NHÀ TÙ: Phần III: Đau Thương Chín Rấm (Duyên Anh)

-26-

Nhà tù của tôi
rất nhiều tiếng gọi không thể vọng ra bên ngoài
Những tiếng gọi bỡn đùa sự hoang vắng
những tiếng gọi chọc cười niềm trắc ẩn
mà tôi nghe ròng rã nghìn đêm
mà tôi nghe tưởng đã khùng điên
bởi mỗi lần một tù nhân vĩnh biệt
Báo cáo cán bộ: Cachot có người chết

Thế giới vẫn phóng lên sáng rực tín hiệu nhân quyền
Và nhà tù của tôi vẫn bóng tối triền miên
ở biệt giam hàng chục kiểu còng ngồi còng đứng
còng chéo hai tay còng chung một cụm
còng rướn ngón chân còng dộng ngược đầu
còng khoan dung một lối chết thật lâu
để thấm thía lòng yêu tự do dân chủ
Báo cáo cán bộ: Cachot có người tự tử

Nhân loại thường cảm thông nỗi khổ rất mùa màng
và phải rất thời trang
nên cụ thể dễ biến thành trừu tượng
Nỗi khổ khác hẳn niềm sung sướng
nó cần quên ngay
nó không được phép rên xiết dài dài
Một đêm mưa lạnh
tôi nghe tiếng trẻ thơ kêu kinh hoàng trong hiu quạnh
Bố ơi bố ơi Mẹ chết rồi

Anh khó hiểu nổi nhà tù của tôi
Người cha bị lưu đầy ra hải đảo
Người mẹ mang bầu dắt con theo cải tạo

Bài thơ nhan đề Tiếng gọi không thể vọng ra ngoài tôi làm ở khu AH Chí Hòa. Bài này và 15 bài khác không có trong tập Thơ Tù 1 nhưng tôi đã cho dịch sang Pháp văn trọn vẹn 30 bài thơ tù của tôi, 30 bài thơ tôi đã đọc ỏ Centre Pompidou, Paris; Theatre Action, Grenoble; Salle des fêtes, Paris 7è. 2

Đề lao Gia Định và Chí Hòa gây cho tôi nhiều cảm hứng thơ. Phải đợi qua AH, “đời sống” thoải mái, tôi mới sáng tác. Ở bài Chút tâm sự của người làm thơ trong tù, trên đầu tập Thơ Tù, tôi đã viết rõ, tưởng chẳng cần diễn tả thêm. AH mỗi ngày mỗi vơi bạn tù tốt nên phải dùng thơ lấp vào. Ông Tư Nhì đã được tha. Anh Võ Xuân Đình, anh Mai Đức Khôi đã đi lao cải. Ở nhà tù, mỗi lần chia tay kể như mồi lần vĩnh quyết. Tôi nghĩ nên ghi cái cảm xúc ấv vào thơ. Ít ra, nó cũng bớt ẩn ức vô tích sự. Thế thì, tôi đã làm khá nhiều thơ, ở Chí Hòa. Khác với Đoàn Kế Tường, buồn quả hóa khùng, khùng quá cứ nhè ông Phạm Quang Khai mà sình sự. Mấy ông tư sản mại bản Việt Nam có thú vui khó ngửi. Là thường xuyên khoe khoang sự phú qúy đã trở thành “vang bóng một thời.” Lại khoe oang oang:

– Thằng út nhà tôi sang năm tốt nghiệp kỹ sư điện tử. Con cháu gái lớn, tiến sĩ kinh tế rồi.

– Các cháu tôi cũng tiến sĩ, kỹ sư hết.

Đoàn Kế Tường xía vào:

– Chưa hay đâu. Con cu ly bến tầu, con điếm, con ma-cô tốt nghiệp tiến sĩ, kỹ sư mới bảnh. Còn con cái bọn làm giầu bằng chiến tranh, muốn bảnh và xứng đáng khoe khoang phải đậu bằng cấp ma-cô, đĩ điếm, trộm cắp!

Các nhà tư sản mại bản nín thinh. Vì đúng quá. Lần khác, một nhà tư sản mại bản cao hứng kể thành tích đóng góp cho công cuộc chống cộng:

– Tôi đã tặng thương phế binh 200 xe lăn, mỗi Tết đều lì xì cảnh sát quốc gia vàì triệu.

Đoàn Kế Tường nổi giận:

– Ông hút máu họ 2 lít, ông chích cho họ một ống sérum. Mà ông xuất tiền túi bao giờ? Ổng bị phạt thuế, xin xỏ tiền phạt mua xe lăn tặng lính què. Của sở thuế, phúc ông. Ông lưu manh số một.

