ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN …: Phần I (Văn Bia)

CHƯƠNG 6

Thoạt đầu tôi tưởng thời gian ở Huế thuật trong Hồi Ký nầy là giai đoạn cưu mang nền độc lập của Việt Nam đến ngày sinh nở. Tôi lầm. Ngày Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố độc lập và trao cho học giả Trần Trọng Kim trọng trách lập nội các, chỉ là ngày Việt Nam chánh thức công bố ngày cáo chung chế độ đô hộ của Pháp. Nước Việt Nam vừa đổi chủ thôi. Chủ mới là đế quốc Nhựt Bản. Chánh sách thuộc địa chưa thay đổi. Việt Nam vẫn còn bị chia làm ba kỳ: Trung Kỳ, Bắc Kỳ, và Nam Kỳ, theo độc mưu chia để trị, gây tang thương lâu dài cho đất nước. Mãi sau ngày được hoàn toàn giải phóng và thống nhứt 30/4/75, nạn kỳ thị Nam Bắc ám ảnh dân tâm tới nay vẫn chưa dứt.

Ai có sống qua thời đả đảo phở tái, hay Bắc Kỳ, của phe Nam Kỳ Quốc ở Saigon, mới đau lòng thấm thía cho cảnh nồi da xáo thịt do ngoại bang gây ra. Nên nhớ tôi là người Nam Kỳ trăm phần trăm, càng căm ghét thực dân Pháp bao nhiêu, càng quyết tâm đứng vào phe thống nhứt lúc đó bị gọi là phe Bắc Kỳ, phe rau muống hay phe Cọc Cạch. Hầu hết dân Nam Kỳ yêu nước cũng đều như tôi, lúc đó.

Tưởng nên nhắc qua guồng máy chánh trị do chế độ Pháp thiết lập, để các bạn trẻ chưa đọc lịch sử Việt Nam hiểu rõ hơn lúc đọc tập Hồi Ký nầy.

Thời Pháp thuộc, Đông Dương gồm ba nước Việt, Miên và Lào, dưới quyền cai trị của quan Toàn Quyền Pháp đóng đô tại Hà Nội và Saigon, ngự trị trong dinh Toàn Quyền, là dinh Độc Lập sau nầy.

Khắp Đông Dương dùng chung một loại tiền tệ do Đông Dương Ngân Hàng (Banque de l’Indochine) phát hành, hình mặt trước in giống nhau, mặt sau mỗi nước Việt, Miên, Lào có hình khác biệt trình bày đặc tính của nước mình. Cả ba nước có vua riêng cai trị dưới quyền bảo hộ của chánh phủ Pháp. Riêng nước Việt Nam, Pháp áp dụng một chánh sách phức tạp hơn, cai trị thuộc địa Nam Kỳ, bảo hộ Trung Kỳ, và bán cai trị bán bảo hộ Bắc Kỳ.

Pháp chiếm Việt Nam chia ra thành như ba nước khác biệt nhau. Nước Việt Nam chỉ còn thật sự có Trung Kỳ (phần giữa nước Việt Nam) cho Hoàng Đế Bảo Đại trị vì, dưới quyền bảo hộ của Pháp đại diện bởi một vị Khâm Sứ Pháp.

Phần Bắc Kỳ bị cắt ra có cơ chế vừa phân nửa bảo hộ vừa phân nửa thuộc địa. Vua Việt Nam chỉ có tiếng cai trị bằng một vị Khâm Sai đại diện ở đó. Thật sự viên Thống Sứ Pháp nắm hết quyền bính.

Còn Nam Kỳ hoàn toàn là một thuộc địa của Pháp, cai trị bởi một viên Thống Đốc Pháp, vua Việt Nam không có một chút quyền gì ở đó, ngay cả tiếng cũng không có khi không còn miếng. Vua nước ta đã ký hòa ước năm 1884 nhượng đứt phần miền Nam đó của giang sơn cho Pháp, người Nam Kỳ thành dân thuộc địa. Người Bắc Kỳ và người Trung Kỳ là dân bảo hộ, tuy người sống ở ba miền đều là người Việt Nam cùng chung sống trên một giang sơn Việt Nam.

Sau khi đảo chánh Pháp, Nhựt Bổn cắt đặt những quan cai trị khác nhau ở mỗi Kỳ theo y như thời Pháp, như Nam Kỳ có Thống Đốc Nhựt riêng.

Mộng làm bá chủ châu Á với chủ nghĩa Đại Đông Á tiêu tan, Nhựt Bổn không còn dám làm gì ngoài việc lo giữ nguyên hiện trạng theo lịnh của phe chiến thắng Đồng Minh Anh-Pháp-Mỹ, chờ họ cử quân tới giải giới và tiếp thu.

