ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN….: Phần II (Văn Bia)

CHƯƠNG 40

Thời gian ở Rạch Giá, tôi đi chơi nhiều hơn làm phóng sự, ngoài việc viếng Minh Lương, một làng rất nhiều người Miên, cách Ngã Bảy không bao xa. Tại đây đặc biệt có hai ngôi mộ của hai ông Hội Đồng ở Rạch Giá xây dựng đứng và chôn đứng đâu mặt nhau, tuy cách xa.

Nghe nói sinh thời, hai ông bá hộ trưởng giả nầy mắng chửi nhau riết chưa đã, khi chết, ra lịnh con cháu chôn đứng để họ tiếp tục muôn đời trận đấu nguyền rủa xỉ vả nhau. Dai dẳng không thua Quốc Cộng.

Bãi biển Rạch Giá bùn dơ song có cù lao Hòn Tre ngoài khơi, bãi cát trắng sạch. Bỏ tiền ngồi ghe máy du ngoạn ra đó mặc tình bơi lội giỡn sóng. Xa hơn nữa có Hòn Rái. Còn Hòn Sỏi, Hòn Me, và Hòn Đất đặc biệt có Suối Lươn nước trong vắt.

Những ngày ở tỉnh cuối chót xa xôi của đất nước nầy cũng không vắng bóng dáng giai nhân. Lại là thuộc giới thượng lưu, tôi biết trước không thế nào vói tới mà vẫn thử vói, chỉ vì đây là loại thứ không hiền, lần đầu tiên trong đời tôi gặp.

Một nàng là em vợ của ông chủ rạp hát Văn Cầm ở Saigon và là bạn gái của công tử địa phương Bùi Quang Trinh, cháu ông Bùi Quang Đài chủ năm cái nhà máy xay lúa lớn nhứt tại chợ Rạch Giá. Tôi đi đó đi đây được khắp vùng Rạch Giá nhờ chàng công tử nầy chở Vespa, thấy dân trong vùng nể nang còn hơn chúng tôi ngồi xe limousine sang trọng. Khi dân cậu đi mà.

Hay tin có nhà báo tới viếng tỉnh nhà, anh Trinh tìm đến làm quen và đề nghị theo chơi với tôi suốt thời gian tôi ở lại đây. Tới nhà công tử, tôi ngộp vì đủ thứ máy móc anh trang bị cho hệ thống thu âm thanh và hình ảnh. Hình như trên thế giới lúc bấy giờ có sáng chế loại nào tối tân nhứt là anh đều sắm đủ.

Ở Tây Đô được khoái con mắt. Nơi tỉnh biển nầy được khoái khẩu. Tôi thường trực đóng đô tại một tiệm ăn ở bên hông chợ Rạch Giá, gần cầu Quây. Chủ quán chuyên môn lựa nấu cho tôi mỗi ngày đủ các loại món ăn cá khác nhau. Ông nói tôi ăn cả tháng cũng chưa đủ hết các loại cá Rạch Giá nầy đánh lưới được. Đã ơi là đã.

Càng đã hơn nữa, là được công tử Bùi Quang Trinh thuộc loại con nhà giàu nhất tỉnh chở đi chơi. Gặp thấy người đẹp nào cũng nghe kính cẩn thưa cậu răng rắc. Tôi đăm ra có ý nghĩ, giai nhân nể cậu thì tôi chỉ cần họ thương tôi, mới tính thử thời vận xem sao.

Tôi chấm một nàng. Rồi một nàng. Không dè nàng nào cũng không chỉ nể cậu mà là đều mết cậu hết ráo. Tên tuổi phóng viên không còn kí-lô nào trước bạc.. đông của công tử.

Tôi còn vỡ lẽ ra, công tử đi đâu cũng chở nhà báo như tôi theo, là chỉ cốt mượn hơi hám phóng viên làm một món trang sức nhỏ nhoi để giựt le với các em mà thôi. Nàng nào lỡ dại nhận món trang sức sống nhăn nầy thì mất tiêu hết các nữ trang quý giá của công tử ban tặng dài dài.

Biết thân phận người thua cuộc trước khi đụng độ, tôi đè bẹp lòng hậm hực xuống bằng cách tự nhủ hay tưởng tượng mình chỉ vì thương giai nhân mà hy sinh, không để họ bị thiệt thòi vì thương mình.

