ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN….: Phần II (Văn Bia)

CHƯƠNG 42

Hạng ký giả viết tuyên truyền cho bè phái của mình, vì sinh kế hay vì lý tưởng cũng vậy, đều khó được sự kính trọng của đại chúng và dễ gì được lưu danh, ngoại trừ họ có văn tài xuất chúng. Muốn giữ cây viết mình có giá trị, phóng viên phải vô tư, không thiên tả thiên hữu hoặc làm điềm chỉ viên cho chế độ hay phe phái nào.

Nhiều dịp làm việc chung với Francois Sully hoặc gặp nhau trong khi hành nghề, tôi học được lối viết vô tư thuần túy thông tin của ký giả nầy. Bài tôi viết không hề để lộ óc bài ngoại, tuy trong lòng, nỗi căm hờn cứ gia tăng sôi sục vì Pháp hết cướp nước tôi, đến sát hại Ngọc Anh yêu thương của tôi. Rồi khi nghề cầm viết vừa lên, nhờ được chút tiếng tăm gợi được sự chú ý, tôi vừa tưởng đã chiếm được một người đẹp tuyệt vời, thì lại ngỡ ngàng biết mình đã bị Pháp hớt giựt trước tôi rồi.

Đó là một đóa hoa hiếm từ Cao Lãnh tôi gặp lúc làm trong tờ báo Tiếng Dội. Thân hình mảnh mai luôn luôn trong chiếc áo dài đơn giản thay đổi màu chớ không hề có bông hoa sặc sỡ. Nét mặt và dáng dấp kiều diễm với búi tóc nhỏ lẳng lơ sau ót. Nàng ngồi bên cạnh quản lý, nơi bàn viết kê ngay tại cửa bước vào tòa soạn. Mọi người từ khách tới nhân viên đi vào văn phòng đều phải ngang qua người đẹp. Vậy mà sau mấy tháng làm việc ở đó, tôi chưa để ý tới nàng, cho đến khi có người làm mai mối. Đúng hơn, tôi không muốn lưu ý đến một giai nhân đang có nhiều đàn ông săn đón. Nào là anh quản lý, nào là các ký giả trẻ, nhứt là mấy anh phóng viên thể thao kịch trường. Đặc biệt sốt sắng đeo dính là ký giả “tuổi trẻ tài cao” Nguyễn Ang Ca.

Không thấy phận mình gối rơm, cũng phải thấy cuộc chạy đua cam go. Nếu lúc đó có thi chấm điểm thì chắc chắn tôi giựt giải về ăn mặc lượm thượm lết phết và có thể được lãnh vô địch về hôi rình. Ăn cơm tiệm quanh năm. Mỗi tuần thay đồ và tắm rửa có một vài lần. Có phải vì quen thói từ hồi còn ở tu trong nhà dòng, và ngay cả lúc ở trong Khu, mỗi tuần thay đồ và tắm có một lần. Sau nầy nghĩ lại, tôi không ngờ mình đã có một thời ở dơ quá. Thời đó cũng là lúc tôi thường tiếp xúc với ông Ngô Đình Diệm.

Không ai lưu ý tôi về việc vệ sinh, ngoại trừ anh Năm Đáng đã thường uống xây chừng (ly cà phê nhỏ) với tôi. Anh làm bồi cho nhà cô nữ sinh đài trang ở chợ Bà Chiểu tôi có nhắc qua trong Hồi Ký nầy. Anh hỏi tôi có đồ giặt đưa anh giặt ủi cho. Từ trước tôi tự giặt lấy, không hề bỏ tiệm, bây giờ thuận để anh kiếm thêm chút tiền, đồng thời tạo dịp cho tôi tiếp xúc thường xuyên với đường dây thông tin mặt trận tình đầu của tôi. Anh nhắc khéo khi trao đồ sạch lại cho tôi:

– Cổ áo thầy dơ quá, tôi chà thiếu điều rách cũng chưa trắng nổi.