Nhà tư sản mại bản lại nín thính. Cứ vậy, tối ngày, Chí Hòa công kích lẫn nhau khiến hồn thơ của tôi bay lên cachot. Tôi bắt đầu thèm động. Cái động lao cải ở trại tập trung. Con người bị giam hãm một nơi chật chội quá lâu đâm ra bẩn tính, hẹp hòi, cố chấp. Riết rồi, chỉ thấy ở nhau những điều xấu xa mà quên ở nhau những điều tốt đẹp. Và rồi, khi thoát đời tù vẫn quên những điều tốt đẹp mà chỉ nhớ những điều xấu xa nẩy sinh ở nơi tù túng, nơi con người bị xếp dưới hàng con vật. Tôi nghĩ, sống mãi với cái tĩnh, cái tĩnh ao tù của Sở Công An, của đề lao Gia Định, của Chí Hòa, da đã mỏng, thịt đã bủng mà hồn càng mỏng, càng bủng. Như bốn ngày bị Tư Long cúp nước, mọi người gần gũi nhau, thông cảm nhau. Như những ngày thoải mái AH, mọi người xa rời nhau, khó chịu nhau cả túi thăm nuôi lớn và túi thăm nuôi bé. Buồn, nản nhát là chỉ tù nhân Việt Nam gấu ó tù nhân Việt Nam. Tù nhân Ba Tầu không gấu ó nhau, không quan tâm đến sinh hoạt của tù nhân Việt Nam. Tôi thèm cái động của lao cải. Để xem, ngoài trời, con người tù có cao cả hơn, đại lượng hơn.

Phòng của chúng tôi lại thu nhận những người bệnh kiết lỵ bị cách ly trả về. Vi trùng Amibe khinh thường “thuốc dân tộc” của chế độ cộng sản. Bệnh kiết lỵ khó tiêu diệt ở nhà tù. Tôi thấy một điều thật mâu thuẫn. Những người mắc bệnh tiêu chẩy “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên kiết lỵ đều thuộc… giai cấp “con bà phước,” giai cấp vô sản chính thống trong nhà tù. Giai cấp tư sản ăn thịt bò bíp-tếch “ướp muối” cả tuần, ăn gà rô-ti thiu “ướp muối” cả tháng, đâu có bị tiêu chẩy, kiết lỵ. Tôi đã ăn, ròng rã mấy năm, thịt kho ướp tầu vị ỵểu trong keo nhựa đến nỗi thịt chua lè. Mà vẫn không hề bị tiêu chẩy, kiết lỵ. Nhưng “con bà phước” ăn cơm, ăn bột luộc, ăn bo bo với canh bí nấu muối thì bị Tào Tháo đuổi tơi bời. Mâu thuẫn này nặng nề ngoài đời. Kẻ nghèo suốt đời kiết, dẫu cách mạng vô sản là cách mạng của người nghèo. Công an khu vực chơi với vô sản chính thống thì đói, chơi với tư sản thì no, lại còn được tặng quần bò 3 của con cháu tư sản phản động theo Mỹ gửi về. Những kẻ chống cộng sản đã không chịu khai thác kỹ lưỡng cái mâu thuẫn này.

Để tôi đếm những bạn tù đề lao Gia Định của tôi xem còn ai: Hoàng Mạnh Hùng, Đặng Hải Sơn, Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng, Phạm Quang Khai. Tư tưởng chiến đấu mới của tuổi trẻ rải rác trong tiểu thuyết của tôi bắt nguồn từ những buổi thầm thì đàm thoại với Hoàng Mạnh Hùng ở nhà tù. Anh ta quy định rõ rệt Hà Nội là phỉ quyền, Saigon là ngụy quyền. Từ sau chính biến tháng 3 năm 1945, Việt Nam chưa có chính quyền. Người Việt Nam chân chính phải chiến đấu để tạo dựng một chính quyền thì mới giương danh chính nghĩa quốc gia. Anh ta chống đổ máu, chống tàn sát thêm ở Việt Nam. Tàn sát 500 tên lãnh tụ lớn, nhỏ của cộng sản Việt Nam. Là đủ. Hạnh phúc phải được ban phát cùng khắp. Tốt nghiệp tiến sĩ bên Mỹ, về nước anh ta khước từ chức vụ Thứ trưởng Văn hóa Giáo dục, dạy ở Bách Khoa Thủ Đức. Vợ con đi Mỹ trước cả 1975, anh ta ở lại chiến đấu. Tồi đồng ý với anh ta nhiều điểm. Đặng Hải Sơn, nghị viên đơn vị Tùng Nghĩa, không tái tranh cử vì không thích làm bù nhìn nữa. Anh ta tâm sự một câu đáng suy nghĩ: “Phải ra Cam Ranh, nhìn thông non Đà Lạt mà Trần Thiện Khiêm và bè lũ bán cho Nhật, nó chặt ngọn, chặt gốc vất lại, chỉ lấy một khúc giữa thôi, khi ấy không yêu nước sẽ thấy yêu nước.” Đặng Hải Sơn về Saigon làm báo, chủ trương cơ sở xuất bản Hải Âu với Trần Dạ Từ. Anh ta cùng quan điểm với Hoàng Mạnh Hùng. Tôi rất qúy mến Đặng Hải Sơn. Anh ta trầm tính, sâu sắc.4 Đoàn Kế Tường và Dương Đức Dũng kể và vẽ sơ đồ cachots đề lao Gia Định, Chí Hòa thật chi tiết cho tôi nghe. Nhờ đó, tôi mô tả cachot FG không sai mấy.

Bạn tù tôi đã sống với họ, đã vui buồn cùng họ từ Gia Định rồi lại sống với họ, vui buồn cùng họ bên Chí Hòa còn có năm người. Chẳng biết hôm nào chúng tôi vĩnh biệt nhau.

o O o

Giữa tháng 11 năm 1978, cai ngục Thuận đem đến một danh sách. Hắn ta đứng ngoài hành lang đọc lớn:

– Nguyễn Mạnh Côn.

– Có.

– Đặng Hải Sơn.