Rạch Giá không thể là đất dụng vỏ cua sắc (cái chiêu dê sắc đẹp), thì mình đi tham quan thứ vô cùng đẹp đẽ khác là trời xanh biển rộng mênh mông, sóng vỗ chập chùng. Tôi rời Rạch Giá lên ghe máy đi thăm cù lao Phú Quốc.

Hễ chỗ nào chưa đi mà có thể đi được là tôi mò tới. Làm phóng viên như chỉ chờ vào giờ chót mới quyết định chương trình cho mình. Và tự mình hoạch định, không bị ai kiểm soát. Làm như tôi là ông chủ vậy. Không có chuyện gì đáng viết thì không viết. Chẳng có sao.

Lần đầu tiên trong đời đi biển trên chiếc ghe nhỏ, gặp sóng gió thấy hành khách lăn lóc ói mửa, không biết thưởng thức cưỡi sóng như tôi, tôi lấy làm lạ sao họ đi thường ngày mà không khoái cảnh trời nước nổi dậy. Tàu cập bến quá sớm đối với tôi. Tôi muốn được lênh đênh trên biển thêm nhiều ngày nữa kìa.

Trước khi đặt chân đến, cảnh trí cù lao khác hẳn trong đầu óc tưởng tượng của tôi. Đất rộng thênh thang, nhà cửa san sát, chẳng thấy có gì khác đất liền. Thêm lúc bấy giờ có cả trăm ngàn tàn quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa xây cả một thành phố nhà lá dọc theo bờ biển, sống lúc nhúc trong đó.

Lính nầy của Tưởng Giới Thạch chạy trốn quân Trung Cộng của Mao Trạch Đông, tới biên giới Bắc Việt, tràn qua Việt Nam. Để tránh Trung Cộng đuổi theo gây chiến trận trên đất Đông Dương của Pháp mà Việt Nam là một phần, ngoài ra còn Cao Miên và Lào, Pháp áp dụng công pháp quốc tế, tước khí giới đám tàn quân, bắt đem giam hết ở Phú Quốc.

Thời nầy là khoảng năm 1949, Phú Quốc đối với Quốc Dân Đảng Tàu là đảo Guam của quân dân miền Nam Việt Nam được đưa tới tạm nương náu sau ngày 30 tháng Tư 1975. Được sống an toàn là phước lớn, lính Tàu giữ kỷ luật nghiêm túc, không gây rắc rối nào với dân chúng địa phương. Họ ở trong quân trại của họ, có cổng rào kỹ lưỡng. Không thấy lảng vảng bóng lính Tàu ngoài chợ búa hay xóm làng. Dân chúng cũng không được vào khu vực quân Tàu đóng.

Tôi được giấy phép đặc biệt vừa của Pháp vừa của chỉ huy trưởng Tàu mới được vào tham quan căn trại. Nhìn nhận họ tổ chức chu đáo, ngăn nắp, khiến tôi ngạc nhiên sao một quân đội trật tự được điều khiển khéo như vậy mà để thua Trung Cộng dễ dàng. Tôi nêu vấn đề nầy ra với một vị sĩ quan biết nói tiếng Pháp. Ông ta làm thông dịch viên hay liên lạc viên với quân đội Pháp đóng binh ở Phú Quốc. Ông ta vắn tắt giải thích:

– Người dân họ đều theo phía Mao Trạch Đông hết. Làm sao chúng tôi chống lại nổi.

Tôi tính nằm ì lại Phú Quốc để chực điều tra có vụ lính Tàu nào gây rắc rối là mình phanh phui lên mặt báo. Tôi nghĩ đám quân ô hợp tôi chứng kiến kéo tới Huế tước khí giới Nhựt Bổn hồi năm 1946, nay bại trận chắc còn phải tệ hại hơn, gây khổ cho dân mình không ít. Thử tưởng tượng cả trăm ngàn người đàn ông mà không có một người đàn bà. Ngày trở về quê hương mù mịt. Nổi khùng, làm bậy, không phải là chuyện hiếm lạ. Khác chủng tộc như quân đội Hoa Kỳ, khi rút lui khỏi Việt Nam cũng bỏ rơi lại khoảng 50,000 đứa con lai không cha.