Thế mà con chồn hôi là tôi được tuyển chọn. Bất ngờ, một hôm, Tổng Thơ Ký báo Tiếng Dội là ông Lê Văn Thử bút hiệu Việt Tha, trong làng báo rất quen thuộc với hỗn danh Chuột Tha (chữ Nho ” thử ” có nghĩa là chuột), rủ tôi chiều Chúa Nhựt lại nhà ông già Thu Tâm nhậu chơi.

Tôi coi đó là một cuộc rủ ren thường, thỉnh thoảng xảy ra nên chẳng mấy quan tâm và bỏ qua. Song sáng Thứ Hai vào tòa báo, ông Việt Tha nhằn tôi tận mạng, nói người ta làm bữa cơm thịnh soạn đông người như ăn tiệc mà không có tôi tới dự. Tôi trả lời qua loa là không kỳ nầy thì còn dịp khác.

Dịp khác lại tiếp liền vào ngày Chúa Nhựt kế. Tôi không còn thoái thoát được. Tới nơi thấy cảnh giống y như ông Việt Tha đã tả tuần rồi. Một bàn tròn lớn ê hề thức ăn có đông đảo người lớn, quần áo chỉnh tề, ngồi xoay quanh. Tôi được trịnh trọng úp mở giới thiệu như là một chú rể tương lai.

Lại lỡ leo lên lưng cọp nữa, tôi nghĩ thầm. Phải nhìn nhận tôi đã đóng vai khá chỉnh, không chút dấu hiệu phản đối. Thấy rõ tôi là nhân vật chánh trong bàn tiệc, quan khách xúm nhau chất vấn tôi về cái nghề phóng viên. Ba của Thu Tâm hỏi thăm nom nhiều hơn hết, sâu vào chi tiết và tỏ vẻ lo ngại cho an ninh của tôi những lúc tôi đi đến các vùng quận lỵ xa xôi điều tra bắt hạm.

Tôi chưa kịp dứt điều chỉnh lại nhận xét đây chắc không phải là lễ coi mắt hay dạm hỏi, mà là những người ái mộ nghề nghiệp phóng viên tổ chức bữa cơm thết đãi tôi thôi, thì lúc bước ra ngoài, từ giả về, má Thu Tâm, hai tay nắm chặt lấy bàn tay tôi, run rẩy nói những lời trìu mến, tôi không nghe rõ nhưng rất hiểu ý nghĩa. Tôi có cảm giác nhận được tình thương yêu thực sự tha thiết chuyền từ đôi bàn tay của bà qua tôi.

Khi ra về chung với nhau, ông Việt Tha thốt lên câu tôi đã biết quá:

– Hai ông bà chấm mầy làm rể rồi đó.

Tôi có chịu làm hay không là chuyện khác. Mà sự thật, dại gì không chịu. Nàng đẹp hơn tất cả những người con gái tôi đã biết, trừ Ngọc Anh của tôi trong bưng biền đã chết vì giặc Pháp. Hơn nữa, bao chàng ký giả đang thèm thuồng được như tôi.

Ngay từ sau bữa tiệc trình diện, tôi đã như thuộc trong gia đình của Thu Tâm. Tôi và nàng thân mật như đã quen biết từ lâu, tuy ở tòa soạn thì vẫn gần như không hề trao đổi lời hoặc cử chỉ nào.

Nàng nổi tiếng không cười, ít nói, làm thinh làm việc. Bữa chiều nào muốn đi chơi với tôi, nàng đợi lúc tôi đi ngang qua bàn, xẹt cho tôi một miếng giấy nhỏ nàng có viết vắn tắt mấy chữ như: ” Chiều nay có tuồng Chiếc Lá Vàng hay lắm, đi không? ” Y như kiểu ông Diệm thường viết nhắn tin tôi. Chỉ có khác là không có ghi thêm hàng chữ ” coi rồi đốt đi ”, nên cả chục năm sau tôi còn lưu giữ mấy mẫu giấy ấy của Thu Tâm, làm kỷ niệm.

Trong đời có dịp quen thân với khá nhiều phụ nữ, tôi để ý những người đàn bà đẹp họ giống nhau ở điểm ít nói. Bà Trần Lệ Xuân, vợ ông Ngô Đình Nhu, là trường hợp khác biệt. Bà nầy gặp tôi, hay chí chóe, tôi nghe thiếu điều không muốn kịp.

