ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN….: Phần II (Văn Bia)

CHƯƠNG 34

Một trong những án mạng làm chấn động dư luận một thời là vụ cô Quờn đốt chồng. Tôi đã để Thần Chung hụt tin nầy ngày đầu. Vụ nầy xảy ra bên Khánh Hội không thuộc địa bàn hoạt động của tôi. May mà tờ báo duy nhứt lượm được tin nầy là Saigon Mới không biết triển khai, đăng nhỏ trong mục lặt vặt. Điều may mắn cho tôi hơn nữa là gặp cái miệng hay bép xép của ông Bút Trà cộng với cái chịu nhịn ăn một món ruột của tôi là da heo sữa quay.

Tối hôm ấy hai ông bà Bút Trà, chủ báo Saigon Mới, đãi trong một nhà hàng sang trọng ở Chợ Lớn một bữa tiệc cho vài chủ báo, trong số có ông Nam Đình, ông kéo tôi theo. Giữa bữa tiệc, lúc con heo sữa quay vừa được bưng lên, những mảnh ô vuông da heo non mỏng màu đỏ au nứt ra như sắp vọt vào miệng tôi, thì ông Bút Trà vừa dứt một chuyện, nói tiếp qua chuyện có con mẹ ở Khánh Hội ác quá, tưới xăng đốt thằng chồng chết queo.

Tôi rụng rời nhớ báo mình hôm nay không có tin đó. Song tôi quyết tâm gỡ gạc. Ông Bút Trà vừa cung cấp nguồn tin quý hơn đồ ăn mỹ vị ông đãi. Tôi làm tỉnh, ngồi yên thêm một chút, rồi mắt ngó vào con heo quay, tay ôm bụng rên đau, nhăn nhó mặt mày, nói chắc ăn không được, xin rút lui. Tôi chạy thẳng qua Khánh Hội, kịp trước giờ giới nghiêm, hỏi thăm tìm ngôi nhà vừa mới xảy ra vụ đốt chồng.

Một số người tọc mạch còn lao xao ngoài ngõ nói lên tầm quan trọng của tin tức nầy. Bà già chồng ngồi giữ nhà cho con, mặt teo héo, tôi tính có cạy miệng bả cũng không nói. Tôi toàn dùng những lời lẽ chia buồn. Ngó quanh ngó quẩn thấy có tấm ảnh cô Quờn lộng kiếng để ngay tại bàn, tôi xin bà cho tôi mượn tấm ảnh. Bà nói:

– Cần hình con quỷ cái đó để làm gì?

Tôi không được hình nhưng được bả bắt đầu mở miệng cho tôi mặc sức khai thác thu thập tin tức. Vừa nói chuyện, tôi vừa mở máy ảnh ra lia lịa chụp lại tấm hình và chụp luôn bả, bả không hay. Trọn hôm sau, tôi trở qua hỏi thăm phỏng vấn bà con hàng xóm, và dò la thêm tin tức từ cảnh sát. Thế là tôi có đủ hình ảnh và tài liệu viết nhiều ngày liên tiếp vụ cô Quờn đốt chồng.

Cô Quờn là một thiếu phụ tuổi khoảng ba bốn mươi. Tôi chỉ gặp tận mặt được mấy lần khi cô ra trước Tòa. Đơn giản trong chiếc áo bà ba thường và quần lãnh đen, đầu tóc nhỏ bới hơi lệch và xệ. Hình ảnh một phụ nữ hiền từ hơi quê mùa. Dáng người mảnh khảnh, gương mặt sầu bi, nhiều khi nhăn nhó lộ đau khổ và như luôn chực muốn khóc nhưng nước mắt đã khô cạn.

Đa số báo nhẹ lời với thủ phạm giết người quá táo bạo nầy. Ông Trần Tấn Quốc, chủ báo Tiếng Dội, lên tiếng mạnh dạn binh vực và tuyên bố lãnh nuôi dưỡng cô Quờn ngày nào mãn án cô ra khỏi tù. Dư luận báo chí ảnh hưởng đến bản án, xử có mấy năm tù, trong khi thật sự tội có toan tính trước rõ ràng. Thủ phạm đã chuẩn bị mua dầu xăng trữ từ trước. Chờ lúc chồng ngủ say, cô Quờn đổ xăng vào một cái thao tạt cho lẹ một cái. Ngoài ra, cô ta còn để một con dao yếm dưới giường, kế bên cái thao, mà ú ớ không trả lời được khi Tòa vặn hỏi để dao đó làm gì.