Chọn đi Phú Quốc kỳ nầy là mong làm được phóng sự đặc sắc mới mẻ. Đề tài tôi trông đợi để viết, không có. Tôi không khác người xách cần câu đi nhằm vùng không có cá. Vậy thì kể như đi giải trí chơi thôi. Nhưng mà cũng có chuyện cá. Tôi thấy cách bờ biển không mấy xa có hàng cây cọc đóng dày như hàng rào bao kín, tưởng Quốc Dân Đảng Tàu sợ Trung Cộng tới mức cho là Mao Trạch Đông có thể mang tàu ngầm vào tấn công. Tôi nói giỡn chuyện nầy với viên sĩ quan thông ngôn, thì được biết đã có mấy anh Tàu bị cá mập ăn thịt, nên rào ngừa.

Trung Hoa Quốc Dân Đảng thương thuyết với Pháp, Hoa Kỳ và Quốc Tế cách nào không biết, mà sau đó toàn bộ tàn quân ở Phú Quốc được đưa về đảo Đài Loan là mảnh đất cuối cùng phe Tưởng Giới Thạch còn giữ được tới ngày nay. Lực lượng nầy tiếp tay xây dựng Đài Loan thành một quốc gia mới bên cạnh Trung Quốc khổng lồ. Dầu sao Quốc Dân Đảng Tàu cũng còn hơn phe Quốc Gia ở Việt Nam vì họ còn miếng đất cắm dùi, thành hình một nước độc lập hẳn hòi để được thở bầu không khí quốc gia và cần cù phát triển mạnh hơn nước Mẹ, thay vì tối ngày không làm gì hết, ngồi chửi đổng hay bàn chuyện viễn vông mơ mộng.

Người Trung Quốc sống ở hải ngoại, có kẻ theo phe Đại Lục (Trung Cộng), kẻ ngả về phía Đài Loan (Quốc Dân Đảng). Tại nhiều phố Tàu ở Mỹ, cờ xanh mặt trời Quốc Dân Đảng xen lẫn với cờ đỏ năm sao vàng Trung Cộng. Ai muốn treo cờ nào mặc thích. Không giống như người Việt hải ngoại, hai phe Trung Hoa Quốc Cộng che giấu, không để người xứ họ tạm dung thân thấy anh em một nước mình tương tàn, hằn hộc xung đột nhau. Quê hương họ có hai chánh quyền đối nghịch nhau. Họ vẫn chịu đội Trời chung, an cư lạc nghiệp nơi xứ người. Ai muốn theo phe nào mặc ý, nên không xảy ra chuyện chụp mũ hủy hoại tình đồng bào. Đảng phái họ cũng có tranh nhau khủng khiếp. Thỉnh thoảng có vụ thanh toán đẫm máu. Tuy nhiên, tuyệt đối họ không bôi nhọ lẫn nhau, bịa chuyện bịp bợm hạ cấp, làm trò cười cho người ngoại quốc, cho nước họ đang nương náu. Phe Tàu nào cũng đều hãnh diện về nước Trung Hoa đại lục của họ. Thể thống của một giống dân ở chỗ đó. Còn người Việt Nam?

Giống dân mình trong Bách Việt cũng gốc Tàu. Trong cuộc di cư lần lần xuống miền Nam, lai lệch với các sắc dân bán khai địa phương, không biết có phải người Việt mình bị ảnh hưởng của Nam Chiếu, Chiêm Thành, Chân Lạp hay không mà cá tính không còn được giống người Trung Hoa nữa.

Bảy năm sau cuộc thăm viếng Phú Quốc, số mạng cũng đưa đẩy tôi gặp lại đoàn Quốc Quân Trung Hoa nầy thêm một lần nữa, là lần thứ ba, khi tôi cùng trong phái đoàn ký giả Việt Nam được Tổng Thống Tưởng Giới Thạch mời viếng Đài Loan lúc Quốc Dân Đảng mới qua lập nghiệp khoảng 5 năm. Kiến trúc mới có dinh thự Tổng Thống ở Dương Minh San gần Đài Bắc và bảo tàng viện cất sâu giữa vùng núi để giữ những bảo vật lịch sử đem được từ Đại Lục qua. Hãng Tai Tung (Đại Đồng) mới mở, bắt đầu sản xuất những vật dụng sơ khởi như quạt máy, máy giặt, đều để xuất khẩu kiếm ngoại tệ, người dân không được mua dùng. Rượu và dầu thơm là hai loại xa xỉ đại phú còn chưa sắm nổi và gần như thuộc loại quốc cấm. Tôi có viếng qua cho biết xóm chị em tồi tàn, phản ảnh sự nghèo khó của dân mới di cư từ địa lục Trung Quốc. Cửa phòng che bằng những bao bố.