– Có.

– Nguyễn Thái Hà.

– Có.

– Vũ Mộng Long.

– Có.

– Chuẩn bị đồ cá nhân.

Cả phòng xôn xao. Khai Trí, Phạm Quang Khai, Nguyễn Công Kha thở phào. Vì thoát lao cải. Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng buồn hiu. Vì danh sách thiếu tên mình. Cửa phòng mở. Đằng Giao hớt hãi vào:

– Tôi cũng đi.

– Không đọc tên ông mà.

– Thằng Thuận bảo tôi về chuẩn bị hành lý.

Thu xếp hành lý thật nhanh. Chúng tôi còn thì giờ tạm biệt nhau, ông Khai bắt tay tôi:

– Ông đi may mắn.

– Cám ơn ông.

Đoàn Kế Tường ôm lấy tôi, khóc như con nít. Tôi nhớ lời hai của Đoàn Kế Tường ở Trả lại em yêu của Phạm Duy, bèn rống lên lấy khí thế cơ hồ Kinh Kha qua Dịch Thủy:

… Anh sẽ ra đi về tận miền Bắc
Anh sẽ ra đi
Chẳng mong ngày về
Trả lại em yêu
Chí Hòa chật chội
Kỷ luật Tư Long
Ngón đòn cu Phách
Buổi chiều thăm nuôi
Ngóng hoài em tới
Nuốt nhanh miếng thịt
Nuối tim con mình…

Cai ngục Thuận đã trở lại. Chúng tôi rời phòng. Giã từ AH. Giã từ phòng giam đã giúp mình thoát chết bệnh đau màng óc. Tôi đeo bị, xách giỏ, bước xuống dưới, ngồi xếp hàng cạnh phòng của các tù nữ. Ở đâv, đã có một nhóm tù ngồi đợi lệnh. Sau khi gom đủ số tù nhân các khu ghi trong danh sách, cai ngục Thuận dẫn chúng tôi sang khu BC.

Cai ngục khu BC tiếp nhận chúng tôi, điểm sổ, điểm danh, ký tên vào danh sách rồi đưa chúng tôi lên lầu 3.

Tôi biết thêm BC. Chí Hòa bát giác hay Chí Hòa bát quái có bốn khu, tôi đã đặt chân lên ba khu. BC chỉ là chỗ dừng chân, lâu nhất chứng hai tuần lễ. Từ đây, tôi sẽ bị tống đến một chân trời lao cải nào đó. Ở phòng mới BC toàn tù nhân lạ và chung một tội: Phản động. Chung một tội không phải là chung một tâm sự. Trong lịch sử chống cộng sản ở Việt Nam, chưa giai đoạn nào “phồn thịnh” như giai đoạn này. Đủ tầng lớp quần chúng chống cộng sau 30-4-1975. Trí thức có. Bình dân có. Nông dân có. Công nhân có. Nghèo có. Giàu có. Ông già có. Niên thiếu có. Phụ nữ có. Sinh viên có. Học sinh có. Thậm chí, lơ xe đò, phu nhà đòn cũng nức lòng tham gia các tổ chức chống cộng sản. Tù nhân chính trị hiện hành đông hơn tù nhân sĩ quan và viên chức chế độ cũ trình diện học tập cải tạo. Chẳng ai biết, chẳng ai đếm xìa đến cái khối tù nhân chính trị vô danh này. Thế giới thường băn khoăn cho số phận mấy ông công chức cao cấp phủ Tổng thống. Và muốn cứu các tù nhân… tư tưởng nàv! Để giải trí cho đỡ buồn thì can thiệp với Nhà Nước cộng sản thả ông sư vượt biên, ông cố đạo vượt biên, ông nghị sĩ hay ông bộ trưởng đều phúc đức cả. Những kẻ chiến đấu đích thực không cần ai can thiệp xin tha. Chiến đấu là chấp nhận thiệt thòi. Anh lơ xe đò, anh phu nhà đòn, chắc chắn, không bao giờ thèm quan tâm cái tước vị Chủ tịch hay Tổng thống. Nhưng vào tù, các anh khổ hơn những ông chiến đấu với âm mưu Chủ tịch, Tổng thống. Hiển nhiên, các anh ấy sẽ bị liệt vào giai cấp “con bà phước.” Chung một tội mà không chung một tâm sự là vậy.

Ổn định chỗ nằm xong, Đằng Giao hỏi tôi:

– Mình sẽ đi đâu, ông thầy?

Tôi lắc đầu:

– Chịu.

– Tôi thèm đi xa.

– Tận nơi nào?

– Sơn La, Lào Kay..

– Nếu chúng ta là sĩ quan, là viên chức cao cấp. là nghị sĩ, là dân biểu. Bọn mình là nhà văn, nhà báo độc lập, thiếu “hân hạnh” thăm Lăng Bác. Chỗ xa nhất, theo tôi, mình có thể đến là Gia Lai, Kontum.

– Trại Gia Trung.

– Có cả chục trại ở Gia Lai, Kontum. Được nhập trại Gia Trung, mình sẽ gặp các ông Doãn Quốc Sĩ, Mặc Thu, Thái Thủy, Thanh Thương Hoàng, Trịnh Viết Thành, Chóe, Tô Ngọc…

– Tôi muốn mình đến một nơi nó cấm mình thư từ về và nhận thư từ đến. Kéo dài thêm sự vô vọng của vợ con, tôi nản quá.