Nhớ trong những ngày đầu Ngô Đình Diệm về chấp chánh, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh còn nắm binh quyền, ra mặt chống đối, chưa chịu rút lui, và đài phát thanh ngạo mạn ra rả những luận điệu tuyên truyền bôi bẩn Thủ Tướng Ngô Đình Diệm như:

Nực cười cho họ Ngô Đình
Trai không có vợ mượn tình em dâu

Đó là giới chánh trị họ xâu xé nhau. Ông Diệm muốn biết trong dân gian nghĩ gì. Tôi đeo dính theo ông Nam Đình, tin là sẽ nắm được tình hình đích xác vì cô Cẩm Vân, con ông, là bồ của tướng Hinh. Ông Nam Đình nói ông Diệm tiêu tùng, người dân chỉ biết theo phe nào thắng thôi.

banhu_lethuy
Bà Ngô Đình Nhu nhũ danh Trần Thị Lệ Xuân và ái nữ Ngô Đình Lệ Thủy năm 1963

Lúc đó Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ở dinh Gia Long, chung với cựu Thủ Tướng Bửu Lộc. Tôi đi đâu cũng vận quân phục ngừa bị bắt lính. Một lần vô dinh Gia Long, như thường lệ do ngả cửa bên hông có bàn viết của đổng lý văn phòng Thủ Tướng, tôi đi thẳng tới giữa dinh, vừa bước vài tam cấp lên lầu thì gặp ông Bửu Lộc từ trên đi xuống hỏi:

– Anh lính nầy đi đâu vậy?

Tôi trở lại ngả cửa hông nói cho anh chánh văn phòng biết sự việc. Anh mới cho tôi hay ông Bửu Lộc không muốn anh em mình đi lung tung trong dinh.

Thấy giản tiện nhứt là tới gặp ông Ngô Đình Nhu còn ở nhà phía sau dưỡng đường Thánh Phê-rô. Tôi vừa mở miệng nói cho ông Nhu nghe chuyện ông Hinh tiết lộ với Cẩm Vân là sẽ chống đối ông Diệm tới kỳ cùng, thì bà Nhu ong óng lên, xổ một tràng lời giận dữ, trong đó tôi còn nhớ có câu:

– Ừ, để coi cái thằng Hinh nó dám làm cái gì không. Thách nó đó. Thách nó đó.

Bà nầy tôi ưa không vô mà người ta đồn ông Diệm mê thì hết nói. Tôi không dám quả quyết Ngô Đình Diệm phải bực mình về cái nết của bà em dâu, vì chưa bắt gặp lần nào. Tuy nhiên, nhớ những lần tôi phải xách cơm tới ăn với ông, tôi có thể luận ông Diệm có ngại ăn nhờ gia đình người em trong những trường hợp nào đó. Và còn lý do tại sao ban đêm ông Diệm không qua nhà ông Nhu dùng cầu tiêu mà phải đi tiểu tiện ngoài hàng rào.

Nếu tôi không bận rộn vì nghề nghiệp và nếu tôi sốt sắng đề nghị thường trực lo cơm nước cho ông Diệm thì chắc ông nhận lời tôi. Ông Nhu trầm ngâm lặng lẽ, ăn nói chậm rãi bao nhiêu thì bà vợ ngược hẳn lại bấy nhiêu.

Bỏ bà Nhu, trở lại tiếp chuyện người đẹp tôi đang tìm hiểu để chắc có thể trở thành người vợ tương lai. Tôi chở nàng về chơi trong vườn sầu riêng nhà tôi ở Hốc Môn, nhân tiện giới thiệu nàng với ba má tôi, không gặp trở ngại hoặc phản đối.

Nàng là người mẫu tuyệt vời cho tôi chụp hình tại nhiều nơi thắng cảnh. Thường nhứt ở tại bến đò Lái-Thiêu, nơi có cây dừa nằm nghiêng ngả bên bờ sông Cái.