Nghề phóng viên ăn tiền ở chỗ biết ”đánh hơi” đúng thị hiếu của độc giả. Nếu tôi không kịp thời chốp vụ cô Quờn, khai thác làm lớn ra, chắc tin đó lặng lẽ đi qua luôn sau bản tin ngắn ngủi trong mục lặt vặt của báo Saigon Mới.

Một tin tôi bị hố nặng mà độc giả không hay biết và chủ báo làm lơ luôn, vì phóng viên liên can với tôi chính là cô Cẩm Vân, ái nữ của ông. Đó là tin ông Hai Sâm, chủ một tiệm vàng lớn ở Lái Thiêu trúng số độc đắc.

Tôi bắt được tin nầy do tuy-dô của một người thân cận trong gia đình ông Hai Sâm, một má chín, làm việc ở bót Quận Tư, Chợ Lớn. Tôi đã viết đăng. Ông Nam Đình nói để Cẩm Vân chở tôi lên Lái Thiêu điều tra thêm, và chụp hình tôi phỏng vấn nhà tân triệu phú. Lúc nầy cô Cẩm Vân mới tập sự vào nghề.

Được cô con gái của một ông chủ báo lớn lái xe Cadillac mui trần chở về quê, tôi không khác gì mặc áo gấm về làng. Hình như cả Saigon lúc đó chỉ có một hay hai chiếc xe loại sang trọng nầy.

Cùng là người địa phương quen biết nhau, tôi được ông Hai Sâm chủ tiệm vàng tiếp đãi thân thiện hơn là đối với một phóng viên thường. Ông nói với tôi:

– Tôi nói thật cho ông biết là tôi đâu có trúng số. Ai chơi ác đồn làm tôi mệt. Mình là chỗ quen biết với nhau, nếu tôi trúng số thì tôi nói thiệt với ông, không giấu giếm làm gì. Để mai mốt ông coi ai lãnh tiền thì biết tôi không có nói láo với ông.

Cẩm Vân lo chụp hình liên tu, không chú ý tới lời ông phân bua. Trên xe, dọc đường về, tôi than với Cẩm Vân uổng công chuyến đi nầy, mình như đi du lịch chơi với nhau thôi vì người trúng số không phải ông Hai Sâm.

Cẩm Vân chống lại ý kiến của tôi, nói nàng thấy tướng của ổng trúng số thật. Thấy rõ nàng không muốn để hụt đăng hình nàng chụp về tin nầy. Chủ yếu là hình ảnh nàng chụp chớ đâu có tin tức gì mới về vụ trúng số đã loan ra ngày hôm trước rồi. Xổ số đều đều. Tin tân triệu phú có khi sai. Mà sự thật, người lãnh tiền trúng số chưa hẳn là người đã thật sự trúng. Thường có trường hợp người ta mua giấy số trúng vì một ý đồ gì. Cho nên thực tâm tôi không kể loại nầy là tin lớn, ngoại trừ những vụ éo le đặc biệt như vụ Cô Bê trúng số bị sang đoạt, tôi viết trong báo Dân Thanh của ông Phú Đức, sẽ kể tới sau.

Ít lâu sau đó, ông Cao Minh Chiếm, làm công tác chủ bút, có cho tôi biết riêng đã có người lãnh tiền trúng số độc đắc kỳ đó không phải là ông Hai Sâm. Tôi đã tin lời ông Sâm từ trước rồi mà. Tôi cũng không màng hỏi sao ông Nam Đình không một lời trách phóng viên loan tin sai. Vì tôi biết phóng viên số một đâu có phải là tôi nữa.

Sau cuộc viếng thăm Điện Biên Phủ mà tôi coi như đi chơi thôi, vì đã có Cẩm Vân được lăng-xê và Francois Sully tiếng tăm viết bài rồi. Tôi thấy bây giờ mà chưa lo rút lui khỏi Thần Chung liền và nhảy qua Tiếng Dội là không còn kịp nữa.