– Bạn ơi, tôi cũng muốn vợ con tôi coi như tôi đã chết.

Không có tù nhân nào bất hạnh hơn tù nhân không được xét xử, không có án phạt. Chúng tôi mòn mỏi. Vợ con chúng tôi mòn mỏi. Tôi cảm tưởng tôi tù trong, vợ con tôi tù ngoài. Sự trừng phạt của hận thù khiếp đảm quá. Tôi đã viết bài thơ tặng nó.

Gửi cho anh đôi mắt
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết nhìn sự trơ trẽn ngục tù
và nó thấy nó bọ hung lầm lũi

Gửi cho anh cái mũi
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết ngửi mùi tanh tưởi cachot
và nó thấy nó côn trùng câm nín

Gửi cho anh cái miệng
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết ăn thực phẩm trâu bò
và nó thấy nó nghìn năm rác rưởi

Gửi cho anh cái lưỡi
để anh ráp vô họng hận thù
Nó sẽ biết tập tành nói chuyện thương yêu, lãng mạn, mộng mơ
và nó thấy nó xụt xùi muốn khóc

Gửi cho anh bộ óc
Gửi cho anh trái tim
Gửi cho anh ái tình
Gửi cho anh cuộc đời dạt dào cảm xúc
Gửi cho anh con người hào hoa đích thực
Gửi cho anh
gửi tặng hận thù

(Thư Tù, trong tuyển tập Poèmes de prison).

Gửi tặng thù hận hay gửi tặng những kẻ nuôi dưỡng thù hận dân tộc, thù hận con người?

– Tôi xuống tinh thần rồi, ông thầy ạ!

– Xuống tinh thần nguy hiểm lắm.

– Chết là cùng.

– Chết dai dẳng, chết không đúng ý mình muốn. Mà chết vô ích. Ngu sao chết, sống để nhìn chứ. Bạn ơi, coi như mình chết thì được, chết thật thì không nên. Niềm bí ẩn của đời sống thường đến thật chậm. Bạn biết chúng ta sống bao nhiêu ngày trong tù chưa?

Đằng Giao tính nhẩm:

– 31 tháng, tức là 930 ngày.

Tôi nói:

– Cổ nhân phán: Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Ta cứ coi rằng một ngày tù của cổ nhân bằng một ngàn ngày tù cộng sản của ta, thì 930 X 1 000, ta đã nằm tù 930,000 năm rồi bạn ạ! Ta nhập cõi từ khuya, lo chi chuyện sống chết.

Đằng Giao cười méo xệch:

– Ông thầy an ủi tôi hay an ủi ông thầy?

Tôi chớp mắt:

– Ta an ủi nhau, Đằng Giao ạ!

Quả thật, chúng tôi đã trải qua 930,000 năm ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định, ở Chí Hòa. Có gã tù nhân nào đó đã ngạo nghễ nói: “Mười năm tù như một giấc ngủ trưa.” 930,000 năm chỉ là 93,000 giấc ngủ trưa. Thu nó lại, 930 ngày mới bằng một góc giấc ngủ trưa. Có chi phải ồn ào cái nỗi tù đầy của mình nhỉ?

Chúng tôi ở BC đã đuợc một tuần, sinh hoạt như AH. Đằng Giao bị chỉ định làm Trưởng phòng. Mỗi sáng nhìn sang AH, tôi thấy quần áo phất lia. Bèn hiểu là Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng hỏi thăm mình. Ở BC, nhìn xuống hồ tắm, tôi thấy rõ bộ trưởng Ngô Khắc Tĩnh hơn. ông vốn thấp, mặc quần xà lỏn, áo thung, ông càng thấp, ông Thợ Lặn 5 hết ngụp lăn trong danh vọng quyền bính mà lặn ngụp trong ngục tù. Ngắm ông xách hai thùng nước bỗng tội nghiệp ông vô cùng.

Đến ngày thứ 10, một cán bộ hồ sơ đến phòng, mở rộng cửa “làm việc” với chúng tôi. Chiếc bàn gỗ kê sát cửa. Anh ta gọi tên từng tù nhân và yêu cầu tù nhân bước gần bàn, đứng nghiêm, đọc sơ yếu lỷ lịch của mình để anh ta xem hồ sơ ghi đúng hay sai. Mỗi tù nhân riêng một hồ sơ đựng trong một tấm bìa. Đằng Giao, Nguyễn Mạnh Côn “can tội văn nghệ sĩ phản động,” cán bộ hồ sơ xác nhận đúng. Anh ta nói thêm:

– Các anh đi lao động cải tạo đúng 3 năm thì về. Còn vài tháng nữa thôi, án phạt tính từ ngày các anh bị bắt.

Đến lượt tôi khai “can tội nhà vàn phản động” cán bộ hồ sơ lắc đầu:

– Anh nghề nghiệp “nhà văn phản động”, can tội đảng vièn Duy Dân trốn trình diện học tập, trong tổ chức chống phá cách mạng hiện hành. Nhưng anh cũng đúng 3 năm là được tha.