Mỗi ngày tôi như được xô đẩy thêm gần Thu Tâm hơn. Tôi vẫn còn ngại đi chơi một mình với nàng vào buổi tối. Chị Sáu nàng dè dặt hơn vì đã có gia đình, còn chị Bảy thường nhận lời tôi mời đi ăn chung với chúng tôi, song lần nào cũng kiếm cách rút lui sớm để một mình chúng tôi tiếp tục đi chơi khuya.

Biết mình bị lùa vô vòng, song chiếc vòng đẹp như cầu vồng ngũ sắc. Tôi khoái chuyện trò trong khi nàng thích hành động hơn nói. Sau lần cùng ngồi xem tuồng cải lương hay xi-nê tôi không nhớ rõ, nàng kéo bàn tay tôi đặt vào giữa bắp vế nàng rồi lấy vạt áo dài, hôm đó màu vàng, phủ lên trên. Tôi nghĩ nàng phải là vợ tôi mà thôi.

Từ trước giờ tôi chưa hề sàm sỡ với người nữ nào ngoài gái ăn sương. Sáng hôm sau, tôi đến tiệm vàng Alfana ở đường Catinat đặt làm một chiếc kiềng vàng y đúng một lượng, tuần sau mang đến nhà tặng nàng. Nàng luôn luôn mặc áo dài mà có chiếc kiềng vàng trên cổ xinh xắn thì tuyệt.

Tôi tính chưa thể tặng nhẫn đính hôn vì còn nhiều điểm thắc mắc về nàng. Tánh quá dễ dãi, sự giao tiếp với những đàn ông khác tôi nghi có liên hệ sâu đậm, như với anh quản lý mà có một lần tôi bắt gặp chị Bảy nàng viết thơ cho anh ta, yêu cầu anh đừng khuấy phá hạnh phúc của em nàng. Hình như anh quản lý cố tình để tôi đọc được bức thơ đó.

Có một lần tôi đang ở chơi tối tại nhà nàng thì anh ta lái xe Vespa tới, thản nhiên nói ông chủ báo Trần Tấn Quốc cần cô thơ ký đến tòa soạn làm việc gì đó, nhờ anh ta tới rước. Tôi nhớ khi Thu Tâm và Ba nàng không giấu được vẻ lính quýnh thì thái độ tỉnh bơ của tôi lúc ấy giúp họ trấn tĩnh lại. Nàng không sửa soạn, giữ nguyên chiếc áo bà ba đang mặc, ra đi. Kể ra đêm đó ai nấy đều đóng vai rất đạt. Ba Thu Tâm còn căn dặn nàng lo làm xong về sớm.

Đầu óc phóng viên của tôi làm việc, nghi anh chàng quản lý chơi trò quăng một hòn đá được hai mục tiêu. Một là nhắc khéo tôi đừng hòng ca câu chiến thắng, nếu được cũng chỉ là kẻ đến sau. Hai là lưu ý cho tôi thấy anh ta chở tới cho ông chủ báo đấy. Tôi thì không thấy chở cho chủ báo mà là chính chở cho anh ta, còn cố tình khiêu khích tôi chơi.

Nghĩ sai người chiếm hữu nàng, là một thất bại to tát nhứt trong nghề nghiệp điều tra của tôi.

Con đường phóng viên kiêm nhiếp ảnh viên thênh thang của tôi xuyên qua không biết bao nhiêu khu vườn dẫy đầy bông hoa xinh thắm, từ trời Đông sang trời Tây, từ Bắc xuống Nam. Tôi sẽ có dịp đưa các bạn từ từ đi thăm lại. Tuy nhiên, cặp bồ đi chơi khơi khơi không phải là tư cách tôi muốn xây dựng cho con người của tôi. Càng không nên nếu chỉ sâu đậm vào đường tình ái mà không tính tiến xa hơn. Tai tiếng là những vết tiền án không bao giờ xóa khỏi bản lý lịch của đời mình. Thời gian tìm hiểu, nếu cần, cũng cần có giới hạn.

