ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN …: Phần I (Văn Bia)

CHƯƠNG 8

Cởi áo dài đen tu sĩ và mặc vào bộ đồ bà ba đen du kích quấn thêm chiếc khăn rằn, là hai biến cố quan trọng trong đời tôi dồn dập nối tiếp nhau. Rời nhà dòng yên tĩnh trở về sống trong vòng khói lửa mịt mờ là thoát một trận chiến lý tưởng ác liệt kéo dài vô tận để tham gia một cuộc đấu tranh dữ dằn không kém, nhưng thực tế và rõ ràng thấy có ngày thắng trước mặt. Bỏ trận chiến với tình dục đi tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ngày tôi từ Huế về đoàn tụ với gia đình, thấy trong sự đón tiếp vui mừng của ba má và anh chị em tôi có thoáng một nét buồn không giấu giếm được, nhứt là trên gương mặt của má tôi, người mà thường, và có lẽ duy nhứt, khóc nhớ tôi trong những năm dài tôi đi tu xa nhà. Tôi biết hạnh phúc lớn nhứt trong đời má tôi mà tôi cũng đã quyết tâm đem đến cho người, không phải chức được làm mẹ ông Cố (có con làm linh mục), mà là muốn được trên giường chết có người con làm cha ban phép xức dầu thánh (bí tích cuối cùng) cho người sắp qua đời.

Má ơi, những lời con viết sau đây trong Hồi Ký nầy, con không thể nói ra lúc đó để cho má biết rằng con của má tuy không làm cha (linh mục) được, nhưng nhứt định là có một đời sống xứng đáng không thua một ông cha. Bây giờ con tin Má, ở cõi thiêng liêng, thấy rồi.

Hình như để an ủi má tôi hay cho chính tôi khỏi mặc cảm vì chữ tu xuất, nhiều bà con ngồi bàn chuyện tu hành, đã phê phán lối tuyển chọn quá khắt khe ”kêu nhiều gọi ít”. Tất cả 24 trẻ trong họ đạo ra đi tu một lượt với tôi, tôi là một đứa cứng cựa nhứt, cuối cùng cũng trớt quớt. Chú Sáu tôi nói:

– Họ sàng gạo bằng rổ mương, có hột gạo cội nào bằng hột mít cũng lọt.

Ở miền quê dùng vần sàng để sàng gạo cho tấm cám rơi xuống nia. Thóc tụ vô giữa hốt đi còn lại gạo. Cái rổ mương cỡ to bằng đầu người, cũng đan bằng tre như vần sàng nhưng lỗ to thọt ngón tay cái qua lọt, dùng để hốt sình và tát cá. Cho nên có đem rổ mương dùng sàng gạo thì hột gạo cội phải to hơn hột mít họa may mới không lọt.

Thứ hạt gạo cội được tuyển chọn làm tu sĩ đúng là phải to hơn hột mít, có ai thấy được trên cõi đời nầy không? Lớp tôi học tu cả thảy sáu chục đứa, hay lắm mới có bốn đậu làm cha là các cha Do, Quế, Phú và Antoine Phúc. Tôi bái phục bốn cha nầy phải là siêu nhân. Sống được cuộc đời thật sự trái thiên nhiên thì đâu phải là người thường.

Để diệt dục, làm tiêu tan được một thứ nhu cầu như ăn uống, các vị tu sĩ thường xuyên hãm mình đánh tội. Mỗi tối Thứ Sáu, tôi nghe trong phòng các cha vang lên tiếng roi đánh tróc tróc, được biết là họ đang đánh tội. Trong ngày, mặc dầu bận rộn việc dạy dỗ, vào những khoảng giờ nhứt định, các cha phải cầm sách Kinh Nhật Tụng đọc hết hàng chục trang Giáo Luật qui định, cho khuây khỏa lãng quên nhu cầu xác thịt. Như vậy họa may mới giúp họ giữ mình được “trong sạch”.

Ngay trong tiêu chuẩn chọn lựa tu sĩ cũng là cả một việc mâu thuẫn. Phải vừa hoạt bát năng nổ đầy sinh lực lại cũng phải vừa kém đường sắc dục mà điểm để dễ nhận xét là không mê thích người nữ. Hậu quả của cách tuyển chọn nầy, theo một cuộc điều tra vừa rồi ở Hoa Kỳ cho thấy, đa số cha thầy thuộc loại không ưa phụ nữ thật vì họ thuộc loại đồng tính luyến ái. Bao nhiêu linh mục can tội kê gian với học trò giúp lễ.

Phải dùng cách hành xác khắc khổ, dồn ép quá mức hay chăng, mà tôi thấy có cha Galipau nổi cơn điên vứt bỏ quần áo chạy trần truồng ngoài đường, phải đưa về Canada, sau đó hồi tục cưới vợ và trở lại bình thường.

Tôi còn được biết, trong khi tôi xuất dòng thì có bạn tôi là Trần Ngọc Phan, hiện sanh sống tại Boston (Massachusetts), cũng người Saigon, vào tu sau tôi ít năm, đến chức thầy mà tình ái lai rai ướt át với một nữ sinh Huế. Nhà dòng có cẩn thận, mỗi khi cho ra ngoài như hội họp làm việc công đồng với trường khác như trường nữ Đồng Khánh, bắt phải có hai tu sĩ cùng đi chung để trông chừng nhau. Nhưng cả hai xăng tăng (s’entendre = đồng lõa) đi hẹn riêng với gái dài dài.

