ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN …: Phần I (Văn Bia)

CHƯƠNG 9

Tại Saigon, Pháp lập ra chánh phủ Nam Kỳ, đặt bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ Tướng không quyền hành, không quân đội. Hành chánh, tài chánh, y tế, giáo dục, nhất nhất đều do Pháp kiểm soát cho nên bị gọi là bù nhìn. Sau đó có mấy tháng, bác sĩ Thinh tự vận. Pháp đưa bác sĩ Lê Văn Hoạch lên thay thế nhưng không bao lâu, thấy ông nầy chẳng làm được trò trống gì, lại trao chức Thủ Tướng cho một người Việt có quốc tịch Pháp, được huấn luyện trong quân đội Pháp từ nhỏ, không nói rành tiếng Việt, là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân.

Xin chờ tôi lần lượt kể những chánh phủ bù nhìn liên tiếp của Nam Kỳ Quốc sau khi tường thuật chuyện tôi đi Chiến Khu trước đã: ”Mùa Thu rồi, ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến”. (Bài ca hành quân của du kích kháng chiến chống thực dân Pháp)

Tôi rời tu viện trở về làng lúc nhà thờ họ Tân Qui, cách nhà tôi ở tại Ngã Tư chừng trăm thước, vừa bị Việt Minh kéo tới đốt cháy tiêu. Lính Pháp chưa đủ quân số để chiếm đóng, thu nạp được mớ lính thân binh lập đồn canh gác rồi tái lập cơ quan hành chánh xã, thật sự kiểm soát được một phần đất nhỏ chung quanh đồn lính mà thôi. Ban ngày lính không dám đi xa hơn. Đêm đến, họ rút vô đồn cố thủ. Nhân viên hành chánh làm cho xã ấp mỗi chiều cũng ôm mền gối vô ngủ trong đồn, Việt Minh hoàn toàn làm chủ tình hình bên ngoài.

Ngày nầy qua tháng nọ, người dân quen dần với lối sống có hai chánh phủ, một ban ngày và một ban đêm nầy. Ban đêm, Việt Minh kéo về làng ra lịnh cho dân chúng vác cuốc xẻng ra đào đường đắp mô. Sáng ra, Pháp dắt lính pắc-ti-xăng (partisan = thân binh) vô xóm lùa bắt dân ra phá mô lấp đường cũng chính do họ vừa mới đào đấp hồi hôm. Người dân cúi đầu làm ngày làm đêm cho yên thân.

Nhiều gia đình có con đi Khu mà cũng có con đi lính thân binh hoặc làm viên chức cho làng xã. Do sự ngầm chấp nhận tình trạng xôi đậu như vậy mà có danh từ gọi hai phía, một bên là Nội một bên là Ngoại. Bên nào cũng bà con ruột thịt cả. Không sai.

Làng Nhị Bình của tôi, nơi có họ đạo Tân Qui, và làng An Thạnh kế cận cùng thuộc quận Hốc Môn, tỉnh Gia Định, nằm dọc theo bờ sông Cái (Saigon) đối diện bờ bên kia là Lái-Thiêu kéo dài đến Búng thuộc tỉnh Thủ Dầu Một, đều là vùng đất bồi phì nhiêu, trồng toàn cây ăn trái măng cụt, sầu riêng, mít tố nữ, bòn bon, dâu, chôm chôm nổi tiếng. Cả mấy làng nầy giống như một khu rừng rậm rạp lác đác nhà cửa.

Để tránh du kích quân phục kích hai bên đường, Tây ra lịnh dân chặt đốn hết cây ăn trái, dọn sạch hai bên đường sâu vô 15 thước. Nhà cửa cũng bị triệt hạ. Anh em tôi hè nhau làm chuyện “tiêu thổ kháng chiến”, chặt hạ những cây sầu riêng, măng cụt, vú sữa nuôi sống gia đình, ngay trước mặt cha mẹ đang rơi nước mắt tiếc công lao lực vun trồng bao năm qua.