Lúc làm cho báo Thần Chung, ở lứa tuổi hai mươi, tôi đã được liệt vào hàng phóng viên lớn, lãnh lương cao. Ngoài nhận bộn bàng thơ tín, tôi còn thường tiếp nhiều thanh thiếu niên nam nữ đến tòa báo tìm gặp, xin học nghề của tôi. Họ nói rất mê thích được làm phóng viên như tôi. Tôi trả lời là chính tôi còn đang tìm trường học nghề làm báo mà chưa gặp, hoặc chưa có phương tiện đi Pháp học. Thật tình không phải muốn giấu nghề. Có nghề đâu mà giấu.

Sau vài chục năm lăn lộn trong nghiệp báo với nhiều tờ báo lớn nhỏ khác nhau, và qua xong khóa tu nghiệp báo chí ở Kuala Lumpur, tôi vẫn chưa thấy mình vững tay nghề. Nay trở về già, không dám sánh như những cao thủ trưởng lão muốn truyền những bí công lại cho hậu thế, nhưng tôi được chút kinh nghiệm gom nhặt theo tuổi tác, nên xin mạo muội san sẻ cho lớp trẻ chút hiểu biết về nghề làm báo bằng cách ghi lại Đời Một Phóng Viên và nhứt là Đoạn Cuối Đời Một Phóng Viên trong tập Hồi Ký nầy.

Mỗi lần đi làm một nhiệm vụ điều tra nào, là một lần va chạm một vấn đề đa hình đa dạng khác lạ, mỗi lần được học thêm một kinh nghiệm mới. Thật sự ngỡ ngàng như một kỹ sư khoáng chất kiêm nhà chế xuất sản phẩm, bị đưa tới một hầm mỏ xa lạ, không biết có nên:

1) khai thác hay không

2) khai thác cách nào

3) bằng phương tiện gì

4) cần thu hoạch loại vật liệu nào mang đem về, và

5) chế biến cách nào cho thành sản phẩm hữu dụng.

Phải quyết định một lượt nhiều vấn đề khẩn cấp quan trọng nêu trên trong nháy mắt hầu mới kịp cạnh tranh trong ngành thông tin. Phóng viên còn phải có phản ứng lẹ trước mọi bất ngờ, nhanh chóng trong hành động chọn hay bỏ, lựa hay tránh né phỏng vấn ai.

Biết lựa đề tài khai thác là yếu tố quan trọng hàng đầu cho sự thành bại hay hơn thua của một phóng viên. Có những trường hợp, đến mức gây bất mãn, tôi nhất quyết từ chối không viết phóng sự mà chủ báo đã chỉ thị thi hành.

Như có một thời thật sôi nổi vì phong trào dùng nhau theo phương pháp Filatov của Liên-Xô. Lúc đó ai cũng đua nhau ăn nhau, uống nhau và cấy nhau, coi nhau là thần dược trị bá chứng. Phải là nhau đứa con so. Người ta tranh nhau đến các nhà bảo sanh xin cho được loại nhau của đứa con đầu lòng, đem về nấu cháo ăn. Thầy chích dùng nhau cấy vào dưới da các thân chủ dễ tin. Nhiều loại xi-rô nhau được sản xuất cho khách hàng uống như thuốc đại bổ. Có cả viện bào chế Âu dược chánh thức sản xuất xi-rô (sirop = nước đường, thuốc mật) nhau. Tôi được lịnh viết bài chống đối. Tôi nghĩ đây là một đề tài tế nhị, chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ sau khi phải mất nhiều tháng hay năm theo dõi. Nghiên cứu, thí nghiệm, là hoàn toàn ngoài phạm vi hoạt động của một phóng viên thông tin hằng ngày.

Trong trường hợp nầy, nhiệm vụ của một phóng viên chỉ nên giới hạn loan ra hiện tượng đang có cơn sốt dùng nhau mà thôi. Một đồng nghiệp của tôi cho là tin giựt gân, vội chụp viết ra khai thác dài dòng. Kết quả bài phóng sự thành chuyện phiếm trêu cười, không có một chút giá trị điều tra.

