ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN …: Phần I (Văn Bia)

CHƯƠNG 7

Tình hình ở Nam Bộ (Nam Kỳ) càng rắc rối. Nhân dân Việt Nam gọi miền Nam là Nam Bộ, không chấp nhận việc phân chia đất nước, không chịu danh từ Nam Kỳ (Cochinchine), Trung Kỳ (Annam) và Bắc Kỳ (Tonkin) do Thực Dân Pháp đặt ra.

Quân Anh đưa lính Chà Chóp từ thuộc địa Ấn Độ của họ đến, có lính Pháp núp theo sau lưng. Quân Chà Chóp tiếp thu tới đâu, lính Pháp chiếm tới đó. Lúc đầu sợ đánh Chà Chóp là động tới Đồng Minh, Nam Bộ Kháng Chiến mở màn trở lại trang sử oai hùng vào năm 1946 “Mùa Thu rồi, ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu Sơn Hà nguy biến.”

Lịch sử Nam Bộ Kháng Chiến bắt đầu từ hồi cuối thế kỷ 19, xuất phát từ vùng đất cách mạng nổi danh là 18 Thôn Vườn Trầu, chính nơi tôi sinh ra, ở vùng Hốc Môn. Năm 1885, chí sĩ Phan Công Hớn lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nông dân quê tôi, đánh chiếm quận Hốc Môn giết Đốc Phủ Ca (Đốc Phủ Sứ Trần Tử Ca).

Hơn nửa thế kỷ sau, đến năm 1940, thừa dịp Đệ Nhị Thế Chiến, Nam Bộ Kháng Chiến chống Pháp vừa nổi dậy lần nữa lại bị dẹp tan tành. Hầu hết nồng cốt thuộc đảng viên Đông Dương Cộng Sản Đảng bị Pháp tàn sát bằng cách bắt xỏ xâu từng nhóm đưa xuống xà-lan nhận chìm chết ở Cần Giờ, hoặc đem đi đày Côn Nôn hay Tà Lai, Bà Rá. Những người bị giam giữ nầy còn sống sót như Tô Ký, Trần Văn Giàu, Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Lê Duẫn, đã dùng những năm tù tội rèn luyện tinh thần chống Pháp mà đường lối chánh là chủ thuyết Cộng Sản, an toàn vững mạnh nhờ tổ chức chặt chẻ bí mật. Năm 1945, những người ấy lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Bộ Kháng Chiến một lần nữa rốt cuộc thành công sau nhiều năm gian truân khổ sở.

Pháp tái lập ngay guồng máy thuộc địa, khởi đầu giới hạn trong chu vi Saigon rồi lan rộng lần ra các vùng lân cận. Kháng Chiến trang bị vũ khí sơ sài từ tầm vông vạt nhọn tới giáo mát, súng săn và hiếm hoi súng trận cướp từ lính Nhựt Bổn và Pháp. Cầm cự anh dũng cho mấy rồi cũng phải tháo lui, rút khỏi nơi nào, Pháp lấn chiếm tới đó. Không bao lâu, Pháp tái chiếm được các thành phố tỉnh lỵ, dùng mọi chước, từ mua chuộc đến hăm dọa, kêu gọi các công chức cũ trở về nhiệm sở. Một số trong giới trí thức, ví dụ như các giáo sư trường Petrus Ký, bỏ vào Khu hoặc ở lại ”trùm chăn” không đáp ứng. Những người làm việc trở lại là hợp tác với thực dân Pháp, bị gán cho danh từ Việt gian. Kháng Chiến tiếp tục làm chủ vùng thôn quê cho tới ngày thi hành Hiệp Định Genève năm 1954.

Phong trào Thanh Niên Tiền Phong tại Huế sôi sục, thanh niên sinh viên hăng hái ào ạt xung phong gia nhập Giải Phóng Quân để Nam Tiến, song thiếu phương tiện di chuyển từ các tỉnh miền Trung vào Nam. Khi tôi từ Huế trở về Saigon, không ngờ rằng tôi rời bỏ vùng đất độc lập để tới Nam Bộ đã về tay Pháp.