Tôi bàng hoàng giây lát. Rồi tôi xét lại Hai Nghiêm và lão cán bộ của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trung ương.6 Cộng sản không bao giờ nói thật. Cộng sản chơi trò giả đạo đức rất tài. Tôi quên mất lời khuyên của người công an chấp pháp miền Nam đã “làm việc” với tôi lần đàu tiên ở Sở Công An: “Trong tù, tuyệt đối không tin ai.” Nhưng mà tội gì thì tội, không được xét xử, không có án phạt thì ngày về xa lơ xa lắc. Tôi không tin lời anh cán bộ hồ sơ nữa. Đằng Giao càng không tin. Tù nhân tự hào là mình từng đi guốc vào bụng cộng sản, mình đã nằm tù cộng sản năm 1948 là Nguyễn Mạnh Côn, thì tin tưởng ra mặt.

Trật tự đem cơm trưa hôm ấy là con trai của nhà thơ phúng biếm nổi tiếng một thời, can tội trộm cắp. Cậu ta cho chúng tôi biết chúng tôi sẽ rời Chí Hòa sáng sớm ngày mai.

– Đi đâu?

– Cháu không biết.

– Gần hay xa.

– Còn tùy,

– Tùy gì?

– Tùy thực phẩm ăn đường. Nhà bếp đang lo luộc bột. Hễ các chú được phát ít thì đi gần, phát nhiều thì đi xa.

Cậu con trai của nhà thơ nói đúng. Sáng sớm hôm sau, trước giờ kẽng báo thức, chúng tôi được lệnh rời phòng. Vệ binh võ trang giải chúng tôi xuống sân vòng ngoài. Tôi không còn thấy bên trong Chí Hòa. Vĩnh biệt nó, vĩnh biệt FG, AH, BC. Chúng tôi bị chia thành bốn nhóm, đứng xếp hàng đôi. Kẽng báo thức điểm một lúc thì bốn chiếc xe vận tải chuyên chở súc vật chầm chậm chạy vào. Rồi xe quay đầu lại. Nhóm chúng tôi đầu danh sách nên được “chiếu cố” trước. Cán bộ hồ sơ, hôm nay, mặc đồng phục công an nhân dân, đeo súng ngắn. Vệ binh rất đông, kè kè AK nạp đạn.

– Nguyễn Mạnh Côn.

– Có.

– Lên xe!

Người ta phát cho mỗi tù nhân một cục bột luộc khá lớn. Đi gần thôi, tôi nghĩ thế. Tù nhân ném hành lý lên sàn xe rồi leo sau. Không có thang. Mỗi chiếc xe tải nhồí nhét 50 thằng tù. Chở heo, tối đa, 30 con. Đằng Giao và tôi lên xe sau cùng. Trần xe và thành xe đan lưới sắt lợp vải bố. Cửa sau là song sắt lớn, hàn xì vững chắc. Tù nhân lên xe xong, cửa khóa chặt và vải bố buông kín. Tuy nhiên, vẫn có thể he hé vải bố nhìn ra. Tôi thấv, trên nóc ca-bin xe sau tôi, một vệ binh ôm súng ngồi. Trong ca-bin, một vệ binh khác. Ngoài ra, còn một chiếc jeep gắn đại liên. Đảng và Nhà Nước cộng sản võ trang hùng hậu dẫn độ đám tù ốm đi học tập cải tạo.

– Ông thầy đoán thử, nó đưa mình về nghĩa địa nào? Đằng Giao hỏi.

– Lát nữa sẽ biết. Tôi nói.

– Thử cho đở buồn.

– Nếu xe ra đường Lê Văn Duyệt, rẽ trái là mình đi Kà Tum, Trảng Lớn.

– Rẽ phải?

– Lại đợi đến bùng binh đường tầu. Rẽ phải, ta về miền Tây, ta vô trại Vườn Đào ở Cai Lậy hay xuống Năm Căn, Cái Đước… Đi thẳng rồi rẽ trái, ta xuôi chiều Phan Thanh Giản ra xa lộ Biên Hòa. Hễ qua cầu Đòng Nai, ta ra miền Trung. Mà một cục bột, tôi cho rằng, mình ghé Rừng Lá thôi.

– Có thể Long Thành, Suối Máu chăng?

– Với cộng sản, cái gì cũng có thể.

Xe đã chuyển bánh lạo xạo trên lớp đá răm. Lát sau, nó qua cổng khám lớn Chí Hòa mà cách mạng vô sản gọi là Trại cải Tạo Trường Kỳ. Bây giờ mới thực sự giã biệt Chí Hòa, nơi chốn mà nô lệ hay độc lập, cách mạng nhân vị hay cách mạng vô sản, chỉ thấy người Việt Nam bắt nhốt người Việt Nam, chỉ thấy người Việt Nam đọa đày người Việt Nam. Xe đang chạy từ từ. Đường Hòa Hưng đây. Tôi hé tấm bố, cố tìm một cách vô vọng xem có thấy vợ con mình ngơ ngác đứng trên hè phố đợi chuyến xe tù ngang qua. Cảnh tượng đìu hiu vô cùng. Tấm bảng quán Ly Tao của danh ca Ngọc Long đã hạ. “Kẻ đi, người lại dáng lao xao.” Đằng Giao và tôi căng mắt nhìn Saigon. Xe rẽ bên phải. Chúng tôi thoát Kà Tum, Trảng Lớn. Xe qua bùng binh đường tầu, chạy thẳng luôn. Chúng tôi hết về miền Tây. Xe rẽ xuôi chiều Phan Thanh Giản. Tôi phải nhường chỗ cho anh em khác. Cũng chẳng thích ngắm thêm nỗi ưu phiền giăng mắc kín thành phố thân yêu cũ.