Còn một chuyện khác cũng liên quan đến ngành y và sức khỏe công cộng, đòi hỏi hiểu biết sâu rộng về khoa học và thử nghiệm. Tôi không nhận lời viết bàn về lối trị liệu nầy, xuất phát từ trong Khu, là việc dùng nước dừa Xiêm thay thế dung dịch glucose (loại chất đường) tiếp vô huyết quản bịnh nhân.

Nếu tôi đá động tới vấn đề nầy, ảnh hưởng sẽ to tát. Khen hay chê đều nguy hiểm. Khen, thì dân chúng ùn ùn tin tưởng lời nhà báo, nhỡ gây phản ứng tai hại liền, hoặc về sau mới phát lộ, khi ảnh hưởng đã lan rộng, không lường trước được. Còn nếu chê bai chống đối, mà nếu thật sự đó là một khám phá hữu ích, vô cùng có lợi cho dân vùng nông thôn bưng biền, là tước đoạt họ một thứ quý giá không tốn tiền, luôn luôn có sẵn trong tầm tay.

Phóng viên không thể căn cứ vào nhận xét có mấy chục phần trăm hiệu quả và mấy chục phần trăm gây hại trong một giai đoạn ngắn, một môi trường hay phạm vi hạn hẹp mà đưa ra một xác định chính xác được, trong trường hợp có ảnh hưởng đến sức khỏe hay sanh mạng.

Tường thuật những cuộc án mạng, cướp bóc, tai nạn, điều tra phóng sự đời sống của dân, tình hình quân sự, hành động tham nhũng của quan lại, là những đề tài vô tận cho phóng viên khai thác. Để những chuyên ngành cho những tay chuyên nghiệp. Cũng như phần xã luận có ký giả cột trụ của tờ báo, sành sỏi về chánh trị. Tiểu thuyết và chuyện dài là của văn nhân. Phê bình và tường thuật thể thao, kịch trường, văn nghệ do các ký giả chuyên môn khác nhau.

Những bài học nghề, nếu được gọi như vậy, nằm ngay trong những loạt tường thuật lại nghề phóng viên của tôi. Đó là những kinh nghiệm hằng ngày theo lối làm báo cũ xưa, ghi lại trong hai phần “Nghệ Thuật Làm Báo” và “Nghề Phóng Viên” trong Hồi Ký nầy.

Ngày nay, theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại về mọi lãnh vực, trong vòng cùng một thế kỷ, ngành truyền thông nhảy vọt từ đơn thuần có báo chí, thêm truyền thanh, kế tiếp truyền hình.

Phóng viên sử dụng thêm âm thanh ở đài phát thanh có xướng ngôn viên. Ở đài truyền hình tăng thêm hình ảnh với sự hợp tác của chuyên viên thu hình (cameraman) và cần phối hợp viên (anchorman) hòa hợp lời phóng viên với hình ảnh. Chung quy, nghề phóng viên săn tin vẫn theo cùng một nguyên tắc cơ bản thu thập và loan báo tin tức.

WHAT (Cái gì) = Cái gì đã xảy ra

WHERE (Ở đâu) = Xảy ra ở đâu

WHEN (Hồi nào) = Xảy ra hồi nào

WHO (Ai) = Ai liên can trong vụ việc

WHY (Tại sao) = Tại sao xảy ra

Và HOW (Cách nào) = Xảy ra cách nào, thế nào

Bột, đường, tiêu, muối, cá, thịt, v.v.. có đủ mới làm ra thức ăn. Song đâu có phải ai cũng rành nấu ăn, và có mấy người biết nấu ăn ngon xứng đáng mang được chức ” chef ”. Làm phóng viên cũng giống như họa sĩ hay nhạc sĩ. Không phải ai tốt nghiệp trường Mỹ Thuật (vẽ) đều thành họa sĩ nổi tiếng, tạo được những tác phẩm tuyệt vời. Không phải bất cứ nhạc sĩ nào xuất thân trường Âm Nhạc đều nổi danh và là tác giả những bản nhạc để đời.