Ở Huế và Hà Nội, quân Pháp không được rời khỏi các khu đã chỉ định cho họ khi đến thay thế lính Tàu. Quyền cai trị còn hoàn toàn trong tay chính phủ Việt Nam. Những cuộc xung đột xích mích bắn trả qua lại thỉnh thoảng xảy ra, rốt cục cũng dàn xếp được. Song mộng tái xâm lăng của Pháp quá rõ rệt, hai phía đều ghìm nhau chờ ngày chiến sự nổ bùng.

Trong nhà dòng Chúa Cứu Thế Huế, các cha người Canada được trở về cai quản lại một Đệ Tử viện đã mang màu sắc chánh trị nồng nàn yêu nước. Trong thời gian cha Giuse Trần Hữu Thanh làm giám đốc, các Đệ Tử được ra ngoài tham gia các cuộc mít-tinh ái quốc, như đi dự tổ chức Tuần Lễ Vàng, cầm cờ Việt Nam (đỏ sao vàng) hoan hô rầm rộ. Bà Nam Phương Hoàng Hậu với chức mới là bà Cố Vấn Vĩnh Thụy có mặt trong buổi lễ, giơ nắm tay chào theo kiểu cách mạng coi oai phong lẫm liệt. Lớn nhỏ sang nghèo, đủ mọi tầng lớp một lòng yêu nước. Thêm lần đầu tiên được thấy một đoàn quân Việt Nam mặc đồng phục, đầu đội nón cối gắn huy hiệu sao vàng, đeo súng sáu bên hông, gây phấn khởi hồ hởi lạ thường.

Không biết các lớp khác, lớn và nhỏ hơn, ra sao, chớ lớp Đệ Tứ (Quatrième classique) của tôi hăng say độc đáo. Phần nhiều đều cất trong hộc bàn mỗi người một lá cờ đỏ sao vàng nhỏ bằng vải có cán, tới giờ học đem ra cắm trước mặt cho đến mãn lớp mới cất vô. Cha Dumas về xét từng hộc bàn, tịch thu hết cờ. Chúng tôi phẫn uất, không dám hó hé, trong bụng lên án ông cha thực dân hạng nặng. Tôi thù ghét các cha dòng Chúa Cứu Thế riết cho đến ngày nhà dòng che chở cho tôi ẩn náu trốn Pháp. Bấy giờ mới sáng mắt, nhận biết trước kia mình quá bồng bột, xét đoán hời hợt, không thấy nhà dòng xử sự khôn ngoan lúc Pháp tái chiếm.

Ở Huế, quân Pháp trú đóng tại trường Providence (Thiên Hựu), cách nhà dòng Chúa Cứu Thế có con đường Khải Định. Nơi chúng tôi tu được coi là vùng nguy hiểm. Nhóm di tản đầu tiên của chúng tôi là những đệ tử quê ở Nam Kỳ, khoảng vài chục người, được xe cam-nhông chở tới Đà Nẵng xuống tàu Pháp về Saigon. Cũng loại tàu há mồm của Mỹ mà mười năm sau, lúc làm phóng viên báo Tiếng Chuông, tôi chứng kiến chở đồng bào di cư Bắc Việt vào Nam và chở du kích quân Việt Minh tập kết từ Cao Lãnh và Cà Mau ra Bắc Việt.

Trong rương đồ của tôi, ngoài quần áo, còn có một xấp bài quốc ca Tiến Quân Ca, trọn mặt bìa in lá cờ đỏ sao vàng đỏ chói. Tôi đinh ninh miền Nam cũng thuộc nước Việt Nam như ở Huế. Khi anh chị tôi mở rương ra thấy xấp lá cờ đỏ sao vàng, họ xanh mặt, lấy đốt hết. Bấy giờ tôi mới biết nước tôi lại bị mất độc lập nữa rồi.

Chương 8

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.