôi vẫn chưa biết chắc. Vì nếu ở lại tiếp tục Kháng Chiến, liệu tôi có toàn mạng được ở về phe chiến thắng cuối cùng như anh Tám của tôi không.

Không được thẳng tiến trên con đường kháng chiến, buồn lắm. Buồn hơn là sợ chết nhiều. Giấc mộng cứu quốc như sụp đổ tan tành. Mới ngày nào phấn khởi lên đường trong tiếng ca trong trẻo và nồng nàn khuyến khích của Ngọc Anh. Ngày trở về đáng lẽ phải như là ngày Vinh Quy Bái Tổ mà thôi.

Nhớ mới cách trước đó đâu có bao lâu, khi nghe tin tôi sắp từ giã nàng lên Trung Ương, Ngọc Anh không tỏ vẻ buồn chút nào. Trong lần chạy trốn bố chung với nàng sau đó và cũng là lần chót, nàng như hớn hở hơn thường lệ, bắt tôi hát chung với nàng bài “Lời Người Ra Đi” hay “Lời Người ở Lại” của Phạm Duy mà tôi còn thuộc nằm lòng cho đến ngày hôm nay:

Một chiều nào anh bước đi
Em tiễn chân anh tận cuối đồi
Nghe dặn lời: Rằng chiến đấu đừng sờn lòng
Rằng sóng gió đừng sờn lòng
Đừng nề gian khổ.

Máu còn rơi xương còn rơi
Bao lớp người tiền tuyến tuôn ra
Ngăn quân thù dày xéo quân ta
Cho một ngày mới, một nguồn vui tới,
Xuân phơi phới.

Như dòng sông qua đại dương
Qua bao gành và đá cheo leo
Đấu tranh nầy bền lòng, em ơi
Mới tới ngày nắng ấm.

Và xa xôi, em nhớ lời
Rằng muốn có một ngày về
Thì chiến đấu đừng sờn lòng
Đừng nề gian khổ.

Tôi buồn nhiều đến mức quên lững không còn lo sợ chết. Tôi chỉ rầu rĩ nghĩ tới cuộc sắp phải trở về làng chạm mặt lại với Ngọc Anh, quê xệ và tiều tụy hơn một bại tướng. Ăn làm sao nói làm sao với nàng? Khi sắp sửa được gặp lại người yêu, lẽ thường phải nôn nóng sung sướng, mà tôi thì quá khổ sở ưu sầu. Đây là lần hiếm hoi duy nhứt trong đời, tôi thấy và chịu chấp nhận mình là người thua cuộc. Thê thảm!

Bỏ Khu về Thành là một biến cố lớn trong đời tôi, quan trọng không thua gì lúc nhảy rào bỏ Đệ Tử viện trở ra ngoài đời. Có điều khác hẳn là lần xuất tu tôi dứt khoát bao nhiêu thì khi rời Việt Minh tôi lại băn khoăn lưỡng lự bấy nhiêu. Cầm mảnh giấy của chỉ huy trưởng Chi Đội 12 ghi chỉ thị trả tôi về cộng tác tại địa phương, tôi nghĩ chẳng những đây là giấy báo tàn giấc mộng ”đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến ” mà còn là không khác một bản án tử hình cho tôi.

Một liên lạc viên ngày đêm đưa một mình tôi đi qua các vùng Hố Bò, Bời Lời, An Nhơn Tây, Pa-Ri Tân Qui, Bến Cỏ để về tới Bình Mỹ, Nhị Bình. Qua một khu rừng cao-su rậm rạp minh mông đi hơn một ngày chưa dứt. Cây trồng theo hàng lối ngay thẳng tắp, có thể thấy ở xa cả cây số. Nhằm mùa trái già đang chín rụng, đi vào chiều tối âm u, tiếng trái cao-su nổ lốp bốp hết đầu nầy tới đầu nọ nghe thật khiếp đảm, tưởng như những loạt súng mi-trai-dết (mitraillette = tiểu liên) bất ngờ tấn công. Lần nào tôi cũng cho là tiếng súng hành quyết tôi, dợm chưn vọt chạy, trong khi thực sự liên lạc viên là thiếu nữ đi phía trước tôi dẫn đường, thấy không có mang súng ống gì cả. Tại sao tôi lại cứ nghĩ tới chuyện mình bị thủ tiêu?

Như đã kể, ở Chi Đội 12, tôi được biệt phái làm ở Ban Quân Y trong thời gian chờ đợi đưa lên Khu nhận công tác về hành chánh quan trọng hơn, theo trình độ của tôi. Trưởng Ban là anh Mi, một thanh niên lai Ấn-Độ, người nhỏ con, hơi ốm, da rất sậm, là người ít thân thiện với tôi nhứt trong Ban Quân Y, không biết tại sao như thường ghìm tôi. Một hôm, bất ngờ anh ôm chặt tôi, đè xuống, lật trong lưng quần tôi ra một gói nhỏ, có chứa ngoài một xấp bạc năm, bảy trăm đồng, còn một bức thơ viết bằng tiếng Pháp.