Thời tôi làm báo, từ chủ báo tới ký giả không mấy ai rành luật lệ báo chí, ngoài thiểu số ít oi người có kiêm nghề luật sư như anh Tiểu Nguyên Tử. Do vậy, những cây viết thường bị đưa ra Tòa, hầu hết về tội mạ lỵ, một ít vì làm tiền, làm xăng-tai (chantage = dọa bêu xấu, dọa phát giác chuyện kín để lấy tiền).

Đại để báo chí hành sử theo lẽ phải thực tế thông thường có được từ kinh nghiệm và trở thành gần như luật. Có lỡ đăng tin sai lạc làm tổn thương một cá nhân hay cơ quan, đoàn thể nào, thì trong một số báo tới sẽ có bài đăng lời đính chánh vào cùng một vị trí lúc báo đã in ra tin kia, với dạng chữ đồng cỡ của tựa và bài.

Báo nhận đăng thiệp hồng, lời chúc mừng chia vui, hay in ai tín, phân ưu, lúc đó gần như hoàn toàn thiếu thận trọng, không như ở Mỹ bắt buộc người mướn đăng phải trình giấy tờ giá thú chứng nhận hôn nhân, hay chứng từ khai tử. Thế mà suốt đời tôi làm báo chưa thấy có ai chơi trác theo kiểu một ông chủ báo gài tin vịt phá báo khác như tôi đã kể.

Xin kể tiếp cách làm báo tự biên tự diễn của tôi, đôi khi bất chấp luật lệ nghề nghiệp.

Độc giả thường viết thơ cung cấp cho nhà báo những nguồn tin, phóng viên dò theo đó đi bắt hạm, nếu là tin quận trưởng, tỉnh trưởng tham nhũng độc tài. Hay đi làm phóng sự nếu là những tin đặc biệt như có những ông đạo quái lạ, Đạo Khùng, Đạo Rờ, Đạo Dừa, ông thầy Nước Lạnh, v.v… Hoặc phép lạ đầu nầy, hiện tượng khác thường đầu kia. Tuyệt đối không lưu tâm đến thơ rơi. Kinh nghiệm cho thấy loại nầy đều vô giá trị, vì do tư thù hoặc hiềm khích chánh trị tạo ra.

Có những thơ tố cáo đọc lên phải lo sợ giùm cho người viết. Họ quá uất ức không còn biết ngán ai. Liều mạng thấy rõ. Càng thấy rõ hơn là họ còn đặt quá nhiều tin tưởng vào nhà báo, coi báo chí như Bao Công giáng thế.

Chính sự can đảm của người dân thúc đẩy tôi phấn khởi hành nghề, vạch trần những hành động tham nhũng, không ngại bị nguy hại đến chính bản thân mình. Thú thật, sau khi có gia đình vợ con, tôi không còn dám gan lì mạo hiểm như thời còn độc thân. Bây giờ nhìn lại dĩ vãng, tôi không ngờ thời tuổi trẻ tôi quá bạo dạn liều lĩnh.

Những lần đi vào hang cọp bắt hạm, nghĩa là đi điều tra những vụ tham nhũng thường xảy ra ở các tỉnh, các quận, tôi phải làm như du kích, sắp xếp tiếp xúc với những người cung cấp tin, gặp gỡ mau lẹ trong một buổi sáng. Nếu không xong cũng trở về liền, và bất ngờ tìm gặp lại lần sau, để tránh bị hãm hại. Một lần nọ, tôi được thông báo có tay sai của một ông Quận hạm, khi nghe phong phanh có phóng viên đến địa phương điều tra, đã canh bắt hụt tôi.

Khi cần đi chụp hình những hàng cột đình bự ôm một vòng tay chưa hết mà dân địa phương cho biết tay cường hào ở đó ngang nhiên giở đình về cất làm chợ không được sự đồng ý của Ban Hội Tề, tôi dắt theo một bạn gái làm như đôi tình nhân đưa nhau đi chụp hình chơi. Thật sự, tôi cố lấy ảnh giàn cột phía sau lưng cô ta, an toàn không bị nghi ngờ.

Người dân hay nghĩ phóng viên nhà báo oai quyền không biết nể ai, có đủ khả năng bảo vệ chính mình và họ, đồng thời rất đáng tín nhiệm. Việc ngộ nhận nầy đã gây hại không ít cho những người cầm viết.