Tôi đã vỡ lòng cay đắng ở sở Công An. Tôi đã nhập môn thống khổ ở đề lao Gia Định. Đau thương của tôi, tôi rấm ở Chí Hòa, kể như đã chín. Đã chín những hệ lụy trong cái tĩnh của nhà tù. Còn những hệ lụy nào nữa, sắp phơi ra cái động của trại tập trung. Tôi sẽ mang về cái gì hay chẳng bao giờ mang về cái gì. Tôi sẽ tồn tại hay tôi sẽ bị hủy diệt. Điều đó không quan trọng, không cần thiết. Sự quan trọng là biết sống và dám uống tới giọt đắng cuối cùng của cuộc sống. Tôi sẽ cố gắng sống với hy vọng được thưởng thức giọt đắng cuối cùng của cuộc sống. Để khôn lớn và để không thẹn làm người.

1- Thơ Tù, Nam Á, Paris 1984.

2- Poèmes de prison. Les Editions de Caux, Thụy Sĩ, sắp xuất bản

3- Việt Cộng gọi quần Jean là quần bò

4- Đặng Hải Sơn vượt ngục Sa-Ác TH-6 năm 1980, thành công, vẫn sống “lưu vong” tại Saigon.

5- Bút hiệu viết báo của Ngô Khắc Tĩnh, ông đã khoe như vậy.

6- Amnesty International và International Pen, trong những thư gửi cho nhà cầm quyền Việt Nam can thiệp trả tự do cho tôi, đều được trả lời: Duyên Anh không phải là nhà văn. Và họ đã khước từ phái đoàn AI xin gặp tôi tháng 8-1978. Nhưng trong Giấy Ra Trại, họ vẫn ghi tôi can tội “nhà văn phản động”.

duyenanh_sign2
Ivry sur Seine
Tháng 5-1987

phamkimvinh_mattran

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký. Bookmark the permalink.