Hơn một năm sau, tôi có gặp lại anh Mi tại Saigon, trong viện bào chế thuốc bác sĩ Tín ở Phú lâm, Chợ Lớn, khi tôi vào đó tìm bác sĩ Bùi Kiến Tín cho ông Ngô Đình Diệm. Không ngờ anh Mi cũng bỏ Khu về Thành như tôi và cũng ẩn dưới sự bao che của Cao Đài. Lúc nầy bác sĩ Tín mang lon Thiếu Tá Cao Đài để khỏi bị bắt vào quân đội Pháp, cũng như tôi mang lon Thiếu Úy Cao Đài do chính Thiếu Tá Tín nầy cấp do lời giới thiệu của ông Ngô Đình Nhu. Anh Mi có vẻ ngỡ ngàng hay ngạc nhiên gặp lại tôi. Mà thôi, để nói tiếp chuyện tôi suýt chết trong Khu.

Ông Tô Ký hỏi tôi thơ gì vậy? Có sao nói vậy, tôi giải thích đây là lá thơ cha giám đốc Eugène Larouche trao cho tôi ngày tôi bỏ nhà dòng Chúa Cứu Thế Huế về Saigon, chứng nhận tôi là cựu tu sĩ để cho Pháp không làm khó dễ. Tôi nghĩ rằng đây là bùa hộ mạng mang theo trong mình đi Khu được gỡ gạc nếu bị Pháp bắt.

Tôi biết có giải thích gì, trường hợp của tôi cũng quá nguy. Trước đó, có người đã bị xử tử về tội Việt gian chỉ vì trong túi mang tiền giấy có đủ ba thứ màu xanh trắng đỏ là màu lá cờ tam sắc của Pháp. Còn tôi mang lá thơ chữ Tây.

Ông Tô Ký không đá động gì tới lá thơ hay tiền trong gói, chỉ xoay qua công kích đạo kịch liệt. Đại để là thứ tu thứ đạo không làm trò trống gì. Rồi ông nói để ông trả tôi về công tác tại làng Công Giáo của tôi là nơi có phong trào Công Giáo Cứu Quốc của Kháng Chiến rất mạnh. Cũng là nơi có họ đạo Tân Qui mà nhà thờ đã bị Chi Đội 12 của ông tấn công thiêu hủy.

Ý nghĩ có vấn đề bè phái trong Kháng Chiến, hoặc ít nhứt trong Chi Đội 12, bắt đầu nẩy nở ra từ đó, đã sâu đậm thêm khi tôi về tới khu kháng chiến trong làng. Tôi gặp lại anh Tám tôi đã bỏ Thành vô Khu sau tôi. Anh tôi nói tụi ở đây phe đảng lắm, chắc tôi bị giao về cho địa phương xử lý hay dòm ngó, tánh thẳng thắn của tôi sẽ dễ gây lụy. Anh khuyên tôi nên xin về nhà luôn, lấy lý do có hai anh em cần có một đứa lo nuôi cha mẹ già. Anh tôi ở lại, rồi cũng lên gia nhập Chi Đội 12 của ông Tô Ký.

Trong thời gian thi hành Hiệp Định Genève, tôi xuống Cao Lãnh tiễn đưa người anh nầy tập kết ra Bắc. Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, anh đã giải ngũ, từ Bắc trở về với chức Cán Bộ Công Ty Xây Lắp, cũng đội nón cối. Nhờ anh, tôi được chở đến gặp lại đồng chí cũ là ông Tô Ký tại chợ Hốc Môn. Tôi có hỏi cho biết tại sao ông đã tha chết tôi và tọc mạch muốn biết vì sao anh Mi, Trưởng Ban Quân Y Chi Đội 12 của ông, đã hồi chánh. Ông Tô Ký mà tôi vẫn gọi là anh Ba, trả lời thoái thoát nghe rất chánh trị: ”Anh em nhau cả mà. Còn ai lại không biết anh là con ông Thầy Tư, gia đình kháng chiến từ đầu.

Những người Công Giáo tôi quen biết còn ở lại trong Khu lần lượt chết thảm. Anh Sáu Lê Văn Chi, con Bác Ba tôi, đang làm y tá ở Saigon, bị Kháng Chiến kêu gọi cấm hợp tác. Anh nghe lời, bỏ về nhà, thấy đối với một thanh niên khó sống trong vùng Pháp chiếm mà không đi lính cho chúng nên anh đi luôn vô Khu cho an toàn hơn. Anh là một người hiền lành và mộ đạo. Trong Khu, anh tiếp tục hành nghề chích thuốc trị bịnh cho du kích, cán bộ hành chánh xã và dân chúng trong làng. Gia đình mất liên lạc với anh một thời gian lâu, sau được biết anh đã bị thủ tiêu, không rõ vì lý do gì.

Anh rể thứ hai của anh Chi là anh Hai Thiết làm liên lạc viên đắc lực nhiều năm cho Ủy Ban Hành Chánh xã. Khi có người thưa anh ăn chận tiền đóng góp cứu quốc, không biết có thật hay không, anh bị hành quyết như một Việt gian hạng nặng. Không nương tay.

Chương 17

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.