Đây là lần đầu tiên tôi đã tính tới chuyện quan trọng trong đời tôi là lấy vợ. Và Thu Tâm là người tôi định chọn. Sự giao thiệp của nàng với đàn ông, cũng như tánh nết nàng thì tôi biết rõ như biết rõ sắc đẹp của nàng tuyệt vời. Đóa hoa quá đẹp quyến rũ quá nhiều ong bướm. Việc tất yếu là qui định căn bản hầu tạo được một môi trường thích hợp cho sự vững bền và hạnh phúc của gia đình tương lai chúng tôi.

Thu Tâm không một chút do dự chấp thuận đề nghị của tôi đưa nàng vào một khách sạn kín đáo khá sang ở Chợ Lớn để bàn chuyện quan hệ của hai đứa. Hành động của tôi có toan tính. Tôi vừa thử bài toán thấy trúng phóc. Tôi đã dự định sẵn trong đầu óc, gặp trường hợp nàng bất mãn về đề nghị sỗ sàng của tôi, tôi sẽ giải thích việc tiếp bạn gái ở khách sạn quá quen thuộc đối với tôi, một người rày đây mai đó không nhà cửa. Như hồi làm báo Thần Chung, có biết bao nhiêu nữ sinh đến gặp tôi trong khách sạn Tây Hồ ở Cần Thơ. Có một cô tên Thu Tâm như nàng cũng đã vô đó thăm tôi.

Tuy nhiên, với một thiếu nữ nào khác, ý kiến chọn một địa điểm như thế có thể là một sỉ nhục. Song tôi nhận xét không lầm về Thu Tâm. Bây giờ tới phiên tôi không được quyền lường gạt Thu Tâm. Nàng sẽ về với tôi không còn trinh nguyên. Nhưng việc đó đối với tôi không thành vấn đề. Tôi có cách coi nàng còn nguyên thủy trong sạch. Nên tôi mạnh dạn đưa nàng vào khách sạn.

Hình như nàng chờ đợi việc vợ chồng, cởi đồ ra. Tôi cũng làm theo nàng, nằm song song nhau trên giường. Và tôi bắt đầu nói với tất cả sự thành thật của lòng tôi.

Tôi giải thích cho nàng biết trong đạo Công Giáo của tôi có Phép Giải Tội. Khi mình đã phạm tội gì cho dầu có nặng đến đâu mà mình ăn năn hối lỗi, chịu xưng tội đó ra, thì được trong trắng trở lại.

Tôi nói những lời dưới đây mà bây giờ còn nhớ để viết y lại, thấy tôi vừa quá tàn nhẫn vừa quá độc tài đê tiện, bắt người mình yêu làm chuyện phi lý, chỉ cốt thỏa mãn tánh kiêu căng hèn hạ của một thằng đàn ông. Tôi vô cùng xấu hổ, nhưng vì tự hứa ghi lại tất cả những tội lỗi của mình, mong cho con cháu đừng ngu dại như tôi. Lúc đó lại còn cho mình có sáng kiến quá hay ho, biết “rửa tội” cho người ta. Cho nên tôi ghi lại những lời ngu xuẩn của tôi như chịu hình phạt để tạ tội với người tình xưa đã quá cố:

– Em ơi! Mình phải trong sạch trước khi thành vợ chồng với nhau. Anh muốn em về với anh hoàn toàn trinh trắng, không còn dính chút vết dĩ vãng nào làm anh buồn và gây em tủi. Em làm được việc tẩy rửa quá khứ nầy bằng cách chính miệng em khai nhận đã có người nào đi qua đời em trước anh.

Nàng im lặng, không nói năng gì. Tôi thúc hối mấy lượt như tay sát thủ thọc lia lịa lưỡi dao bén nhọn vào bờ tim nàng. Sau một hồi ngần ngừ tội nghiệp, Thu Tâm van xin:

– Cho em đánh vần tên thôi, được hông?

Bằng chứng tình yêu thật quá vĩ đại Thu Tâm ban phát cho tôi, nàng mới có đủ can đảm nghĩ ra cách đẩy cho tôi hiếp dâm cả linh hồn hay tâm trí thiên thần của nàng. Lúc đó tôi không biết tôi là thằng khốn nạn mới phải nhận lãnh bản tử hình tình yêu ngay tại trận.