4 Responses to NHÀ TÙ: Phần III: Đau Thương Chín Rấm (Duyên Anh)

  1. NguySaigon says:

    Trích. “…Ngụy tui xin nói chút xíu về ăng ten. Đây là chiến lược của phỉ quyền. Nói nào ngay, phỉ quyền la lối om xòm tự cao, tự đại nhưng dù đã chiếm được Saigon rồi. Thống lỉnh cả miền Nam rồi. Ngụy quân Ngụy quyền tan hàng cố gắng rồi. Dzậy mà đảng ta cũng cứ sợ. Ngày xưa trên trận địa không những cán binh “sinh Bắc tử Nam ” mới run mới sợ khi đối diện với “Ngụy quân” phải cần thuốc kích thích rồi cần thêm mấy sợi lòi tói (nói theo miền Bắc là xiềng xích) có khóa hẵn hoi để xiềng cán binh vào xe tăng vào súng cộng đồng để khỏi phải chạy trước sự xung phong vô cùng quả cảm vô cùng hào hùng của “Ngụy Quân” mà mấy tướng lảnh vườn và bộ chính trị của đảng phỉ cũng vô cùng quíu khi đụng trận với đám lính lê dương đánh thuê và không có chính nghĩa. Mẹ !!! lính đánh thuê không chính nghĩa dzậy mà chúng nó vô cùng hào hoa, vô cùng dũng cảm dzậy ta?. Còn lính “cụ hồ ” có chính nghĩa vì đồng bào mà giãi phóng miền Nam sao mà như con gà tử mị Phải nhậu, phải uống thuốc kích thích, phải xiềng nếu không là dzọt, là ba mươi sáu kế dĩ đào di thượng dù chính trị viên hay chính ủy có động viên cở nào cũng chẩu. Sau khi cây cải theo gió về Mỹ bỏ lại rau răm chịu lời đắng cay thì mới thấy rõ đảng phỉ chỉ là một đám chicken out. Đồ gà chết. Tan hàng rã ngủ dzậy mà chúng nó sợ mới kỳ. Dụ dổ lùa hết vô rừng thiêng nước độc bỏ đói cho chết dần chết mòn. Cả những anh hùng đã vị quốc vong thân chúng nó cũng còn sợ phải đào mồ bóc mả. Rồi bây giờ cũng quíu quá mà phao tin những anh hùng ngụy quân làm ăng ten mới chán cho đảng phỉ. Trong trại tù chừng 1000 tù nhân thì có chừng một hai anh làm ăng ten tức là nói theo kiểu đảng ta là 1 tới 2 phần ngàn. Một con số không đáng kể. Giống như một bãi nước miếng (nước bọt) trong một đại dương dzậy đó. Ai chịu làm ăng ten?. Đó là những người thật đáng thương. Đáng thương vì họ thiếu cái hùng khí của một kẻ sĩ hay một chiến sĩ dù rằng có thời họ cũng đã là chiến sĩ. Thiếu hào khí đôi khi vì gia đình vợ con. Vì một tình nghĩa với vợ, nhớ một nụ cười của con, và thiếu chính chắn để nhận biết được sự lọc lừa của đảng phỉ. Đảng phỉ tận dụng yếu tố gia đình vợ con mà uýnh cho NGỤY phải quỵ. Đó là một thái độ của kẻ tiểu nhân bần tiện. Mồm thì nói chính nghĩa. Lấy chí nhân mà thay cường bạo mà đảng ta chơi bẩn. Cũng được đi. Ngày xưa giữa trận tiền đối mặt, vũ khí trên tay thằng nào bắn chậm thằng đó chết. Thằng nào ngu thằng đó cũng chết. Bây giờ trận chiến bằng tư tưởng bằng hào khí bằng tư cách. Đói , nhớ vợ , nhớ con cũng dễ làm ngã lòng chiến sĩ. Nhưng không, tuyệt đại đa số vẫn hiên ngang đứng thẳng ngước mặt nhìn đời. Vũ lực , lòng nhỏ nhen, trí ty tiện không thắng nổi những anh hùng đang sa cơ thất thế. Đảng lại thua một lần nửa. “Bao anh hùng phút chốc bổng Mỹ Qua” Đảng phỉ phải nhượng bộ mà tiển đưa những anh hùng sang Mỹ. Đảng phải đối diện với nguy cơ khác nên bèn vận dụng tư tưởng hồ chí minh mà phát động chiến dịch ăng ten. Hết Duyên An , Phan Nhật Nam rồi tới Văn Quang, Hoàng Hải Thủy…. Những ai còn có thể gây nguy hại cho đảng phỉ là vô ăng ten club. Chán đảng quá trời quá đất. Đảng cứ tưởng mình đảng là đỉnh cao trí tuệ còn tất cả đều là những con bò tót ngu si hưởng thái bình. Tếu không chịu được. Chắc chắn rồi đảng ta sẽ “phát tán ” tài liệu chứng minh hai triệu núm ruột lòng thòng là ăng ten tất. Những tay luận về ăng ten chả biết mẹ gì ăng ten cả. Sau khi qua một mốc thời gian 3 năm mà ” ngày về xa tít mù khơi ” thì còn ăng ten cái nổi gì nửa. Bởi đảng đã lộ mặt bịp bợm và đã tọng cho cái đám ăng ten một cái bánh vẻ quá to tướng. Rồi thêm một mốc ba năm nửa mà còn có thằng làm ăng ten thì thằng đó phải bị coi như chạm giây thần kinh. Cá nhân Ngụy tui rất là tội nghiệp cho những cần ăng ten. Ăng ten ngắn, ăng ten đoạn hay là ăng ten 292 thì cũng rất đáng tội nghiệp bởi vì họ đã không có cái hào khí, cái dũng khí để đối diện với bạo lực và vì thiếu suy nghĩ nên lầm lạc. Họ là những người đáng tội nghiệp hơn là khinh bỉ. Có thằng bạo mồm Văn Quang làm ăng ten nên không dám đi Mỹ. Thằng đó thiệt là ngu. Dã man, mất nhân tính như Bùi Đình Thi còn dám đưa hết vợ con đi Mỹ, dù biết rằng các tù nhân trại Thanh Cẩm đã tới đầy đủ ở Mỹ vẫn cứ hiên ngang ra đi thì xá gì anh Văn Quang. Tại sao Hoàng Hải Thủy là ăng ten mà dám đi qua Mỹ. Duyên Anh phải vượt biên qua Pháp thì hà cớ gì Văn Quang phải sợ. Cho nên thấy rõ bưng bô Lu Trung chỉ là thằng phét lác. Phao những tin thất thiệt về ăng ten để tung hỏa mù làm cho đồng bào chiến sĩ nghi ngờ lẫn nhau, làm cho công cuộc đạp đổ phỉ quyền thêm khó khăn. Đừng bao giờ tin và nghe lời tuyên truyền bịp bợm của chúng…..”

    Like

  2. Hai Lăng says:

    Vâng tôi cũng đồng ý với anh Ngụy sài Gòn , làm sao tin được Duyên anh hay Phan Nhật Nam là ăng ten cho Việt Cộng ? Chỉ có những con người không có trái tim mới tin và vu khống nhà văn Phan Nhật Nam hay Duyên Anh . Tôi đã từng là độc giả ái mộ hai nhà văn nói trên Bởi thế tôi không bao giờ tin những lời vu khống chụp mũ Phan Nhật Nam Tội nghiệp cho anh ấy vô cùng !! Tôi cầu mong PNN nhiều chí khí dũng cảm để vượt qua những điều đât để cho anh Mong lắm Những lời đánh phá PNN đã làm cho người lính người tù nhà văn chán nản chìm sâu vào nơi nào ????

    Like

  3. NguySaigon says:

    Trích từ một trong những bài phản biện bọn bưng bô VC . Những bài được viết khi cùng chị Lethy phát huy chính nghĩa Quốc Gia hơn 10 năm vê` trước

    “…Tui có thằng bạn sỉ quan Nhẩy Dù. Nó đã từng mài đủng quần chung với tui ở giảng đường đại học cùng ăn cùng chơi cùng đong đưa tháng ngày tuổi trẻ ở SG yêu dấu, cùng “thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” ở quân trường. Khi gặp tui ở bên trại tị nạn TL thì nó nghiêm nghị báo cho tui một tin quan trọng: Phan Nhật Nam làm ăng ten. Tui trừng mắt nạt bảo nó im rồi đủng đỉnh giảng nghĩa cho nó nghe. Tui hỏi nó rằng nó đã đọcDọc Đường Số 1, Dựa Lưng Nổi Chết, Mùa Hè Đỏ Lửa.. và những tác phẩm khác chưa? Qua những tác phẩm đó nó có thấy được lòng yêu mến QLVNCH, những hào hùng bốc lửa của những Thiên Thần Mũ Đỏ. Và trên hết là cuốn Tù Binh Và Hoà Bình. Trong đó người chiến sĩ Nhẩy Dù Phan Nhật Nam đã công khai lên tiếng kinh tởm cái dả man tàn ác của người Cộng Sản và tuyên bố chống cộng đến hơi thở cuối cùng. Ăng ten gì với những người như thế.

