ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN….: Phần II (Văn Bia)

CHƯƠNG 36

Trong những chuyến đi viếng các tỉnh với tư cách đặc phái viên báo Thần Chung, tới đâu tôi thường ở cả tháng, tà tà viết bài phóng sự gởi về tòa báo qua ngã bưu điện, lâu mất ba bốn ngày. Tin tức nào quan trọng, sáng sớm tôi ra bến xe đò nhờ tài xế hoặc lơ xe mang về tận tòa soạn trong ngày, lãnh tiền công tại đó. Tin khẩn cấp, tôi mới đánh điện tín, hoặc dùng điện thoại lúc bấy giờ còn quá khó khăn và tốn kém, âm thanh rất tệ, nghe khi được khi không. So sánh với hiện tại, trong khoảng chưa hết một đời người, mà phương tiện và hệ thống truyền tin tiến bộ một trời một vực.

Thường tôi ở không tốn tiền phòng ngủ. Như tới Cần Thơ, vì báo Thần Chung đã đăng hình tôi với lời giới thiệu long trọng trước, ông tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ đón tiếp, khuyên tôi đừng có ở đâu hết, cứ tới thẳng khách sạn Tây Hồ ở bến Ninh Kiều. Ông có để dành sẳn phòng cho tôi, muốn ở bao lâu cũng được. Địa điểm ngó ra bờ sông khá đẹp. Tòa tỉnh trưng tập khách sạn nầy cho sĩ quan Pháp và khách của tỉnh trú ngụ. Tôi chọn một căn phòng trên lầu để ở và cũng để tiếp khách.

Các nữ sinh thường kéo nhau đến phỏng vấn và chất vấn tôi nầy nọ. Hầu hết là chuyện lãng xẹt. Cũng lạ, sao quá ít nam sinh mến tôi. Cũng chẳng có người lớn nào. Nhà báo được giới nữ trẻ thích hơn chăng. Có nữ sinh trở lại phòng tôi một mình, nằm sãi trên giường trong lúc nói chuyện.

Tiền, kể như đã một lần sa ngã. Tình, chưa bao giờ tôi lợi dụng nghề nghiệp để hiếp ai. Làm quen để thương để nhớ. Không hề làm gì hơn để phải khổ. Tôi có nhận được thơ viết trên giấy học trò ngỏ ý muốn theo tôi đi đó đi đây, mà không nói là để làm phóng viên như tôi, thì không biết để làm gì, tôi cũng chẳng thèm thắc mắc.

Trước khi đi Cần Thơ, ông chủ bút Cao Minh Chiếm có dặn dò tôi tới đó có cần sự giúp đỡ gì, hãy tìm gặp người bạn gái của ông là một cựu nữ phóng viên dễ thương lắm, làm chủ một tiệm giải khát.

Ngay buổi chiều đầu tiên, tôi thả tới quán Bích Phượng làm quen với bà chủ. Tôi không biết uống rượu. Bà nói để pha đãi tôi loại không có say là ” perroquet ”, một thứ rượu pippermint (bạc hà) pha với sữa thành có màu xanh két rất tươi. Tôi không say rượu mà hơi ngây ngây vì cái nụ cười và mắt lé duyên rất hấp dẫn của bà. Cái má lún đồng tiền của Thu Tâm, con gái bà, càng mê ly hơn nữa. Tôi được cảm tình của cả hai mẹ con mãi đến khi rời qua tỉnh khác, rồi sau trở về Saigon, vẫn liên lạc thân mật thơ từ qua lại. Vài năm sau, Thu Tâm có chồng quân nhân Không Quân, theo về ở gần Tân Sơn Nhứt, có nhắn tôi đến thăm.

Nàng giới thiệu cho tôi em nàng là Bích Phượng mới ở dưới tỉnh lên chơi. Trẻ đẹp hơn nàng. Ngây thơ. Giọng nói hơi đớt nghe dễ thương lạ. Tôi đèo tiểu muội trên mô-tô (motocycle = xe máy dầu) chở đi coi hát mấy lần. Tình chị duyên em gì cũng đều chẳng có, khi tôi chỉ biết mãi mê đeo đuổi theo nghề phóng viên. Tôi yêu nghề phóng viên đến mức không màng theo Ngô Đình Diệm, nói gì tới theo gái.