Tôi mất ngang Thu Tâm, không bao giờ được gặp lại nàng lần nào nữa, từ phút giây nàng đánh vần xong 9 chữ:

– C H A I L L A R D.

Nếu Thu Tâm đánh vần ra một tên Việt Nam như Nguyễn Ang Ca, Đặng Văn Nhâm hay Quốc Phượng, hoặc tên anh quản lý, thì còn may phước cho tôi biết mấy. Tôi sẽ không mất Thu Tâm, dầu đã có đốn mạt hành hạ nàng trước khi được hưởng.

Trong đời tôi chỉ gạt gẩm có một người; nạn nhân duy nhứt bị tôi thất hứa đó là Thu Tâm. Thật ra, khi tức khắc ngồi chồm dậy mặc quần áo vào, không tiến hành khởi sự làm chuyện vợ chồng như đã dự định, tôi chỉ khất khứa (nguyên văn):

– Anh còn cần một thời gian nữa mới được.

Thật tình tôi chưa hẳn quyết định tuyệt tình với nàng vì còn trông mong tháng ngày trôi qua có thể sớm muộn bôi xóa hận lòng vừa mới bất ngờ xảy đến.

Ngày hôm sau, Thu Tâm không có đến tòa soạn làm việc. Tôi tới nhà tìm nàng. Nàng không ra tiếp, để đứa em gái mang một hộp giấy vuông dẹp trao cho tôi, nói:

– Chị Tám em gởi cái nầy cho anh.

Tôi cầm lấy nghe nặng nặng, biết là có đựng chiếc kiềng vàng tôi mới tặng Thu Tâm hôm nào làm vật đính hôn nên vội quăng trả liền xuống bộ ván trước mặt, nói:

– Quà nầy đã tặng cho chị Tám em, không còn thuộc về anh nữa.

Tôi bỏ ra về ngay, sực nhớ câu tôi vừa nói là lập lại giống như câu của Ngọc Anh đã đáp khi tôi ngỏ ý đền lại chiếc nhẩn đính hôn “Nó đã thuộc về của anh rồi mà”, và nghĩ: “Lại thêm một người yêu lý tưởng nữa sẽ không bao giờ thuộc về mình.”

Khi từ chối sự hiến thân của nàng, Thu Tâm biết chắc không bao giờ tôi còn có thể chung sống được với kẻ đã có ngủ với người thù dân tộc. Tuy nàng đã phân bua nàng thất trinh trong trường hợp đáng thương. Anh chàng Tây lai nhà ở kế vách tòa soạn báo Tiếng Dội thỉnh thoảng rủ nàng qua chơi; một hôm nàng bị ép uống rượu và bị phá trinh ngay tại trên lầu.

Lòng thù Pháp một cách quá khích của tôi lúc ấy đã làm tôi mất Thu Tâm không chút nuối tiếc. Sau nầy nghĩ lại tiếc ơi là tiếc, đồng thời thấy mình đã phạm một lầm lỗi không tha thứ được. Từ tuổi ấu thơ, tôi không được ai dạy cho lòng yêu nước đúng nghĩa chân chính cho nên tôi mới đã có từ hành động hẹp hòi nhỏ nhen nầy tới ý nghĩ lệch lạc quá khích khác. Lòng ái quốc của tuổi trẻ thường mù quáng thành ra dễ bị lợi dụng khai thác biết bao. Bất cứ đảng phái hay tôn giáo nào cũng đều nhắm vào giới trẻ tuổi là như vậy.

Việc ông Việt Tha cố tình làm mai cho tôi một cách gần như trắng trợn, đã đưa ra nhiều nghi vấn cho tôi. Trên đường tình mờ mắt không sáng suốt bằng trên đường nghề nghiệp, tôi đã chủ quan đoán sai xa lắc. Cũng tại ông Trần Tấn Quốc quá già giặn tay tổ trong nghề, ngụy trang tinh vi mối tình vụng trộm, che mắt được phóng viên có tiếng là tài ba của ông.

