ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN….: Phần II (Văn Bia)

CHƯƠNG 41

Pháp đại bại ở Điện Biên Phủ. Tôi cũng bị thiệt hại nặng nề trong nghề làm báo vì trận Điện Biên Phủ.

Cả hai lực lượng Pháp và Việt Nam đang gườm nhau chơi trận trống mái quyết định. Tình hình trong nước lại một lần nữa bắt đầu biến chuyển lớn trước khi kết thúc ngày tàn của Pháp ở Việt Nam, cùng một lượt ngày tàn của phóng viên Văn Bia ở báo Thần Chung.

Đầu năm 1953, quân đội Việt Minh tràn vào Cánh Đồng Chum tiến chiếm làng Điện Biên Phủ gần biên giới Lào và làm như muốn nhắm thẳng tới kinh đô Lào là Luang Prabang. Pháp lật đật tái chiếm Điện Biên Phủ và lo củng cố căn cứ đó để chận đứng đường tiến quân của Việt Minh, không dè mắc kế địch chọn lựa chiến địa nầy.

Trong suốt nửa năm trời sau đó, cả hai phe đều ào ạt đổ quân tới. Pháp biến làng Điện Biên rộng gần 60 dặm vuông, thành một pháo đài bất khả chiếm, có sân bay và ba căn cứ pháo binh yểm trợ. Việt Minh kéo hằng trăm ngàn quân từ các vùng xa xôi đi một hai tháng mới tới vùng rừng núi bao vây chung quanh.

Pháp cho phóng viên báo chí theo các chuyến bay tiếp tế hoặc máy bay các tướng tá đến viếng. Phóng viên của Newsweek là Francois Sully cũng viết cho báo Thần Chung, tới quan sát, trở về nói với ông Nam Đình một cách quả quyết, căn cứ Điện Biên Phủ rất an toàn, imprenable (bất khả chiếm), song cô Cẩm Vân lúc đầu ngán không dám đi, tôi mới được dịp tính là nổi tiếng lần chót trước khi rời Thần Chung như tôi dự định.

Khi được báo máy bay sắp hạ cánh, nhìn thấy các cơ sở quân sự Pháp phía dưới nằm gọn lỏn trong lòng chảo minh mông có núi rừng trùng điệp tứ phía, tôi hoảng sợ, ví ngay căn cứ là một cù lao nằm giữa biển cả minh mông có thể chứa đầy Việt Minh như cá mặc sức tung hoành bao quanh.

Tôi được đưa lên xe jeep chở đi coi các đài pháo binh hùng hậu xây cất cách xa căn cứ. Vị tướng chỉ huy là De Castries dùng tên các cô bồ của ông đặt cho mỗi pháo đài. Tôi thích chí, nói nếu tôi thì cũng đặt đồn nầy là Ngọc Anh, đồn kia là Thu Tâm (Cần Thơ, chớ Thu Tâm Cao Lãnh báo Tiếng Dội lúc đó tôi chưa quen), còn đồn xa tít phía Nam là Xuân Lan. Tôi nghĩ rồi đồn nào cũng tiêu tùng như những giai nhân lần hồi tôi bị mất hết tuốt luốt. Chỉ gấp rút kịp dự một bữa ăn rồi theo phi cơ tiếp tế bay trở về, khỏi ở lại đêm.

Tôi về nói với ông Nam Đình, tôi không nghĩ như Francois Sully là Điện Biên Phủ bất khả chiếm. Ông bảo vậy thì để Sully viết. Vài hôm sau, Francois Sully đi một lần nữa đến Điện Biên Phủ, dẫn cô Cẩm Vân theo. Sau đó, liên tiếp nhiều bài tường thuật về Điện Biên Phủ được đăng trên báo Thần Chung dưới ký tên Cẩm Vân. Cô càng được nổi tiếng, dĩ nhiên. Và tôi đã lặng lẽ rút lui theo dự tính, qua viết cho báo Tiếng Dội.

Còn cả nửa năm nữa Điện Biên Phủ mới thất thủ và cuộc thương thuyết ở Paris diễn tiến dằng dai trước khi kết thúc bằng Hiệp Định Genève 54. Thời gian ngắn ngủi làm ở báo Tiếng Dội thật bận rộn vì tôi cố sức hoạt động để cốt chứng tỏ tên tuổi phóng viên Văn Bia ở ngoài Thần Chung vẫn không lu mờ.