Bắt bớ hành hung hay lăng nhục, không nguy hiểm bằng thứ vũ khí độc hại hạ nhà báo mà phóng viên điều tra dễ lâm nạn hơn hết. Đó là đòn mua chuộc, biến phóng viên thành kẻ vô lương, bán đứng đồng bào độc giả đã đặt niềm tin vào họ.

Chính tôi đã có một lần dễ dàng đưa tay ra nhận lãnh bao thơ tiền của một ông Quận (chắc chưa hẳn thuộc hạng hạm), ở gần Mỹ Tho, mà cho đến bây giờ lương tâm tôi vẫn còn bứt rứt.

Một chiều nọ, tôi lái xe Vespa từ Vĩnh Long về Saigon dọc đường gặp trời mưa, nền đường đang sửa chữa, đổ đất sét trơn trợt như thoa mỡ bò. Tôi chống chân đi chậm cũng khó khăn, nên tạt vào một chợ quận gần đường, tính ngủ qua đêm.

Thường thường nếu không phải đi bắt hạm thì tới đâu tôi đi thẳng vô văn phòng quận hay tỉnh, có khi xã, để hỏi thăm tìm chỗ an ninh trú ngụ. Tôi tự giới thiệu tôi là ai rồi mới nhờ họ giúp. Bước vào văn phòng quận (hình như là Bình Minh) có năm, bảy nhân viên còn ngồi làm việc, tôi đến bàn viết của một, dĩ nhiên là cô nữ thơ ký. Cô vào phòng trình quận trưởng. Ông bước ra niềm nở bắt tay tôi và nói để cho người tiếp.

Phóng viên Văn Bia của báo Thần Chung thì hầu hết ai cũng biết. Ở đây chắc còn sắp biết thêm một việc, là nhà báo nầy có làm tiền nữa. Vì người tiếp tôi là một anh thơ ký, nghe ông quận nói nhỏ gì đó mà anh ta nhặm lẹ đi mở tủ sắt, lấy một bao thơ đem ra đưa cho tôi, nói quận tặng tôi chi dụng. Nếu chiêu đãi tôi nghỉ qua đêm, giá phòng ngủ luôn tiền buộc boa (pourboire = tip = tiền quà) chỉ vài chục bạc. Thêm bữa cơm cũng mấy đồng nữa thôi, mà bao thơ đựng tới một ngàn đồng. Số tiền tương đương, thỉnh thoảng tôi và các nhà báo tháp tùng các ông bộ trưởng đi kinh lý, được các ông nầy phát tặng cho mỗi người, gọi là tiền để bỏ túi tiêu vặt. Thét rồi khó phân biệt tiền nào sạch tiền nào dơ.

Trong trường hợp nầy, tôi không hiểu tại sao tôi dám nhận một cách dễ dàng. Đã rõ ràng đây phải là tiền hối lộ. Ông quận nầy ắt có làm gì sai quấy mất lòng dân, mới chưa chi đã đi lo lót. Nếu ông ta ngay thẳng thì ông sợ gì mà không gài bắt tôi quả tang tội làm tiền trước sự chứng kiến của nhiều nhân viên.

Tôi đinh ninh về tòa soạn lục ra trong đống thơ từ dân chúng tố cáo, sẽ lòi ra tên ông quận nầy, và tôi sẽ dùng số tiền kia gia trọng tội ông, là tang chứng toan hối lộ chạy tội.

Không thấy có thơ nào tố ông quận nầy cả. Tôi đem sự việc trình bày cho ông chủ báo Thần Chung của tôi là ông Nam Đình và cho biết tôi sẽ đem trả lại tiền. Ông Nam Đình bảo tôi đi trả là người ta cho là tôi chê ít, muốn đòi hỏi thêm, hoặc là nghĩ tôi từ chối thật để sẽ tố mạnh người ta. Đằng nào cũng mệt cho tôi, vì theo ông nghĩ, ông quận đó chắc chắn có làm gì bậy. Hãy cứ cho ông ta bản án treo, tạm cất tiền xài. Đó là lời khuyên của một chủ báo chuyên nghiệp và cũng là một phóng viên lão luyện.