Những ngày ở Tây Đô đáng ghi nhớ hơn hết, không phải là những buổi tiếp tân tôi được mời dự. Cũng không phải là những cuộc tiếp xúc rất thoải mái với các bông hoa xứ Hòn Ngọc Miền Tây nầy, tên người Pháp đặt cho Tây Đô hay Cần Thơ ” Le Perle de l’Ouest ” ghi trên bảng trước cổng vào thành phố, khi đã qua phà Cần Thơ.

Hình ảnh đẹp tôi không bao giờ quên là cảnh trật tự thanh bình của thành phố nầy, nằm giữa vùng chiến tranh du kích. Ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Thơ, Tây học, tuy làm việc cho chánh quyền Pháp, mà rất vén khéo điều hành nền hành chánh, không làm mất lòng dân. Ông là một người liêm khiết hiếm có tôi thấy được trong đám tỉnh trưởng và quận trưởng thời ấy. Ông điều khiển và kiểm soát hiệu quả các hành động của nhân viên dưới quyền. Tỉnh nào cũng có nhân dân bất mãn gởi thơ tố cáo, ngoại trừ Cần Thơ. Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Thơ cũng ân cần tiếp đãi tôi, song với cung cách thân hữu, dễ dàng phân biệt với thái độ mua chuộc.

Dường như việc chọn ông Nguyễn Ngọc Thơ đứng liên danh làm Phó Tổng Thống, là một trong những hành động khôn khéo nhứt của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nếu có dựa vào tiêu chuẩn nào để lựa lọc thì chắc chắn không phải là địa phương hay tôn giáo. Ông Nguyễn Ngọc Thơ người miền Nam và giữ đạo Phật.

Đời chánh trị của ông Nguyễn Ngọc Thơ mang một vết đen nên phải dứt ngang, nếu không, đã có thể thay thế được Tổng Thống Diệm lâu dài sau cuộc đảo chánh. Có lẽ vì quá nể nang, ông đã hành xử không quân tử trong vụ bắt giết tướng Ba Cụt (Lê Quang Vinh), lãnh tụ Hòa Hảo chống đối. Ông Ngô Đình Diệm cũng không tránh khỏi mang tiếng về vụ nầy, phải lãnh chịu trách nhiệm về hành động đốn mạt của bọn dưới quyền ông, cho dầu ông có bị bộ hạ che giấu ông như họ quen thói làm. Tuy vậy, không vì thế mà quy tội ông Diệm nhằm tiêu diệt một tôn giáo đang thịnh hành ở Miền Tây. Phải phân biệt giáo phái Hòa Hảo với lực lượng võ trang Hòa Hảo chống đối chánh quyền.

Sự quyết tâm của chánh phủ Ngô Đình Diệm thanh toán bè phái Hòa Hảo cũng như Bình Xuyên và Cao Đài, hay bất cứ đảng phái nào khác, đều đã được cưu mang trước khi ông Diệm nắm chánh quyền. Từ lúc ông ôm ấp mộng tái diễn công trình của vua Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan 12 sứ quân thống nhứt đất nước, ông Diệm đã quyết không chấp nhận tình trạng lãnh chúa thống trị từng vùng theo mưu kế chia để trị của Thực Dân Pháp.

Đạo Hòa Hảo

Sau những lần đi làm phóng sự ở các tỉnh Miền Tây trở về đô thành, bạn bè hỏi tôi thấy người Hòa Hảo ra sao, họ có ăn thịt người không? Thêm thành ngữ “tin như tin Hòa Hảo” được thông dụng khắp nơi. Báo chí thời đó gần như không dám đá động gì tới hành động nào của Hòa Hảo, sau khi ông Trần Tấn Quốc chủ báo Tiếng Dội một lần thoát chết khi bị Hòa Hảo tấn công ngay tại tòa soạn.