Tôi đã lầm lẫn khi bỏ báo lớn đi làm phóng viên cho báo nhỏ. Tờ báo nhỏ bị thua thiệt thấy rõ. Bấy giờ tôi mới nhận thức ảnh hưởng của một tờ báo lớn và cái may mắn mình đã được làm trong Thần Chung, nhờ đó được nhiều người biết tiếng, nổi danh mau lẹ. Cô đào hay anh kép nào bỏ một gánh hát lớn chạy qua đoàn nhỏ, dầu vì lý do gì, cũng mang tâm trạng tiêng tiếc giống y tôi lúc đó.

Khi báo chí được mời tham dự bất cứ dịp nào, từ vụ nhỏ nhặt thông thường như khánh thành nầy nọ, khai trương triển lãm, kỷ niệm lễ lạt, mừng sinh nhựt chánh khách to, đám cưới con ông lớn, v.v…, đến đình đám, kinh lý, ngay cả xuất ngoại tham quan, các tờ báo lớn được chiếu cố mời mọc trước nhứt và đầy đủ.

Lúc làm Thần Chung, ông Nam Đình dự tiệc không xuể, trao thiệp cho tôi đi ăn mệt nghỉ. Mỗi cuộc tiếp tân là một dịp tạo thêm quen biết, càng giao thiệp rộng càng thiết lập thêm cơ sở thâu lượm tin tức đặc biệt cần thiết cho một phóng viên.

Hoàn cảnh thua thiệt khích động xây mộng lập thành tích. Tôi nghĩ tờ báo Tiếng Dội sao lại không thể từ nhỏ phát triển mạnh lên như Thần Chung. Ông Trần Tấn Quốc và ông Nam Đình xuất thân phóng viên ngang cơ nhau. Tờ Tiếng Dội của ông Quốc có sẵn lá bài ăn trong tay, đang có được cây viết thể thao vô địch là Thiệu Võ, ông Nam Đình rất thèm thuồng. Độc giả say mê túc cầu càng ngày càng đông đảo, chờ đón đọc bài tường thuật của Thiệu Võ mà thôi. Nay có tôi là thêm lá bài cho Tiếng Dội thắng.

Trần Tấn Quốc chấp nhận tức khắc đề nghị của tôi thiết lập phòng tối tại tòa soạn cho tôi có thể rửa hình ngay, để lên mặt báo sớm hơn các báo khác. Điểm nầy ăn đứt cả Thần Chung đúng như tôi dự đoán. Tuy tốn kém, hình ảnh được độc giả hoan nghinh rõ rệt, chứng tỏ phần nào giá trị một tấm hình bằng nghìn chữ viết. Anh Hai Dầu chủ Cliché Dầu nhìn nhận tôi khơi động phong trào nhựt báo in hình ảnh, giúp phát triển ngành làm bản kẽm một sớm một chiều.

Ở Thần Chung, bài nào tôi viết xong, thường được hối hả đưa thẳng cho thợ sắp chữ, tổng thơ ký hay chủ báo không có thì giờ để đọc lại. Ông Nam Đình không hề sửa bài tôi viết, trong khi ông Trần Tấn Quốc chịu khó đọc qua và thêm bớt vài chữ hay một câu, thấy bài gọn hẳn rõ rệt. Tôi đặt tin tưởng thành thạo nghề ở đây, cố sức đưa tờ Tiếng Dội lên không thua Thần Chung.

Máu ham cạnh tranh nầy, tôi luôn luôn sẵn có trong huyết quản. Sau khi bị báo Tiếng Chuông sa thải và không đầu quân vào tờ báo nào ở miền Nam được nữa vì đã bị ngoại trưởng Trần Văn Lắm trù, bẻ gãy ngòi viết, tôi tạm giải nghệ làm báo, nhảy vào thương trường, mở nhà thuốc Tây tại Chợ Búng (Lái Thiêu), lúc đó đã có sẵn hai nhà thuốc rồi là Minh Nhựt và Hiệp Hòa. Sanh sau đẻ muộn lại kém vốn, tôi phải dùng chước mới cạnh tranh nổi.

Tôi chọn nghề bán thuốc Tây vì thấy anh Hai tôi mở tiệm Trữ Âu Dược ở Lái Thiêu có vài năm mà đã khá khẳm. Từ ngày theo lời kêu gọi bất hợp tác với Pháp, anh tôi bỏ chỗ làm công chức ngon lành trong trường Petrus Ký, lận đận suốt cả chục năm trường, đạp xe đi bán Mytox cho ông Huỳnh Văn Mỹ và bỏ mối xà bông giặt đồ cho các đồng nghiệp cũ. Bạn bè làm ở Petrus Ký thương mến anh, mua giúp. Hơn một lần, họ khuyên anh trở lại trường, sống lại đời công chức cho an nhàn. Anh tôi cương quyết giữ vững lập trường bất hợp tác với Pháp, quyết lòng đứng trong hàng ngũ ”trùm chăn”, chịu sống nhiều năm kham khổ.