Mười năm sau (1965) tôi trở lại Đài Loan, kinh ngạc thấy sự thay đổi vượt bực. Những thành phố mới mọc lên như Đài Trung, nơi có hồ Trời Trăng (Nhật Nguyệt đàm) biến thành một trung tâm du lịch, dẫy đầy siêu thị tối tân một hai chục tầng lầu, chất đống đủ mọi mặt hàng. Những động tiên cửa địa đàng che bằng bao bố năm nào, nay đã biến thành lâu đài lộng lẫy năm sao cho du khách tới hưởng Nhứt Dạ Đế Vương.

Ngoài Đài Loan, Trung Hoa Quốc Dân Đảng còn làm chủ hai hòn đảo nhỏ Kim Môn và Mã Tổ nằm sát bên Đại Lục. Tôi phải ngồi máy bay đội nón sắt đi tham quan Kim Môn, nơi có ngôi nhà thờ và tượng vị anh hùng Trịnh Thành Công, một tướng Minh chống nhà Thanh, đã đánh đuổi ngoại xâm khỏi Đài Loan.

Lúc tôi đến, Kim Môn là địa đầu đang hứng chịu đại bác Trung Cộng bắn qua gần như hằng ngày. Từ Kim Môn thấy được dạng bờ biển Đại Lục. Người Trung Quốc hướng dẫn tôi nhìn qua mà buồn nhớ quê hương, thở than chớ không chửi rủa tục tĩu.

Suốt hai tuần lặn lội xục xạo từ Bắc chí Nam đảo Đài Loan, tiếp xúc với đủ mọi hạng người, mọi tầng lớp từ chánh quyền cao cấp đến báo chí, thương giới, dân dã ăn chơi, tôi không hề nghe được một tiếng nguyền rủa Trung Hoa Cộng Sản.

Hiện có thể ví những vùng đất tự do của Trung Hoa Quốc Gia với những mảnh đất tạm dung của người Việt hải ngoại ở Mỹ Châu, Âu Châu và Úc Châu. Đảo lớn Đài Loan của Việt kiều là Mỹ và Canada. Hai đảo Kim Môn và Mả Tổ là Âu Châu và Úc Châu. Dân lưu vong nơi nào cũng cam phận sống lâu dài nhưng mỗi nơi cách khác nhau.

Trở lại hòn đảo lớn nhứt của quê hương Việt Nam mình, có hình dáng một củ khoai giống như Đài Loan, là Phú Quốc. Thủ phủ là Dương Đông, nơi tôi đã đặt chân tới. Còn hai thị trấn nhỏ hơn là Hàm Ninh nằm ở bờ biển phía bên kia cù lao, chia cách bởi một rặng núi lớn, và An Thới ở cuối phía Nam. Tôi cũng muốn đi tới cho biết, nhưng nghe nói có du kích Việt Minh hoạt động trong vùng núi, nên thôi. Tôi không ngờ một miền đất xa xôi hẻo lánh của quê hương như cù lao Phú Quốc cũng có Kháng Chiến hiện diện.

Viên chức Pháp khuyên tôi chỉ nên ở lại Dương Đông. Ông ta đưa tôi đến giới thiệu với một chức sắc trong làng là ông Cả Khá. Chắc cũng nhờ được giới thiệu là nhà báo mà tôi được tiếp đón nồng hậu. Cả hai ông bà ân cần mời mọc tôi ở nghỉ lại tại nhà họ, không cần đi kiếm chỗ ở nào khác theo ý tôi ngỏ. Mà tôi đã đi quanh chợ chẳng thấy có khách sạn nào.

Tôi nhớ hoài sự quan tâm của bà Cả Khá, không phải chỉ ở chỗ lo săn sóc tôi từng món ăn thức uống, mà tối lại, bà giăng mùng lót nệm kỹ lưỡng xong, còn xịt thêm rất nhiều dầu thơm đến mức gần thấm ướt hết mền gối. Không phải bà sợ tôi đái dầm xông mùi khai. Bà lo tôi hửi không nổi cái mùi nồng nặc xông ra từ nhà thùng cất sát bên hông nhà.