Vừa nhận vào làm cho báo Tiếng Dội, tôi muốn gì được nấy. Tôi ước có một phòng tối để rửa in cấp tốc hình ảnh ngay tại tòa soạn, ông Quốc đặt cho thợ làm liền tại phía sau bếp, gần bồn nước. Do đó tôi rất thường có mặt trong nhà hai vợ chồng Trần Tấn Quốc ở ngay tại tòa soạn. Có khi tôi ở đêm để rửa hình đặc biệt giờ chót. Gia đình vợ chồng Quốc thấy êm ấm, có một bé gái khoảng mười tuổi rất dễ thương và trổ tài như mẹ rất sớm, đã vừa diễn vừa ca rành rạch những bài vọng cổ khoe với tôi.

Sau nầy tôi mới rõ lý do sốt sắng làm mai của ông Việt Tha là để cứu vãn hạnh phúc gia đình của ông Trần Tấn Quốc và bà Thanh Loan. Nhưng không kịp. Cuộc hôn nhân của tôi với Thu Tâm bất thành, nàng sa vào vòng tay ông chủ báo Trần Tấn Quốc. Bà Trần Tấn Quốc tức là nghệ sĩ Thanh Loan, buồn gia đình, bỏ đi Khu. Sau ngày 30 tháng Tư 1975, bà trở về với chức bí thư của bà Bộ Trưởng Nguyễn Thị Bình.

Vợ chồng Trần Tấn Quốc Thu Tâm sống mặn nồng hạnh phúc đặc biệt, mới có việc ông Quốc trối dặn chôn chung một mả, nằm chồng lên trên vợ. Thu Tâm bất thình lình chết trước ông, đang lúc đi chợ ở Bình Hòa gần nhà.

Cuộc đời ngắn ngủi của giai nhân kể ra quá đẹp đẽ như con người tuyệt vời của nàng. Anh xin lỗi Thu Tâm. Em tha thứ cho anh sự khờ dại của tuổi trẻ. Nếu được em bây giờ, như anh đang được người bạn đời, anh chỉ đơn giản dùng tình yêu gội rửa trôi tan dĩ vãng, cho dầu dĩ vãng kề cận hôm qua, hay mới hồi sáng. Tình yêu là lòng bao dung.

Khi chọn vợ, tôi không còn nhắm vào nhan sắc, nghĩ trên cõi trần gian nầy không còn ai đẹp bằng hai người tôi đã liên tiếp mất là chiến sĩ tóc dài Ngọc Anh và cô thơ ký Thu Tâm. Tôi cũng không biết ”làm sao cắt nghĩa được tình yêu”. Một hôm có một cô nữ sinh trường Trịnh Hoài Đức ở Chợ Búng ghé vô nhà thuốc Tây của tôi hỏi mua một hộp thuốc Calcium. Rồi sau đó, cứ khoảng một tháng cô ta vô mua một lần cũng thứ thuốc đó.

Tôi chiếp (nhắm) cô ta hồi nào không hay, trong số đông đảo nữ sinh đồng lớp, sắp đẹp ngang ngửa, toàn là người đẹp Bình Dương chánh gốc mà. Có những nàng mái tóc buông dài phủ mông như chiến sĩ tóc dài Ngọc Anh của tôi. Song không nàng tiên Trịnh Hoài Đức nào tạo hấp dẫn ngoài cô nữ sinh nghiêm trang, hà tiện lời nói, đã thôi miên tôi.

Được biết nàng mua thuốc cho người cô Năm bịnh lao phổi cần uống đều đều thêm chất vôi. Một tháng tiếp xúc có một lần thấy lâu lắc khổ sở quá. Ngày ngày nàng đi học bằng xe đạp, lượn qua lượn lại trước nhà thuốc của tôi hai lần, như trêu gợi. Tôi nghĩ kế buộc nàng phải ghé tiệm tôi mua đồ thường xuyên.