Tuy chủ báo mình như ngầm chấp thuận việc nhận tiền hối lộ, vậy mà lương tâm tôi vẫn cắn rứt. Tôi đã có ăn tiền hối lộ. Một gương xấu xa trong giới cầm bút. Giới nầy đã mang tiếng quá nhiều rồi. Tôi hằng muốn chứng tỏ còn có những cây viết biết trọng danh dự, trong sạch và xứng đáng với cái nghề nghiệp cao quý của mình.

Chuyện nhận tiền hối lộ nầy mãi theo ám ảnh tôi nhiều năm trong đời phóng viên của tôi mà tôi không biết làm sao giải toả cho được.

Phóng viên Văn Bia ơi, mầy đừng còn kiêu căng vỗ ngực coi là một ký giả trong sạch duy nhứt trong hàng ngũ báo chí dẫy đầy chuyện làm tiền và lạm dụng nghề nghiệp. Phạm tội một lần cũng đủ sa địa ngục, mất thiên đàng y như những kẻ phạm một trăm hay một ngàn lần. Hình phạt trước mắt là tiếng tăm tiêu tan.

Trong thời gian làm Chánh Sự Vụ Hành Chánh cho Đệ Thất Không Lực Hoa Kỳ tại phi trường Biên Hòa, tôi đảm nhiệm chức Trưởng Phòng Nhân Viên, hàng năm thâu mướn cả ngàn thầy thợ, thơ ký và bồi bếp. Tôi vô cùng khổ sở vì những cái bao thơ tôi coi là những ác quỷ đeo theo trở lại ám ảnh báo hại tôi. Có những chị đàn bà được nhận làm lao công hay bồi phòng thôi mà cũng cầm bao thơ đặt lên bàn viết của tôi, hay đút vào đống hồ sơ. Tôi khó khăn từ chối đến mức phải hăm dọa, nếu họ không lấy bao thơ lại, tôi sẽ thưa họ tội hối lộ. Hoặc tôi phải kiêu căng nói cho họ biết tiền lương của tôi cao hơn lương họ cả vài chục lần, đâu có cần tiền họ đền ơn.

Khi làm báo, lương tâm nghề nghiệp càng không thể ổn, vì việc nhận bao thơ làm cho cả báo giới mang tai tiếng chung. Năm, bảy nhơn viên trong quận kia đã biết hết rồi. Mỗi người ấy, trong số đó dĩ nhiên có cô thư ký xinh đẹp, về nhà kể lại cho gia đình và bạn bè họ nghe. Rồi mỗi thân nhân bạn bè đó loan tin ấy ra nữa. Chết rồi! Không mấy chốc, tin phóng viên Văn Bia nhận tiền hối lộ lan tràn, sẽ gây dư luận rộng rãi không thua gì như loan tin trên báo chí.

Đến bây giờ ngồi viết lại Hồi Ký nầy tôi mới nghĩ ra được một cách hành xử khác hơn lời dạy của ông chủ báo Nam Đình. Thay vì cất giữ thì tôi mang số tiền kia trở lại quận đường, không phải trả thẳng cho ông quận trưởng để bị nghi ngờ như ông Nam Đình dự đoán, mà trao cho cô thơ ký, nhờ nạp cho ông quận trưởng, với lời giải bày là hôm nhận bao thơ tôi tưởng số tiền nhỏ ông quận đãi tôi trang trải chi phí ngụ lại quận đêm ấy, không ngờ là số tiền lớn, tôi không dám nhận, sợ mang tiếng không tốt cho một phóng viên. Tôi làm vậy sẽ được lấy điểm với người đẹp, đồng thời nàng sẽ loan tin nhà báo đứng đắn đáng được độc giả thán phục. Miệng phụ nữ thường là loa tuyên truyền hiệu quả mà.

Ký giả phải rất thận trọng. Phải vô cùng thận trọng. Để bảo vệ cho danh dự bản thân đã đành, mà còn phải giữ thanh danh cho nghề nghiệp cao quý của mình nữa. Mình lần hồi vô tình sát hại nền tự do báo chí, làm nó yếu kém. Tiếp tay bôi nhọ báo chí là tước lột quyền lực và ảnh hưởng của báo chí đã bị mang tiếng nhiều, bị khinh bỉ quá, chính do ký giả xấu gây ra.