Nhà thùng, ở miệt Phan Thiết gọi là nhà lều, là nhà hay hãng làm nước mắm. Những thùng gỗ tròn, lớn gần bằng căn nhà, và cao tới sà nhà, sắp dọc từng dãy dài trong nhà thùng. Cá sống được gánh đem đổ trong các thùng cây đó. Cứ một lớp cá tiếp một lớp muối, đổ cho tới gần đầy. Cả tháng, cá lần hồi thúi rục trong những thùng đó. Gần dưới đáy thùng có đục lỗ cho nước cá trong đó nhỉ ra chảy xuống đồ hứng. Đợt nước đầu gọi là nước mắm nhỉ, thứ thượng hạng. Màu lợt lạt không đậm như nước mắm bán ngoài thị trường đã bỏ thêm màu.

Dĩ nhiên mùi cá thúi xông ra cả mấy trăm thước còn nồng nặc. Bà Cả Khá có đổ cả chai dầu thơm ra cũng không át nổi mùi đó. Khách mới tới chịu không được, trong khi người địa phương quen mũi không nghe gì cả. Giai nhân Dương Đông ướp mùi đặc biệt của địa phương như người đẹp Bình Dương tẩm mùi sầu riêng và mít tố nữ, hay gái ruộng Đồng Tháp thoang thoảng đượm mùi bùn từ dưới hoa sen xông lên.

Nhắc tới Phú Quốc, ngoài nhớ mùi nước mắm, còn có những sản phẩm làm bằng đồi mồi là mu của một loại rùa có vân như cẩm thạch màu vàng sậm và nâu lẫn lộn. Hầu hết sản phẩm đồi mồi là nữ trang và vật dụng cho phụ nữ dùng và chưng diện như quạt, hộp đựng đồ trang điểm và nữ trang, hộp đựng thuốc hút, lược cài, trâm, kẹp, vòng tay, cà rá, v.v…

Tôi chọn mua hai món mắc tiền là cây quạt xếp và hộp trang điểm, trở về Rạch Giá mang tới tặng cô em vợ của ông chủ rạp Văn Cầm và cũng là bạn gái của công tử Bùi Quang Trinh. Sau đó, tôi còn theo công tử trở lại nhà nàng chơi, liếc thấy hai món quà tôi hao tốn khá nhiều tiền nằm lăn lóc trong tủ kiếng, quá nhỏ nhoi khiêm nhường lẫn lộn trong đống quà biếu đắt giá của công tử, cảm thấy thua kém quá xá quà xa. Phải chi tôi sắm nguyên con đồi mồi bự vác về cho nàng thì nàng có một cái mu… đồi mồi thật to treo trong phòng khách giống Thẩm Thúy Hằng có cái mu vĩ đại như vậy chưng bày trong nhà nàng.

Nghĩ lại, tôi bậy bạ quá chừng. Người đáng được tôi tặng quà phải là bà Cả Khá đã cho tôi tá túc những ngày êm ả sống tại Dương Đông. Còn bao nhiêu người khác nữa, tôi đã từng chịu ơn ăn nhờ ở đậu tại tất cả những nơi tôi từng đi qua trong đời làm phóng viên của tôi. Tôi nhớ không hề có đền ơn cho ai cả, dầu là một món quà mọn.

Sau nầy, nhiều người bạn mới làm quen, cũng như những bạn thâm niên, tỏ vẻ ngạc nhiên về sự hiếu khách của tôi, thấy tôi sao ân cần nồng hậu tiếp đón bạn bè nào cũng đều như họ là những người ơn của mình. Họ đâu có biết đó là tôi đang trả nợ. Khi không có cách nào đền ơn những người đã giúp mình thì mình thi ơn cho người khác, cũng là đồng loại, đồng bào nhau cả. Cho đời đẹp. Cho đời vui.

Rời Phú Quốc, không trở về bằng đường biển cũ, tôi dùng ghe máy đi tới hải cảng Kép của Cao Miên, sau nầy đổi lại tên là Sihanoukville. Từ đó theo đường bộ trở về biên giới Việt Nam vô đất Hà Tiên, ghé thăm Thạch Động là một hòn đá vĩ đại đứng sững tại đầu một đồi núi nhỏ. Bên trong Thạch Động trống lỗng thành một cái hang trang trí làm chùa thờ Phật.