Đất nước đang gặp hiểm họa bị mất thì nhà cửa vườn tược có phải nát tan cũng không lạ. Ba má tôi được ông bà để lại khoảng hai mẫu vườn, cất một ngôi nhà trên đó làm tổ ấm gia đình cho bảy anh em chúng tôi nương náu trong những ngày thơ ấu. Tôi mạnh dạn tiếp tay với các anh trong gia đình, giở ngói, hạ ngôi nhà năm căn ấy cất sát tại Ngã Tư. Ba tôi tuy nghề chánh là Y Tá Trưởng nhà thương Bà Chiểu song bỏ về vườn khi chưa tới 50 tuổi nên thấy ghi trong giấy Thuế Thân của ông và giấy khai sanh các con, nghề địa chủ (propriétaire). Tan nhà mất nước. Nhà không giữ được, con địa chủ vẫn mạnh mẽ nuôi mộng giữ nước. Tôi không còn nhà để bỏ, càng mạnh dạn đi Chiến Khu.

Tôi có nhắc tới nhà thờ Tân Qui bị Việt Minh thiêu hủy. Tưởng nên ghi lại sự tang tóc nầy của họ đạo Công Giáo và tiếp đến tang thương của gia đình tôi, để trình bày vài hình ảnh điển hình trong cảnh chiến tranh ở thôn quê miền Nam. Hai ngày kinh hoàng có điểm liên quan với nhau tuy xảy ra cách nhau vài năm.

Vào một chiều Thứ Bảy đầu tháng Ba năm 1946, ở vùng nhà thờ Tân Qui mới bị Tây chiếm đóng lập đồn, nói là để giữ an ninh cho họ đạo Công Giáo, lặng lẽ như thường ngày. Sào phơi đồ của mỗi nhà còn phất phơ áo quần chưa kịp lấy vô. Bổng tiếng súng nổ vang dội tứ phía, tiếp theo tiếng la hét rần rộ của đông đảo người nghe thật rùng rợn:” Tiến lên! Tiến lên! ”

Lính tráng bỏ đồn chạy trốn sạch. Đám du kích ôm những bó bao bố tẩm dầu hôi làm bổi, ào vô đốt nhà thờ đang lúc có bốn nữ đồng nhi hát còn tập dợt đờn ca cho lễ Chúa Nhựt ngày hôm sau. Cha sở Phao-lồ Mười cũng đang còn ngồi Tòa cho một bổn đạo cuối cùng. Quá bất ngờ, đám tín hữu chạy vọt ra khỏi nhà thờ, bị đạn chết ngay trước cửa. Chỉ có một đồng nhi hát tên Trọng chạy thoát. Còn cha Mười trốn ẩn trên trần nhà trong phòng Thánh.

Lửa bốc cháy đỏ rực trời chiều, đốt tiêu hết các hàng ghế, lan qua hàng cửa sổ dọc hai bên vách tường, rồi nóc nhà và trọn hết lầu chuông cao. Ở xa hàng cây số còn thấy ngọn lửa, tưởng như cả xóm bị thiêu rụi. Lính Tây đóng đồn cầu Xe Lửa cách đó chừng cây số, không dám tiếp cứu, chỉ bắn mọt-chê dồn dập, tiếng nổ to càng gây thêm sự khủng khiếp. Chiến tranh thật sự đã tràn lan qua làng tôi, một nơi cách Saigon chỉ hơn 10 cây số. Nhà thờ cháy gần suốt đêm.

Khoảng nửa đêm, có tiếng rên rỉ trước thềm nhà tôi. Trong nhà im lặng thin thít cho tới khi nghe tiếng kêu cứu yếu ớt được nhận ra là giọng của cha Mười. Ba tôi và em gái tôi là Lê Hồng Ánh làm bạo mò ra hé cửa thấy, qua ánh sáng lập lòe của hỏa hoạn, một thân thể nhầy nhụa, vội khiêng vô nhà khép kín cửa lại Ba tôi biết cha Mười bị phỏng cháy gần khắp mình mẩy. Mò mẫm trong tối vì đâu dám thắp đèn, ông lấy được cái hộp lớn đựng băng vải tẩm mỡ trị phỏng thường dùng để trị phỏng cho bà con trong làng xóm và trong nhà. Trọn hết thuốc trong hộp được dùng đắp lên nạn nhân.