    Duyên Anh là một thiên tài một cây bút hoàn hảo cho mọi phạm vi. Từ những tiểu thuyết cho thiếu nhi, đến những phiếm dị trào phúng châm chích hài hước đến những tiểu thuyết xã hội đã đưa tên tuổi của ông lên hàng “vô thượng sư”. Trước 75 tui chỉ đọc Thương Sinh. Một vài tiểu thuyết cho con nít. Nhưng khi ông qua được bên Pháp thì tui là độc giả thường xuyên của ông. Dù ông có ngạo mạn tự cao tự đại “thần khẩu hại xác phàm” thì tui đã thật sự yêu mến ông và những tác phẩm của ông. Từ những cay đắng nhẹ nhàng như Quán Trọ Trước Cổng Thiên Đường đến hừng hực nổi đấu tranh Bầy Sư Tử Lảng Mạn, Một Người Nga ở Sài Gòn, và những “giờ phút chờ chết” trong Sài Gòn Ngày Dài Nhất….Những kinh dị như chuyện không thật trên đời: Đồi Fanta , và trên hết là Hồn Say Phấn Lạ một tác phẩm vỉ đại , một mũi tên độc đang đâm thẳng vào tim của phỉ quyền cộng sản. Dzậy mà thiên hạ cho rằng và đồn đải Duyên Anh làm ăng ten. Đây là một sự nhục mạ lố bịch. Khởi đầu là Tạ Tỵ Trong Đáy địa ngục đã thông báo là ông nghe nói Duyên Anh làm ăng ten trong tù. Không ai phủ nhận Tạ Tỵ: Một hoạ sĩ có tài, một nhà văn có chổ đứng. Nhưng sự kết luận vội vả của ông đã thực sự không phải, không công bằng với một đồng nghiệp của ông. Chưa nói là ông đã nối giáo cho giặc trong việc bôi nhọ và làm thui chột lòng yêu mến những chiến sĩ chống cộng kiên cường của chúng ta. Duyên Anh có phản ứng bằng rất nhiều bài viết. Đó cũng là một chuyện buồn mà biết nói sao hơn. Phải ở trong hoàn cảnh của Duyên Anh mới có thể thấu hiễu những uất hận nghẹn ngào của Duyên Anh đã bị chính những đồng bào minh dùng dao của địch mà đâm sau lưng mình một dao thấu cán. Khi bị nạn liệt nửa thân mình ông tiếp tục dùng tay trái để tiếp tục đâm thẳng vào chế độ bằng ngòi bút hừng hực lửa đấu tranh tới ngày cuối cùng của ông. Ăng ten làm sao được ở những con người quật cường không sợ hãi bạo lực đó.

    Trong những lúc lắng đọng nhất tui xin mọi người bỏ qua những thành kiến, bỏ qua hết những dị biệt bất đồng để nhắm một ngụm trà nhỏ và trong cái thơm ngát của hương trà, trong cái trầm mặc của chung quanh, chúng ta hãy tự hỏi rằng trong con người những thằng ăng ten làm sao có đủ cái hào khí của một kẻ sĩ, có cái quyết tâm của một chiến sĩ chấp nhận hy sinh để viết nên những tác phẩm bất hủ như nhà văn Duyên Anh như nhà văn Nhẩy Dù Phan Nhật Nam … Đọc nó không những lòng chúng ta dậy nên men phấn khởi mà còn giữ trong lòng chúng ta một nổi quyết tâm đập tan chế độ phỉ quyền cộng sản. Tui thật biết ơn họ vô cùng. Tiện đây tui cũng xin được thấp lên một nén hương lòng để thành kính tưởng niệm nhà văn Duyên Anh, một chiến sĩ chống cộng kiên cường bất khuất của chúng ta. Xin ông được yên vui nơi cỏi vỉnh hằng và tui, dù tài hèn chí bé, cũng sẽ tiếp nối con đường của ông cho đến hết cuộc đời….

    NguySaigon2003

    Like

  4. Nikita says:

    Người ta bảo nhà văn Duyên Anh làm ăng ten nhưng tui không tin. Ông chưởi CS mạnh bạo, thấm thía, tận gốc rễ, nặng nề như tui thấy trong cuốn Nhà Tù. Một người có khí phách cang cường như vậy không thể nào có hành động đê hèn làm ăng ten. Người ta chụp mũ ăng ten để hại ông. Nhưng những tác phẩm của ông đã nói lên con người cao đẹp của ông một cách hùng hồn. Tôi cám ơn đất nước Viêt Nam còn có những người như nhà văn Duyên Anh, những người có đầy tình yêu quê hương và cảm nhận được nỗi đau của người dân sống dưới ách CS . Nhà văn Duyên Anh là một nhà văn lớn, nhà văn của quần chúng, một nhà văn vĩ đại của thế hệ chúng tôi.

    Like

Comments are closed.