Thơ mộng hơn các thành phố khác ở miền Nam, Hà Tiên nằm dọc theo bờ nửa sông hồ nửa biển đối diện với một dảy núi sừng sững phía bên kia bờ. Sông hồ và núi non đều mang tên văn chương lịch sử Đông Hồ và dảy núi Tô Châu.

Người Trung Hoa của triều đại bị lật đổ, đã chạy thoát thân tới lập nghiệp ở luôn nơi nầy. Vị tướng cầm đầu là Mạc Cửu có công xây dựng Hà Tiên, được dân địa phương cất đền thờ tại đây.

Vì cái nạn tru di tam tộc của Tàu và Việt Nam đời xưa giết sạch dòng họ liên tiếp ba thế hệ cha, con và cháu của phe mất quyền hay phản nghịch lại vua chúa đương quyền, các gia đình trực tiếp và cả bà con dòng họ ba đời muốn còn sống sót chỉ có hai cách. Một là làm như nhóm Mạc Cửu của Tàu, vượt biên di cư xuống tận cùng đất Việt Nam chưa khai phá, sanh sống đến đời con cháu, mất gốc, trở thành người Việt chúng ta. Nhóm họ Lý của nước ta, sau khi bị nhà Trần soán ngôi, phải chạy thục mạng, vượt biên đi tuốt lên chót vót đất Tàu là xứ Cao Ly (Triều Tiên, sau nầy là Bắc Hàn và Nam Hàn), lập nghiệp sáp nhập thành dân địa phương luôn, dòng dõi còn giữ tên họ Lý.

Cách thứ hai, là làm như tổ tiên trong dòng họ của tôi, mà vì quá giữ kín đáo bí mật, quyết tận diệt quá khứ, làm tôi không có cách nào truy ra chính xác được tông tích tôi là con cháu của Tây Sơn hay Nguyễn Hữu Chỉnh, hoặc là hậu duệ của tên tử tội nào hồi thời triều Nguyễn.

Từ lúc còn nhỏ, tôi đã nhiều lần cố lập gia phả, hỏi thăm cha mẹ và chú bác tôi. Người nào cũng ấm ớ trả lời làm như quên mất gốc hết trơn. Nghi họ cố giấu giếm, tôi lập kế nói với bác Ba tôi là người ưa tiết lộ chuyện đời, là tôi có nghe ông nội nói mình ở miền Trung nào đó vô mà. Sau khi hỏi dằn ông nội tôi có nói thiệt với tôi như vậy sao, bác tôi dọa là nguy hiểm lắm vì triều Nhà Nguyễn vẫn còn nắm quyền, mình chỉ biết mình là họ Lê mặc dầu tổ tiên mang khác họ thật. Bác tôi khuyên đừng tìm hiểu thêm dễ mang họa.

Ít ra tôi đã biết được một điều chắc chắn là tôi không phải họ Lê, nên sau nầy không tiếc chút nào khi quăng họ Lê chừa lại Văn Bia ký tên dưới các bài báo. Tôi cũng biết mình không phải là dòng giống ông vua Ngọa Triều Lê Long Đĩnh. Hèn chi tôi làm việc đầu tắt mặt tối, không khi nào có thì giờ nằm nghỉ, ngoài ngủ tối.

Còn về nguồn gốc Công Giáo của tôi, tôi thắc mắc muốn biết tại sao tôi thuộc Thiên Chúa giáo trong khi đa số đồng bào của tôi đều giữ đạo Phật hoặc đạo Thờ Ông Bà hay đạo Khổng Mạnh đã gần được coi như quốc giáo. Ở Huế có đàn Nam Giao là một khu đất vuông rộng nhiều mẫu có vách đá thấp lè tè bao chung quanh. Cứ mỗi bốn năm, nhà vua đến đó khai mạc quốc lễ, tế Nam Giao thật linh đình sau mấy ngày ăn chay nằm đất. Trong thời Pháp đô hộ, Việt Nam vẫn tổ chức lễ Tế Nam Giao. Trường dòng Chúa Cứu Thế của tôi cũng theo các trường khác, kéo tới dự lễ. Giống như hằng năm, đến ngày lễ Vạn Thọ là sinh nhựt của Hoàng Đế Bảo Đại, tất cả học sinh lũ lượt cầm cờ Long Tinh diễn hành qua trước cửa Ngọ Môn, tới chúc mừng nhà vua ra ngự tại Phú Vân Lâu, trong tiếng hoan hô ”Vạn thọ! Vạn thọ!” vang trời của chúng tôi.