Cha Mười đau đớn quá, rên la làm ba tôi hoảng hồn năn nỉ cha ráng làm thinh kẻo bị chết cả đám. Tiếng súng đã dứt mà ai cũng nghĩ Việt Minh còn làm chủ tình hình và vẫn còn chiếm đóng. Thêm nỗi, lúc quýnh quáng sợ sệt đó, má tôi và chị Tư tôi mắc tiểu té đái liên miên. Tiếng sè sè trong đêm khuya vắng lặng nghe rõ rệt còn hơn tiếng rên. Ba tôi cằn nhằn quá cỡ. Cha Mười khát nước đòi uống hoài. Em gái tôi thức suốt đêm, dùng ống đổ nước cho cha.

Tới sáng, quân Pháp đóng ở cầu Xe Lửa Lái Thiêu kéo lên, đến đâu bắn xối xả tới đó, nghe như mở màn một trận giặc mới. Lẫn lộn trong tiếng súng từ xa vọng lại, vang lên từng hồi tiếng la hét, lần nầy không phải là ”Tiến lên” nữa, mà là ” Attention! Viet Minh! ” (Coi chừng! Việt Minh!).

Quân Pháp sắp tới nơi mà cha Mười cần phải được cứu ngay, nếu không thì chết. Ba tôi và anh tôi giỏi tiếng Pháp song không ai dám ra đường, sợ bị coi là Việt Minh, mất mạng. Em gái tôi xin xung phong, được ba tôi dạy cho học tốc hành một câu báo động bằng tiếng Tây.

Lính Pháp tới Ngã Tư trước nhà, đứng khựng lại, đặt súng liên thanh quạt liên tu về phía nhà thờ còn cách đó không xa. Họ không dám tiến xa hơn nữa, nhưng không cần vì em tôi chạy ra, vừa chỉ vô nhà tôi vừa la lên ngon lành được câu:

– Notre père le prêtre est ici. (Cha sở của chúng tôi ở tại đây nè!)

Gia đình tôi cứu được cha sở Mười và vài năm sau, nếu trễ quá một ngày không được cha cứu lại, thì cả nhà tôi đã bị Pháp bắn chết hết.

Việt Minh đốt nhà thờ Tân Qui ngày 2 tháng 3 năm 1946, đúng ngày sanh nhựt thứ 17 của tôi. Bốn bổn đạo bị giết hoặc bị lạc đạn của súng Việt Minh chết, là ba phụ nữ tên Còn, Sang, Cậy, và anh Tám Ngợi, được chôn tại phía trước nhà thờ, nhiều năm sau được hốt cốt đem cải táng ở đất thánh Tân Đông.

Cha sở trốn trên trần nhà cho đến lúc ngộp khói và hơi nóng bốc lên mới nhảy xuống, càn qua lửa, lết ra khỏi nhà thờ thì ngất xỉu. Cha Mười nằm bất tỉnh trước hàng ba nhà tôi từ lúc nào không biết. Nhưng phải có người cõng cha đến bỏ ở đây. Sau đó hỏi thăm lại thì biết chắc chắn không có bổn đạo nào cứu cha Mười đêm đó. Có thường dân nào dám lảng vảng giữa cơn khói lửa kinh hoàng ?

Trong làng ai cũng biết ba tôi như thầy thuốc Tây, tục gọi là ông Thầy Tư, từng chữa trị cứu giúp nhiều người.

Tủ thuốc của ông chứa đủ thứ như một nhà thuốc Tây tí hon, có cả vải băng, ống chích và dao kéo giải phẫu nữa. Mới trước đó chưa bao lâu, nhà tôi đã là trạm cứu thương của Kháng Chiến nên du kích quân biết hơn ai địa điểm cứu cấp nầy.

Cách nào cũng là phép lạ hay chuyện lạ vì cha Mười được một du kích cõng đi cứu lúc cha gần hấp hối. Sau khi được đoàn lính Lê Dương Pháp tiếp cứu chở đi nhà thương Saint Paul, cha Mười phải nằm điều trị tại đó trọn cả năm mới bình phục trở về nhiệm sở cũ.

Hai năm sau ngày cha Mười thoát chết, tới phiên gia đình tôi được cha và một tay sai của Pháp cứu sống.