Anh bạn nầy có kể chuyện cũ, một hôm anh đưa con đi học đến trường Taberd tình cờ gặp một thiếu phụ cũng vừa chở con tới đó, nhận ra anh là người tình xưa, khoảng hai mươi năm về trước. Nàng không đến đổi thê thảm như trong chuyện ”giọt lệ đài trang” song rất tiều tụy về phương diện tinh thần. Tên cô gái Huế trường túc nầy là Ngô Thị Như Hà, có nước da mặn mà và đôi mắt thật đa tình, lại là tình nhân của Trung Tá Lãng, ông nầy vừa bị chồng nàng là Thiếu Tá Hổ bắn chết.

Báo chí lúc đó đang khai thác tối đa chuyện tình tay ba nầy, và có lẽ cả tay tư nữa, vì úp mở cho biết còn có bóng dáng linh mục Cao Văn Luận sau lưng giai nhân là một học trò cũ có liên hệ thân mật với ông đến mức gây nhiều tiếng xầm xì. Có lẽ vì nhờ linh mục Luận khi ấy làm cố vấn cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu che chở, nên chuyện tranh giựt gái Đồng Khánh Sông Hương Núi Ngự quá đa tình nầy bằng án mạng, đã được xử gần như chìm xuồng. Phải chi những giờ phút hò hẹn thơ mộng ngắn ngủi trên núi Ngự hay bên bờ sông Hương giữa chú Đệ Tử Phan với cô nữ sinh Đồng Khánh năm nào không bị đứt đoạn vì lương tâm tu hành, thì tình duyên nàng ta đâu có trắc trở dài dài từ Huế kéo lê vào Saigon.

Có nhiều vị đã được phong chức rồi vẫn lột áo dòng xin hoàn tục. Tôi khâm phục sự can đảm và lòng ngay thẳng của các vị nầy. Họ đáng trọng hơn các kẻ cố bám víu vào chiếc áo dòng mà làm nhơ bẩn nó, núp dưới nó, lợi dụng nó để làm chuyện tội lỗi còn hơn người trần tục, như quấy nhiễu tình dục làm chuyện dâm ô với con nít, thông gian với vợ con bổn đạo, cưỡng dâm hãm hiếp dì phước, bà xơ (soeur), nữ đồng nhi hát…

Tôi không lên án, chỉ vô cùng thương hại cho những kẻ sống giả hình nầy, vì họ chỉ là nạn nhân của Giáo Luật quá khắc khe. Trong hoàn cảnh họ, nếu tôi cố gắng tu như họ, chắc tôi thành ”ông linh mục Phanxicô Xavie Lê Văn Bia” bạo dâm hủ hóa còn hơn họ nữa.

Chính Giáo Hội thông cảm tu sĩ không thể thắng nổi bản năng giới tính, nên tha thứ loại vi phạm nặng nhứt trong ba lời khấn hứa giữ đức Trong Sạch, Khó Khăn và Vâng Lời. Linh mục ở nơi nào phạm lỗi bị lộ tẩy thì được che chở đưa đi trấn nhậm chỗ khác. Khi không còn chận cấm được lời tố cáo của tín hữu thì Giáo Hội chịu bỏ tiền bạc ra mua chuộc, bít miệng nạn nhân, chớ vẫn không trừng phạt linh mục phạm tội.

Phải công nhận hầu hết các vị linh mục dính líu đến chuyện quấy nhiễu tình dục là những đấng có tài hùng biện và năng nổ, làm việc đắc lực, được nhiều cảm tình. Song áp dụng giải pháp bao che là dùng tệ hại nầy gia tăng tệ nạn khác mà thôi. Đời văn minh dân chủ hiện đại nầy, Giáo Quyền không còn được sức kìm kẹp tuyệt đối như của Pháp Đình Tôn Giáo Tra Xét (Inquisition) thời Trung Cổ, không còn được vượt quyền luật pháp ngoài đời, bao nhiêu vị linh mục phạm tội bị báo chí lẫn dư luận lần lượt phơi bày, đưa đến trừng phạt tù tội và đền bù tài chánh nặng nề. Thật ra những vị linh mục tội đồ nầy cũng là nạn nhân. Chẳng những đã là nạn nhân của Giáo Điều như tôi đã nêu ra, mà thường họ còn là nạn nhân của chính những nạn nhân của họ. Mới rồi (11/04), vừa được làm quen với một linh mục trong một tiệc giỗ ở Dalat, vị nầy không ngại bày tỏ một nỗi khó khăn của ông khi tôi bàn đến chuyện một số tai tiếng của cha thầy trên khắp cả thế giới chớ không phải chỉ riêng ở Việt Nam. Ông nói hiện chính ông còn thường xuyên bị phụ nữ tự đề nghị hiến dâng (ông dùng nguyên văn chữ tiếng Pháp OFFRIR). Mở cứ treo lủng lẳng trước miệng mèo đói bảo sao tránh được chuyện phải xảy ra.

Lúc sống ở Bà Chiểu, tôi thường đi xưng tội với cha Gia-cô-bê Huỳnh Văn Của ngồi xứ ở nhà thờ Gia Định. Tội tôi thường xưng, và gần như duy nhứt để có mà xưng, là thủ dâm, vì tội nầy theo Giáo Luật là tội trọng phải đi xưng kẻo sa hỏa ngục đời đời kiếp kiếp. Ghê quá! Cha Của sau nầy làm Giám Mục, lần nào ngồi Tòa cho tôi xưng tội cũng khuyên tôi có một câu mà tôi muốn nhắn lại với các vị tu hành đang đau khổ nhọc nhằn, còn nhiều đấng phải nhục nhã nữa vì vấn đề sinh lý mà con người đàn ông mạnh khỏe bình thường phải có. Đó là câu: ”Con hãy lo cưới vợ ”.

Chương 9

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.