Người dân quê Miền Tây hiền hòa như ở bất cứ nơi nào khác, một lòng chuộng an cư lạc nghiệp. Có một người nổi bật trong vùng Hòa Hảo, vừa sáng suốt vừa đức hạnh, nêu cao giáo lý nhà Phật, dân địa phương ùn ùn tôn phò làm người sáng lập đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Vị giáo chủ chính là Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ có tài nói ra thơ và như là lời sấm. Số tín đồ gia nhập kỷ lục trong một thời gian kỷ lục. Ông Huỳnh Phú Sổ mất vào đầu năm 1946, xác bị thủ tiêu tại kinh Đốc Vàng, lúc Hòa Hảo còn là một lực lượng chống Pháp. Đạo Hòa Hảo tiếp tục phát triển mạnh.

Trong số những người gia nhập có những tay anh chị hăng hái hoạt động, nhoi lên cấp lãnh đạo, như Năm Lửa, Hai Ngoán, Ba Cụt. Kế đến tôn giáo mới nầy gồm nhiều phe phái có khi chống đối nhau và bị chánh quyền Pháp ảnh hưởng nhuộm màu sắc chánh trị và quân sự.

Ông Năm Lửa được biết đến nhiều nhứt, tên thật là Trần Văn Soái chiếm giữ vùng Cần Thơ ngay tại ngưỡng cửa Miền Tây. Khi phái đoàn báo chí từ Saigon được mời xuống viếng thăm lần đầu tiên, ông Thành Nam làm Trưởng Ban Báo Chí cho ông Năm Lửa, tiếp đón chúng tôi tại Tổng Hành Dinh ở gần bến phà Cần Thơ, trấn an chúng tôi. Ở Saigon nghe ngán Hòa Hảo với cái tên Năm Lửa vốn là một tay anh chị đứng bến xe đò, song tôi không nghe dân địa phương ta thán gì về ông.

Hiện tại nhà trường Lập Nhơn do ông xây cất, có lộng hình tượng ông. Cũng ở sát sông Hậu, tại quận Bình Minh, ông còn lập một ngôi chợ đồ sộ với công trường có xây cổng lớn, gọi là Chợ Bà.

Cựu Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi có cho tôi biết ông Năm Lửa đã chi tiền cho ông Ngô Đình Diệm đi Hương Cảng năm 1946 gặp cựu hoàng Bảo Đại.

Tuy nhiên, dân Miền Tây khổ sở rất nhiều vì Hòa Hảo do những phe phái, có khi là chánh hiệu đảng cướp như đảng Cua Vàng, lợi dụng danh nghĩa tôn giáo nầy. Huỳnh Trung Hiếu, con nuôi của Huỳnh Công Cứng tung hoành vùng Hòa Hảo, An Giang, Tân Châu, Châu Đốc, Kiến An, đến năm 1964, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chiêu dụ phong cho chức Trung Tá. Một mình ông nầy làm chủ bốn cái biệt thự tại xã Hưng Nhân và có tới chín bà vợ ở chung một nhà.

Dân quê muốn yên thân phải cam chịu bị bóc lột triền miên. Giữa sân trước mỗi nhà có bàn Thiên là nơi bọn cướp lẻn về ban đêm, đặt giấy bắt buộc nạp tiền, nếu không, người nhà bị bắt cóc đòi chuộc cao.

Tướng Ba Cụt, tên thật Lê Quang Vinh, làm chủ miệt Thất Sơn, vùng quê Châu Đốc. Còn hùng cứ tỉnh Long Xuyên và thành thị Châu Đốc có Lâm Thành Nguyên, hổn danh Hai Ngoán, chuyên làm chủ ổ xổ đề khắp các chợ quận Châu Đốc.

Cảnh đón đường mãi lộ diễn ra rất quen mắt dọc theo các chặng đường, dưới hình thức các cổng gác có những “thùng Phước Thiện” đặt sẳn kế một bên. Xe cộ đi qua phải cúng tiền vô đó.