Một ngày đầu tháng 5 năm 1948, quân Pháp kéo đến bao vây nhà tôi lùng bắt anh Hai tôi. Anh tôi làm sẵn một chỗ lánh thân ngay tại nhà, trong một cái bồ lúa đóng bằng gỗ vuông vức, ở một góc bồ chừa một khoảng trống đủ một người núp, bên trong và bên ngoài có thể giở ván chui vô chun ra. Thời đó lính Tây hay xông vô nhà lùng bắt thanh niên đàn ông đi làm xâu, ai lanh chơn trốn được là thoát nên anh tôi đã tạo chỗ đó phòng thân. Anh tôi chui vào trốn thoát kịp, họ bắt trói ba tôi. Đau lòng thấy cha mắc nạn, anh tôi chun ra đầu thú. Họ bắt cả nhà tôi đem đi.

Thông thường nạn nhân như vầy bị dắt thẳng ra cầu Xe Lửa bắn, đạp thây xuống sông Cái. Anh thông ngôn cho lính Tây nói với người xếp có bắn cũng phải chờ báo cho cha sở vì đây là những người công giáo trong họ đạo. Hôm nay cha sở vắng mặt. Đồn không có chỗ nhốt tội nhân, lính Tây phải dọn dẹp phòng chứa đạn dược để tạm giam cha mẹ và anh em của tôi vô đó. Đến xế chiều, người thanh niên thông ngôn mò đến chỗ giam, hỏi anh Hai tôi:

– Thầy có muốn nhắn gởi với ai có thể cứu giúp gì cho thầy được không?

Anh tôi nhờ anh ta ra quán bên đầu cầu Bà Hồng kế bót, nhờ người chủ đi báo gọi cha Mười về. Anh thông ngôn qua gặp ngay chủ quán là cô Bảy, má của cha Phê-rô Thông, sau tản cư xuống Bà Chiểu lập trại hòm Vạn Thọ, khẩn cấp gọi cha Mười đang cấm phòng ở Saigon về nội trong ngày mai. Anh thông ngôn, tên Phương, nói anh Hai tôi không biết anh ta chớ anh ta là cựu học sinh trường Petrus Ký thỉnh thoảng lên văn phòng xin giấy tờ nhờ anh Hai tôi là Lê Hồng Chung làm bí thư trường đó giúp đỡ.

Nghe tin, cha Mười bỏ cấm phòng, tất tả trở về xin bảo lãnh gia đình tôi. Trưởng đồn là Đại úy Grabrieloni cũng không tha. Cha Mười phải cởi áo dòng ra, trưng bày thân thể đầy vết thẹo phỏng, nói gia đình tôi đã cứu cha sống trong vụ cháy nhà thờ, viên sĩ quan lính Lê Dương đó người Ý cũng đạo Công Giáo, mới chịu tha chết, thả ba má và em gái tôi. Anh Hai tôi bị giải đi giam tại quận Hốc Môn. Gia đình tôi phải tốn mười ngàn đồng nhờ cha Mười đi hối lộ, anh Hai tôi được thả ra ngày lễ Chánh Chung (14 Juillet, Pháp ăn mừng ngày Cách Mạng 1789).

Gia đình tôi không có dịp tạ ơn người thanh niên đã cứu sống cả nhà, là anh Phương, cựu sinh viên trường Petrus Ký, làm thông ngôn cho Pháp vì anh đã tử thương tại đồn trong một lần bị Việt Minh tấn công. Từ sau khi thấy được hành động nhân đạo của một tay sai của Pháp như anh Phương, tôi không còn ngó những người hợp tác với Thực Dân bằng con mắt thù hằn và khinh bỉ nữa. Trái lại, tôi cố luôn luôn nghĩ tốt về họ, cho rằng họ vì hoàn cảnh nào đó mới hợp tác với kẻ thù của dân tộc, mình không nên vội phê phán. Biết đâu, chờ có cơ hội, họ cũng sẽ có hành động ái quốc hay nhân đạo như anh thông ngôn Phương.

nhathotanqui

Nhà thờ Tân Qui đã được xây dựng lại, mặt tiền vẫn kiểu như cũ

Chương 10

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.