Dầu cho có thật sự muốn giúp Việt Nam giải phóng, Nhựt Bổn vẫn sợ tội ác chiến tranh bồi thêm tội tiếp tục tiếp tay chống Pháp là một cường quốc thành viên của Đồng Minh. Số phận của nước Việt Nam nhỏ bé vẫn do ngoại quốc định đoạt.

Các đảng phái phe nhóm nổi dậy đánh phá con cọp què Nhựt Bổn. Quốc Dân Đảng nổi bật nhờ thành tích kháng Pháp đã có từ lâu trước với số lượng đảng viên hùng hậu và những tên tuổi danh tiếng như chí sĩ Nguyễn Thái Học, nhà cách mạng Nguyễn Hải Thần, nhà văn Khái Hưng (thuộc Đại Việt Dân Chính).

Một đảng bí mật khác được dân chúng rỉ tai nhau không biết vị thủ lãnh là ai. Những cán bộ của họ thình lình xuất hiện ở các rạp hát, tung rải truyền đơn tuyên truyền. Nhựt Bổn chủ yếu lo giữ kho khí giới. Quân kháng chiến thành công hơn hết trong việc đánh cướp các kho gạo, đem phân phát cho dân đang chết đói, ước tính có tới con số hai triệu. Nhựt Bổn đã thu vét thóc tiếp tế quân đội trong khi diện tích trồng lúa còn bị thu hẹp để trồng đai dệt bố phục vụ chiến tranh.

Tuy võ khí hiếm hoi sơ sài với một đoàn quân nhỏ nhoi, cuộc chiếm chánh quyền chớp nhoáng thành công ở Hà Nội ngày 19/8/45. Làn sóng cách mạng dâng lên cao ngất, ào ạt. Tại đất Thần Kinh Huế, một tiếng súng cũng không nghe. Chỉ thấy dân chúng lũ lượt kéo đi biểu tình khắp thành phố, tràn ngập đường Khải Định dọc trước nhà dòng tôi đang trú ngụ (ngày 23/8/45.)

Mới sau có mấy tháng tuyên bố độc lập, ngày 30/8/45 Hoàng Đế Bảo Đại lại trở ra trước mặt quốc dân tại lầu Ngọ Môn (Huế), đọc tuyên ngôn thoái vị, trao quyền lại cho Cách Mạng, trong đó có câu lịch sử: ” Trẫm thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ ”. Hai đại diện Cách Mạng là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận, tức thi sĩ Huy Cận, từ Hà Nội vô nhận lãnh ấn kiếm biểu hiệu quyền vua.

Ngày Hai tháng Chín 1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ông Hồ Chí Minh ra mắt lần đầu tiên, đứng đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập có câu mở đầu y hệt như trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ ngày 4/7. Chủ Tịch Hồ Chí Minh là thủ lãnh Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, một mặt trận bao gồm các đảng phái khác tham gia với đảng chủ lực của ông là Đông Dương Cộng Sản Đảng.

Non nửa triệu người dân cuồng say hoan hô mừng rỡ. Một chiếc máy bay Hoa Kỳ bay quần trên bầu trời quan sát biển người là lực lượng nhân dân thật sự ăn mừng ngày độc lập đầu tiên trở lại trên đất nước Việt Nam.

Ngày 2-9-1945 không thể được coi là ngày Độc Lập như ngày 4-7-1776 của Mỹ. Hoa Kỳ mới thành quốc hai trăm năm. Việt Nam có lịch sử bốn ngàn năm, tuy nền độc lập bị mất nhiều phen, có lần lâu cả ngàn năm, song lần nào rốt cuộc cũng giành lại được. Sau non một trăm năm bị Pháp đoạt chiếm, nay một lần nữa thâu hồi lại được thì ăn mừng ngày thắng lợi giành lại độc lập mới đúng. Đúng hơn, là ngày đánh dấu nền quân chủ ở Việt Nam cáo chung. Tôi nghe ông vua cuối cùng của Việt Nam lên tiếng thoái vị như lời tạ tội với Giang Sơn rằng, vì họ Nguyễn tranh ngôi, cõng rắn cắn gà nhà, dầu sau đó có những nhà vua trong dòng họ như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân tận lực chống lại Pháp, toàn dân vẫn phải chịu hậu quả mất nước cả thế kỷ.

Giai đoạn loạn lạc và tranh chấp phe đảng năm 1945 tôi sắp kể đến, đúng mười năm sau đó, lại sẽ tái diễn y như một bản sao, lúc ông Ngô Đình Diệm trở về nước chấp chánh, đứng trước cảnh một miền Nam hỗn độn, phe đảng giành giựt nhau quyền lợi do thực dân Pháp thua chán chánh trị lẫn quân sự, bắt đầu nhả ra. Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài, v.v. mạnh ai như sứ quân tung hoành trong vùng ảnh hưởng của mình. Nước nhà đang cần có một chánh vì vương, độc tài để thành công như Tần Thủy Hoàng hồi xưa hay Mao Trạch Đông gần đây, thống nhứt được Giang Sơn.