Cho mãi tới cuối thế kỷ rồi, tín đồ Thiên Chúa giáo còn phân rõ rệt hai loại, đạo dòng và đạo theo. Đồng bào sanh ra bởi cha mẹ không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo gốc, hoặc chịu rửa tội trở lại đạo nầy mới có một vài đời, thì bị kể là người đạo theo. Người đạo gốc là loại người có tổ tiên Công Giáo sẵn từ hồi nào trước.

Vùng Tân Qui, Lái Thiêu và Búng, trước kia là rừng hoang đầm lầy bưng biền, còn Bà Trà Tân Khánh sát ranh Búng là rừng chồi đất gò. Thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức bắt bớ đạo Thiên Chúa, các ông cố giảng đạo và các tín đồ tân tòng cùng với những kẻ bị liệt kê vào hàng tử tội, kéo tới ẩn trốn an toàn tại những nơi ấy.

Hình như tổ tiên của tôi thuộc trong nhóm sau, không di Nam vì tôn giáo. Chắc đến đó rồi họ mới theo đạo, nhập chung vào cộng đồng lưu vong, cùng ở lại lập nghiệp luôn. Trong dòng dõi tôi còn sót lại một thiểu số người lương, là người không có đạo. Chắc tổ tiên bà con xa của tôi đó cũng đã nghĩ như các vua chúa bắt bớ đạo, cho là Thiên Chúa giáo của ngoại lai phương Tây, là tà đạo, phản quốc.

Trước đây, con cháu người đạo dòng mới được chọn học làm cha. Vì tình hình trong nước lúc ấy bất ổn, các tu sinh được đưa qua cù lao Pénang (Mã Lai) ở phía biển Ấn Độ Dương, nơi có cơ sở tu viện quy mô của Thiên Chúa giáo. Năm 1966, vợ chồng tôi du lịch đảo Pénang, có đến viếng vùng lịch sử đó nằm ngay giữa thành phố.

Các cố đạo dùng ghe bầu của thương nhân theo đường biển qua lại đảo Pénang rất thường. Sầu riêng, măng cụt là hai loại cây trái đặc sản của Lái Thiêu và Tân Qui, do các cố đạo lấy hột từ Mã Lai đem về gây giống lần đầu tiên trên đất Việt Nam. Cuộc khai phá khởi đầu dọc theo hai bên bờ sông Saigon, đi lần sâu vào trong bưng. Trước hết trồng lúa, rồi xẻ rạch xẻ mương lên đất lập vườn tược. Sau khi đã thành ruộng vườn, cọp, sấu, cà tông còn xuất hiện bắt heo, chó, gà vịt. Hồi nhỏ tôi còn nghe nói thỉnh thoảng có cọp về trong bưng.

Ông bà tôi là đợt đầu tiên di cư từ Bắc vào Nam. Đến năm 1954, di dân từ Bắc ào ạt vào lần thứ hai, lập nghiệp tại Hố Nai (Biên Hòa), lúc đó cũng còn có cọp. Giữa hai cuộc di Nam lịch sử ấy, người Việt ngoài Bắc không ngừng vào Nam sinh nhai, với những lần Pháp mộ dân làm lao công trong các đồn điền cao su.

Đợt Nam tiến thứ ba là năm 1975 Bắc quân ào ạt vào kết thúc cuộc nội chiến Bắc Nam hay Quốc Cộng. Cuộc Nam tiến nầy tiếp tục kéo dài cho đén bây giờ, không phải chỉ vì miền Nam đất đai phì nhiêu rộng rãi và đất Bắc chật hẹp đông người, mà còn vì quá nhiều người Miền Nam bỏ đi ngoại quốc, cơ sở sự nghiệp bỏ lại chủ mới hưởng.

bando_vn
Việt Nam giữ được phần đất gạch màu sậm cho đến ngày Phảp đầu hàng rút lui và đất nước chia đôi

—->Chương 41

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.