ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN …: Phần I (Văn Bia)

CHƯƠNG 4

Vừa cởi chiếc áo dài đen của đệ tử nhà dòng ra, tôi mặc ngay bộ đồ bà ba trắng, mang guốc lốc cốc đi học trường Petrus Ký, mỗi ngày từ Bà Chiểu theo đường rầy xe lửa nhảy đà trên cầu qua Đất Hộ, hiện giờ là Dakao, đi về phía Thị Nghè là địa điểm mới của trường. Lính Nhựt chiếm ngôi trường cũ rộng lớn gần Ngã Bảy Saigon. Chánh phủ Pháp xây một dãy lớp học mới ngay trên giữa lòng đường Palanca gần Sở Thú để thay thế.

Pháp đặt hệ thống mật thám khắp nơi, đến tận các làng xóm hẻo lánh. Các ông đốc như ông đốc Lê Văn Huấn dạy Pháp văn và Việt văn, ông đốc Trương dạy sử địa và toán, đều bị theo dõi gắt gao, không dám hó hé chút gì dính dáng tới chánh trị. Nhưng học sinh Petrus Ký chúng tôi chung một tinh thần nhiệt thành yêu nước, tìm mọi cách mở được những cuộc tập họp như lập ra các hội thể thao và du ngoạn như đoàn SET (Section d’Excursion et Tourisme) của Lưu Hữu Phước.

Anh đoàn trưởng Lưu Hữu Phước và một anh nữa tên gì tôi quên mất (hình như là Mai Văn Bộ) viết ra những bài hát thúc đẩy lòng ái quốc cho chúng tôi ca lên, song bằng tiếng Pháp để qua mặt chánh quyền thực dân. Như bài ”Tiếng Gọi Sinh Viên” thì chúng tôi hâm hở ca to lên: ”Etudiants! Du sol l’appel tenace…(Xem nguyên bài bằng cả hai tiếng Việt và tiếng Pháp ở phần phụ lục cuối cuốn sách nầy) thay vì ca được:

”Nầy sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời Sông Núi
“Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.”

Chúng tôi bước nhịp theo tiếng hô: ”Một, Hai”, chớ không còn ”Un, Deux” như trước nữa.

Khi học lớp ông đốc Lê Văn Huấn, tôi để ý ông lựa lời thật kỹ trong các bài giảng để như trong đám học sinh có chó săn cũng không làm sao báo cáo hại ông được, mà học sinh vẫn nhận thấy lời dạy yêu nước của ông.

Ông đốc Huấn luôn luôn nghiêm nghị, gương mặt khắc khổ thiếu vắng nụ cười. Ông là em ruột của Thủ Tướng chánh phủ Nam Kỳ Quốc do Pháp dựng lên, là bác sĩ Lê Văn Hoạch, chuyên ngành nhãn khoa. Hai anh em, hai đường lối trái hẳn nhau, thì cũng rơi vào hoàn cảnh chung của hầu hết các gia đình Việt Nam, con cái trong nhà ở hai phe đối nghịch nhau.

Thấy giới trí thức mang tiếng thân Pháp mà không phản quốc, tôi vui mừng nhìn vận nước sắp đến thời độc lập. Nhưng buồn thay! Khi phe Đồng Minh Anh-Mỹ-Pháp càng thắng phe Trục Đức-Ý-Nhựt, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương càng tỏ vẻ lên chưn trở lại và bớt lo sợ Việt Nam dựa Nhựt Bổn hất cẳng chúng.

Hằng ngày, máy bay Mỹ đến oanh tạc bắn phá các căn cứ quân sự Nhựt đóng rải rác trên đất Việt, nhứt là tại Saigon. Nhiều ngày học sinh phải bỏ học. Tôi thường leo lên ngọn cây măng cụt nhìn coi máy bay Mỹ và Nhựt chiến đấu nhau, có chiếc bốc khói rớt thấy cũng đã con mắt lắm, nhưng khi nghe tiếng bom nổ vang ở Saigon thì tôi rất buồn, lo sợ anh chị Tư tôi ở nơi đó có thể bị thương hay chết chóc, nhà cửa tan hoang.