Lưa thưa số trí thức Hòa Hảo đều được làm lớn trong chánh phủ Miền Nam cho tới ngày thống nhứt đất nước 30/4/1975. Đầu tiên, ông Huỳnh Thanh Niệm được làm Bộ Trưởng trong những ngày đầu của chánh phủ Ngô Đình Diệm. Đến Đệ Nhị Cộng Hòa, ông Lê Quang Liêm gốc bưng biền, làm dân biểu và ông Lê Phước Sang làm nghị sĩ kiêm viện trưởng Viện Đại Học Hòa Hảo. Hai ông nầy không thuận thảo với nhau. Có lần ông Sang bị phục kích suýt bỏ mạng tại nhà ở đường Nguyễn Trải trên khoảng Ô Môn.

Đạo Hòa Hảo và Cao Đài thường bị bè cánh chánh trị thao tác và hay dùng quân sự hơn giáo lý làm lực lượng. Tại quê hương, chỉ có Miền Nam Việt Nam là cái nôi của tất cả các tôn giáo mới ra mắt trong thế kỷ 20, trong khi ngoài Bắc là nơi khai sinh hầu hết các đảng phái ở Việt Nam. Lý do xuất phát giống nhau của đảng và đạo nằm chung trong nguồn gốc chánh trị nhằm thay đổi cơ chế hiện hành.

Đạo dùng hình thức che giấu khéo léo, núp dưới sự thiêng liêng tín ngưỡng, còn đảng áp dụng lối hoạt động bí mật và dựa vào tình yêu nước và chí khí mà lấy lòng dân. Có thụ động hay chủ động đều có sự bắt bớ và ép buộc mà được coi là tự nguyện, và luôn luôn hàng lãnh đạo / cán bộ hưởng phần lợi để luôn luôn dân đen chịu nạn, có lắm là lượm được chút cơm rơi rớt, với danh tiếng chịu tử vì đạo hay làm anh hùng liệt sĩ.

Đạo Cao Đài

Một tôn giáo mới nữa, quan trọng hàng nhì ở Việt Nam là đạo Cao Đài, được tổ chức kiểm soát chặt chẽ hơn Hòa Hảo nhiều và văn hóa có trình độ cùng tư cách đứng đắn của tín hữu càng dễ thâu cảm tình hơn. Trong hàng chức sắc còn có giới trí thức đáng kính trọng như ông Tòa Phan Văn Thiết và học giả Hồ Hữu Tường.

Hình ảnh Cao Đài đầu tiên đập vào mắt tôi lúc tôi mới lên bốn năm tuổi, thấy một nhóm người mặc áo dài trắng rộng thùng thình đầu đội nón chóp lạ hơn mọi người khác, đi ngoài đường bị trẻ nít cùng lứa tuổi tôi chọc ghẹo đồng dao:

Cao Đài Thượng Đế
Mắc kế ông Hội Đồng Trung.

Ba tôi nạt la, còn mời mấy người ăn bận khác thường ấy vào nhà, nghe họ giảng đạo. Tín đồ Cao Đài rất sốt sắng truyền bá một tôn giáo nghe hợp lý, đặt trên căn bản mọi tôn giáo đều có cùng một nguyên lý. Từ đạo Do Thái đến đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Khổng, đạo Lão đều do một nguồn gốc Thượng Đế. Tiêu biểu bằng một con mắt thần thông và dùng bệ cao (Cao Đài) là nơi Tiên Phật thường nhóm đại hội, làm danh xưng gọi là đấng Chí Tôn.

Đạo Cao Đài được hình thành trong thập niên 1920. Khởi đầu có vài người thích cầu cơ tiếp xúc với giới khuất mặt, trước tiên là những thân nhân quá vãng rồi tình cờ được tiếp xúc với những Thần Thánh mà đạo Cao Đài đã nhận ba vị, là nhà cách mạng Trung Hoa Tôn Dật Tiên, nhà đại văn hào Pháp Victor Hugo và ông Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dùng lối cầu cơ đàm luận thơ văn với các bậc ấy. Sau còn tiếp nhận thẳng lời sấm dạy từ vị đại diện mà cũng chính là Thượng Đế.