Chánh phủ Việt Nam mới thành lập năm 1945, non nớt lại đứng trước nguy kịch sơn hà bị tái chiếm. Vì Đồng Minh, trong đó có Pháp, sắp sửa tràn vào giải giới Nhựt Bổn. Dễ gì thực dân không thừa cơ đớp lại miếng mồi ngon Việt Nam. Tình trạng chính trị chia năm xẻ bảy, đảng phái tranh giành ảnh hưởng hay miếng đỉnh chung, trong lúc sự thống nhứt là điều kiện tất yếu đủ sức mạnh chống nổi ngoại xâm. Có chế độ độc ác tàn bạo vẫn trị dân được là nhờ nắm chánh nghĩa. Lịch sử không lên án vua Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan nạn tương tranh giữa 12 sứ quân, thống nhứt lãnh thổ, xây dựng nền độc lập.

Phe Đồng Minh cắt đặt cho quân của Tưởng Giới Thạch do Lư Hán chỉ huy, cũng là đồng minh đánh Nhựt, vào miền Bắc Việt và vùng Bắc Trung Việt, tước khí giới Nhựt. Quân Anh quốc lãnh thi hành nhiệm vụ nầy từ vĩ tuyến 16 trở xuống, gồm Nam Trung Việt và trọn miền Nam Việt.

Đầu hôm sớm mai, quân Tàu đông đảo hơn lính Nhựt thập bội, mặc quân phục ka-ki, đông như kiến tràn vào thành phố Huế sau khi đã chiếm hết miền Bắc. Nhìn đoàn quân lết bết, nếu không nói là ô hợp, kéo lê theo sau nào là đàn bà con nít và đủ thứ đồ không thể gọi là quân nhu hay quân cụ, tôi lo ngại cho nước mình đã bị nghèo đói vì Nhựt, chắc lại còn phải mạt vì Tàu. Càng lo sợ hơn nữa là viễn ảnh bị lại chủ Tàu sau khi vừa thoát chủ Tây.

Người mình ở Huế gọi đám quân Tàu nầy là Tàu Vàng hay Tàu Phù. Họ mặc đồ vàng, hầu hết mắc bịnh phù thủng, mang đầy chí rận và ghẻ chóc gọi là ghẻ Tàu giống như ghẻ hòm. Họ ngồi ngay giữa đường bắt rận, chí cho nhau. Đoàn quân chết đói nầy thèm ăn đến mức có đứa ngồi ăn một lần cả chồng tô bún bò. Ăn xong phát ách ngã ra chết tại chỗ. Đồng đội kéo thây quăng xuống ruộng hai bên Đường Ngang, giữa Bót Cò và miễu Đại Càn. Ruộng nầy nằm ngay phía sau hội trường Accueil của nhà dòng Chúa Cứu Thế Huế, xây cất trên đường Khải Định, đối diện với nhà dòng, cho thanh niên dùng làm nơi sanh hoạt, có thư viện, sau nầy biến thành xưởng cưa máy.

Nhiều năm sau đó, lúc làm phóng viên cho nhựt báo Thần Chung, tôi gặp lại cả trăm ngàn lính Quốc Dân Đảng Tàu nầy tại Dương Đông, cù lao Phú Quốc. Đoàn bại quân nầy bị quân Mao Trạch Đông đuổi chạy vượt qua biên giới Bắc Việt, quân Pháp bắt giải giới chở đem giam ở đó.

Ào tới như nước lớn, quân Tàu rút khỏi Việt Nam cũng mau lẹ như nước ròng. Quân Pháp vào thay thế, đóng quân tại vài địa điểm chỉ định sẳn ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế và Đà Nẵng. Chánh phủ Việt Nam lúc ấy là Việt Minh bị các đảng đối lập, nhứt là Việt Nam Quốc Dân Đảng, tố cáo là bán nước, rước Pháp trở về thay lính Tàu Quốc Dân Đảng, là đàn áp họ để củng cố chế độ. Nghe nói nhà văn Khái Hưng thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn mà tôi rất mến mộ, đã bị Việt Minh thủ tiêu trong thời gian đầu, không biết có phải vì Khái Hưng theo Quốc Dân Đảng Tàu lật đổ họ không?

Vì sao ông Hồ Chí Minh rước Pháp đuổi Tàu, lịch sử có ghi câu ông tuyên bố:

– Tôi thà chịu hửi cứt Tây 5 năm còn hơn phải ăn cứt Tàu suốt đời tôi.

Hồ Chí Minh giải thích lý do: Pháp là ngoại bang ở xa, họ sẽ cút. Còn Tàu láng giềng sẽ ở lại luôn. Lần cuối rồi, chúng đã ở cả ngàn năm đó.

Chương 7

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.