Ai cũng đoán Pháp sẽ theo chưn Đồng Minh đổ bộ đánh đuổi Nhựt Bổn. Quân đội anh dũng của Thiên Hoàng lâu nay còn chưa dám lật đổ nổi Pháp thì bây giờ người Việt Nam mình còn hy vọng gì nữa. Ngày tàn của thực dân Pháp không đến sớm như tôi nghĩ và mong mỏi. Chưa khởi sự chống Pháp mà tôi đã thấy thua. Lý tưởng làm như bị mất ngang. Tôi buồn quá và nhớ lại nhà dòng Chúa Cứu Thế với những năm yên lành đã trải qua, chỉ có vài năm cuối cùng gặp sóng gió.

Từ ngày ra khỏi nhà dòng tới nay, không bị ràng buộc ngăn cản hay bó ép gì mà sao như tôi hoàn toàn quên hẳn chuyện tình dục. Tôi thấy việc tu hành quá dễ dàng mà, không có khổ sở khó khăn chút nào. Bây giờ coi con đường tu hành mới thật sự đúng cho tôi. Tôi xin tu trở lại và được chấp nhận liền.

Cũng dùng phương tiện xe lửa để đi ra Huế như lần đầu, chỉ khó khăn và mất thời gian nhiều vì các chuyến xe thường bị Nhựt sung công chuyên chở quân cụ lính tráng. Chúng chừa cho hành khách tư nhân vài toa để chúng núp theo tránh máy bay Mỹ oanh tạc. Người dân muốn đi được phải chờ đợi năm ba ngày mới có chỗ.

Được tạm trú trong nhà dòng Chúa Cứu Thế Saigon chờ đến chuyến mình, tôi mặc lại chiếc áo dài thâm đồng phục của đệ tử dòng Chúa Cứu Thế. Phòng tôi ở đúng là cái phòng ông Ngô Đình Diệm sẽ trú ngụ, và vài năm sau lại sẽ tiếp tôi tại đó. Ông cũng mặc áo dài thâm y như tôi trước kia. Sao tôi thấy ông xứng đáng mặc chiếc áo tu ấy hơn tôi lúc ở đó nhiều. Vì…

Vì, trong một đêm còn ngủ tại phòng đó, tôi phải gọi Cha bề trên đến xin xưng tội và tính rằng sau đó mình bỏ chuyến đi ra Huế tu, trở ra ngoài đời chống Pháp Nhựt. Theo Giáo Luật thì đêm đó tôi lại nhơ nhớp xấu xa, không còn xứng đáng để sẽ được mang đội lớp áo dòng như các cha, các vị linh mục ”trong sạch”.

Tôi đã xưng tội với Cha là tôi vừa bị ma quỷ cám dỗ phạm tội trọng. Vì không phải là Cha linh hồn của tôi, cũng không phải là Cha giám đốc Đệ Tử Viện ở Huế đã nhận tôi tu lại, Cha bề trên nhà dòng Saigon chỉ ban phép Giải Tội cho tôi, kèm theo câu thường lệ:

– Con ra về bình an.

Tôi chấp nhận tình trạng của tôi, lương tâm thật thanh thản. Tôi nghĩ mình phải thành thật, không bao giờ được giả dối, cho dầu với cái giá phải mất chiếc áo dòng mà bao người cho là vô giá, cứ cố bám vào, tuy họ có người không xứng đáng chút nào. Tôi ra về bình an thật sự và tưởng là ra về thế gian. Song nhà dòng đưa tôi ra ga xe lửa đi Huế. Để cuộc chiến đấu kinh hoàng ngày nào lại tiếp diễn trên con đường tu hành . Cũng lại vào lúc thế giới bên ngoài xáo động ngày càng thêm dữ dội mà có so sánh cũng không sao khủng khiếp bằng trận chiến trong nội tâm của tôi. Trận chiến nội tâm mà tôi phải đương đầu đó, tất cả mọi kẻ tu hành Công Giáo đều đang lâm trận cho tới ngày chết mới chấm dứt.

Chương 5

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.