Đại để cách chơi cơ thông dụng, tôi đã có lần đích thân tham dự năm 1955 tại nhà một cô bạn gái Bắc mới di cư vào Nam. Mọi người trong gia đình để cô nầy đứng gọi hồn lên nhập dễ dàng, nghe nói vì cô là trinh nữ, mặc dầu cô ta là người Công Giáo.

Cơ thường là một miếng ván đẽo từ gổ hòm và xoay cơ vào nửa đêm ngoài nghĩa địa mới linh nghiệm. Song chúng tôi chơi trong nhà và dùng một cái chén chung nhỏ làm cơ, vẫn hiệu quả đến mức tôi phát rùng mình. Cơ chạy trên một miếng giấy lớn có kẻ đủ 24 chữ cái, phía trên có ô ghi dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và thêm một ô tận góc mỗi bên, một bên đề CÓ một bên đề KHÔNG.

Ngồi xoay cơ đêm hôm ấy có cả thảy bốn người. Mỗi người đặt đầu ngón tay trỏ của mình trên đít cái chén chung lật ngược nằm giữa mảnh giấy. Cô thiếu nữ đốt ba cọng nhang khấn vái lâm râm xin có hồn thiêng nhập. Chỉ trong giây lát, cái chén rung lên và xoay, lôi kéo theo cả bốn ngón tay chúng tôi đang đặt nhẹ trên đít chén, đành cứ nương theo. Tôi thữ cố trì ngón tay ngược lại vẫn cảm nhận có lực kéo tới, tôi không còn nghi có một người trong nhóm điều khiển.

Là khách, tôi được nhường cho hỏi hồn trước, sau khi hồn đã chạy chữ cho biết tên hồn và nơi ở là Phi Châu. Chỉ hỏi thầm trong miệng nên những người xung quanh không thể biết tôi hỏi gì. Tôi có người anh thứ bảy là Lê Hồng Tiến mất tích năm 1945 trong chuyến đi ghe buôn muối từ Cần Giờ về Hốc Môn, nghi là bị Việt Minh thủ tiêu. Tôi thầm hỏi hồn: “Ai giết anh tôi ?” Cái chén xoay xoay kéo các ngón tay chúng tôi lần lượt thứ tự đi tới các chữ B Ì N H X U Y Ê N. Tôi rợn tóc gáy. Tuy đã bắt đầu ngán sợ việc huyền bí nầy, tôi cũng ráng hỏi thêm hồn: “Cô gái ngồi trước mặt tôi đây có sẽ là vợ tôi không?” Cái chén chung chạy một mạch thẳng qua góc phía có ô chữ KHÔNG. Tôi cố móc ngón tay rị cho qua phía bên chữ CÓ cũng bị kéo mạnh lại. Sau nầy tôi nghiên cứu về đồng bóng và tâm linh huyền bí, vẫn chưa tìm hiểu được rõ ràng mấy về việc chơi cơ nầy.

Người chơi cơ đầu tiên thành lập đạo Cao Đài là một viên chức của chánh phủ Nam Kỳ thuộc địa Pháp, tên Ngô Văn Chiêu. Ông tiếp xúc được với Thượng Đế tại đảo Phú Quốc nhưng nhường chức Giáo Tông cho ông Lê Văn Trung đang làm Hội Đồng Tư Vấn của chánh phủ Nam Kỳ, thường được gọi là ông Hội Đồng Trung, một tay mắt trong xã hội, để cho việc hoạt động tôn giáo khác Công Giáo không bị làm khó dễ dưới thời Pháp thuộc. Do đó, thời tôi còn nhỏ, người ta được biết đạo Cao Đài của ông Hội Đồng Trung.

Ông Phạm Công Tắc làm Giáo Tông kế tiếp cho đến thời chánh phủ Ngô Đình Diệm, cũng là một trong ba người đầu tiên sáng lập đạo Cao Đài.

—->Chương 37

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.