Lúc anh tôi mở tiệm cũng sau người ta và yếu vốn, mượn thêm tiền của tôi, làm phóng viên mà cũng dư khá, không phải nhờ làm tiền hay ăn hối lộ, mà nhờ lương cao và tiện tặn không tiêu xài. Anh tôi đặt tên hiệu nhà thuốc là LÊ HỒNG là tên dòng họ tôi. Tất cả anh em trai gái nhà họ Lê của tôi đều có chữ lót HỒNG. Chỉ có một mình tôi lót chữ VĂN mới có chuyện mang bút hiệu VĂN BIA. Đáng lẽ tên tôi phải là Lê Hồng Bia và như vậy bút hiệu tôi cũng phải là HỒNG BIA nghe đỏ quá cỡ.

Không rõ có phải do số mạng hay không mà khi khai sanh tôi, ba tôi vắng mặt, chú Sáu tôi lên làng khai thế, dùng chữ lót thông thường là VĂN. Chữ BIA thì không thể quên mà khai sai được vì ba tôi đã đặt sẵn trước tên con cái theo câu ”Chung Thủy Phú Toàn Tiến Phúc Bia”.

Tôi vẫn chuộng tên họ Lê Hồng, nên dùng làm tên hiệu cho các cơ sở làm ăn của tôi: nhà thuốc Tây Lê Hồng ở Chợ Búng, trại chăn nuôi Lê Hồng, nông trại Lê Hồng ở Thuận Giao và đồn điền Lê Hồng ở Đà Lạt. Nay ở Hoa Kỳ có thêm Lê Hồng xuất bản cuốn Hồi Ký nầy.

Vốn ít, tiệm nhỏ, phải cố gây ấn tượng đầy đủ thuốc, tạo tin tưởng cho khách hàng. Nhiều tháng trước ngày khai trương, tôi dặn anh tôi để dành lại tất cả những vỏ hộp thuốc không. Nhà thuốc có thói quen khui bán lẻ gần như hầu hết các loại thuốc. Ngay cả thuốc nước, nhiều người muốn mua uống thử vài liều thôi. Chiều theo ý khách hàng vừa giữ được mối vừa kiếm lời nhiều hơn.

Ngày khai trương, các tủ thuốc chưng đầy nhóc đủ loại, thấy thật xôm tụ. Ai nấy trầm trồ nhà thuốc tôi lớn, chứa đủ nhiều các thứ thuốc quá. Thật ra, mỗi thứ chỉ có một vài hộp hay chai bán được, kỳ dư đều là hộp trống không của anh tôi đã để dành cho.

Vì chỉ đủ vốn mua vài món cho mỗi loại, khi có liên tiếp khách hàng mua trùng một loại thuốc là tiệm sạch bách thứ đó, tôi phải ba chân bốn cẳng đạp xe đạp sáu cây số xuống nhà thuốc của anh tôi ở Lái Thiêu bổ hàng tốc hành. Lúc đầu, có ngày tôi phải cong lưng chạy vù vù ba bốn tua (tour = vòng, lần), để em tôi đứng bán thuốc phụ, dùng ba tấc lưỡi cầm khách chờ đợi. Sức tôi vẫn còn thừa thãi như hồi đi tu, đi Khu, hay đi làm phóng viên.

Không đầy hai năm sau, nhà thuốc của tôi, lúc đầu thật sự chỉ là tiệm Trữ Âu Dược, sau có mướn dược sĩ Nguyễn Thị Lan Anh, kế đó đến cô dược sĩ Trần Ngọc Nhan, mới đúng danh nhà thuốc Tây, nhảy vọt lên thành nhà thuốc lớn nhứt trong vùng. Lúc làm báo Tiếng Dội, tôi cũng đã tin tưởng sớm muộn tờ báo nầy sẽ vọt lên đứng hàng đầu.

Tiếc thay, không đầy một năm sau, tôi phải rời Tiếng Dội vì quyết định phải khuất xa Thu Tâm. Tuy vậy, trong khoảng mấy tháng hợp tác ngắn ngủi, báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc cũng đã có dịp đưa tên tuổi Văn Bia lên rầm rộ.

—->Chương 42

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.