Một trường hợp tương tự như của tôi đã xảy đến cho đồng nghiệp Nguyễn Ang Ca mà tôi dám chắc ký giả nầy không để ý và không dè hành vi vô tình của anh ta đã gây ra tai tiếng cho cả làng báo.

Một lần, một người bạn mới quen, cùng làm công chức trong tiểu bang Massachusetts, ở Bộ Công Chánh, khi biết tôi là một ký giả thì tỏ vẻ coi thường nghề làm báo của tôi. Tôi hỏi tại sao vơ đủa cả nắm như thế, anh mới cho biết lý do. Anh tên Đặng Văn Tiêu, một cựu nhân viên Bộ Ngoại Giao tùng sự tại Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Bỉ, kể chuyện hồi làm ở đó, năm nào cũng thấy có một ký giả đến gặp ông Đại Sứ, than phiền là tòa đại sứ Việt Nam ở đây không giúp đỡ sinh viên Việt Nam gì cả. Ký giả nầy có người con đang học ở Bruxelles, thủ đô nước Bỉ, nên đi từ Việt Nam đến Bỉ cũng như đi chợ hằng năm, để thăm con. Anh Tiêu nhận lịnh ông đại sứ trao bao thơ cho ký giả. Lại bao thơ nữa!

Phải chi số tiền nầy được đem phân phối cho anh em sinh viên cũng là điều tốt : Ký giả đã lên tiếng tranh đấu cho cả đoàn thể. Song nhân viên tòa đại sứ như anh Tiêu kia thì nghĩ không tốt cho giới ký giả chúng tôi. Tôi mong trong số độc giả đọc Hồi Ký nầy có một vài anh em cựu sinh viên Việt Nam ở Bỉ lên tiếng có nhận được chia tiền, để cho nghề cầm viết khỏi mang tiếng.

Về phần bao thơ tôi nhận, tôi vô phương mong có ai cứu vớt vì tôi đã giữ trọn bao thơ cho mình. Họa chăng, cô thơ ký khả ái kia có thương tôi, xác nhận tôi chỉ có nói ” đêm nay tôi tạm trú tại quận nầy ”. Chấm dứt. Thề không có thêm một tiếng nào nữa ngoài chữ ”cám ơn cô”. Nhưng xòe tay đớp bao thơ là quá bậy, cho dầu chủ báo tôi đã nói không sao, mà lương tâm tôi không chịu. Tôi đi xưng tội nầy thì linh mục giải tội với điều kiện, ngoài lần hột một chuỗi, tôi phải tìm cách trả lại số tiền đó, bằng cách nầy hay cách khác, như bố thí, làm việc thiện, nếu không thể hoàn lại cho chủ. Ông cha ngồi Tòa tha tội cho tôi, nhưng ông không biết tôi còn mắc kèm thêm một cái tội nữa mà tôi không thế nào đền nổi : Một con sâu làm rầu nồi canh, danh nhơ báo chí làm sao tôi gội rửa cho sạch được đây.

Tôi kêu gào người cầm viết, nhứt là chủ báo, hãy hiểu rõ quyền hạn báo chí hầu sử dụng sức mạnh nầy hợp lý. Hiện nay ai cũng làm chủ báo được một cách quá dễ dàng. Nhiều người lạm dụng làm chuyện sai quấy, không biết đây là vũ khí nguy hiểm như dao hai lưỡi dùng bậy hại nặng chính bản thân.

Một hôm đi thăm các tiểu bang miền Nam nước Mỹ, tôi nghe một anh bạn làm chủ báo khoe ai cũng ngán anh ta đăng báo. Anh dọa ai là người đó sợ điếng, phải làm theo ý muốn của anh ta. Nhà báo được nể, vì họ giống như một ông tướng có cầm binh khí trong tay. Tướng dùng vũ lực đánh phá thu giựt của cải là tướng cướp làm người ta khiếp đảm, có ngày phải đền tội.

—->Chương 35

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.