Tại góc đầu Chợ Búng ngay quốc lộ 13 có phòng Thông Tin nhỏ của xã. Tôi đề nghị với Ủy Ban Hành Chánh cho tôi cất tặng một phòng Thông Tin to lớn tại phía đầu kia chợ, trước văn phòng xã, bù lại nhường cho tôi phòng nhỏ cũ kia. Xã chấp nhận, tôi bỏ tiền ra xây phòng Thông Tin mới, đập phá phòng cũ để trơ lại miếng đất chéo hẹp té. Ai cũng nói tôi làm một cuộc đổi chác ngu dại.

Tôi xây lại trên đó một căn lầu cho đủ trên trữ dưới bán thuốc Tây, thêm vài quầy làm tiệm sách và bán dụng cụ học sinh. Địa thế ngay đầu chợ và đầu đường thì tôi chấm đúng, không ông thầy địa lý nào hơn tôi được.

Con mồi tôi nhử, bước vào tiệm tôi đúng ngay ngày đầu khai trương. Nàng hỏi mua cuốn Luận Án Kim Vân Kiều. Tôi gói kèm theo cuốn Truyện Kiều với luôn vài tờ giấy bao sách, để hôm sau nàng phải trở lại hỏi sao nàng mua có một cuốn mà ra đủ thứ vậy. Tôi ú ớ trả lời vậy vậy, ngày khai trương mà.

Y chang theo tính toán, bán dụng cụ học sinh thường dùng, nhứt định cô nữ sinh viếng tiệm tôi mỗi tháng hơn một lần thay vì chỉ có mua thuốc không thôi. Vậy mà còn phải cả ”ba năm ròng rã đón săn tìm” nữa (câu trong bài thơ Ngàn Trang Nhựt Ký của tôi). Cua đào khơi khơi chơi thì quá dễ, mà cua cho được người mình chọn làm vợ, thật trần ai khoai củ. Không khác gì một trận chiến cam go dằng dai.

Để chiến thắng, tôi mở nhiều mặt trận bao vây. Xung quanh chỗ nàng ở là những nhà giàu hoặc khá giả. Phía ngoài đường là biệt thự của ông Bộ Trưởng Lâm Lễ Trinh. Kế là mấy mẫu vườn măng cụt của chú Bảy Kiệt, xen kẽ bởi một khu vườn của phú gia khác do anh Bảy Chơi cất chòi ở trông coi. Tôi mượn điểm tựa chòi nầy xuất phát loại hành quân trên không khí. Những bản nhạc Buồn Nhớ Quê Hương, Trăng Mờ Bên Suối, Tiếng Sáo Thiên Thai, Dư Âm, Biệt Ly, Nhớ Chiến Khu, v.v.., tôi bỏ ra không biết bao nhiêu công sức tập dượt thổi sáo, để chiều chiều tới chòi anh Bảy Chơi, đem vũ khí nầy ra phát pháo. Sau đó, nhờ anh Bảy Chơi thám thính coi kết quả tác xạ âm thanh của tôi ra sao. Ngày nầy qua tháng nọ không thấy có gì cả. Đến khi xáp lá cà, trực diện, tôi có tọc mạch hỏi chiều chiều nàng có nghe tiếng sáo không? Nàng đáp gọn lỏn: ”Có nghe khỉ gì đâu”. Thêm một khí giới vô hiệu.

Tôi mở nhiều trận thế chận ví khác. Lựa giờ nàng đi học, tôi canh giờ đi bổ hàng mua thuốc làm sao tới khoảng khúc quẹo Cầu Ngang là gặp xe đạp nàng vừa tới, ngó gặp được mắt nàng liếc là như trúng số (tại ngay chỗ quẹo thì ngó thẳng là thành liếc mình chớ gì).

Tôi còn chơi chiêu xây đồn lập ải, mua một miếng vườn trái cây trước trường Cộng Đồng gần trường Trịnh Hoài Đức. Giờ nàng đi học là lúc tôi lên săn sóc mảnh vườn, giao tiệm cho người em gái trông coi. Hằng trăm nữ sinh lướt qua mà tôi chỉ thấy có nàng và chờ nàng đạp xe đi ngang qua ải của tôi thôi.

Sáu chục bạn học cùng lớp nàng, tôi đã quen ít nhứt hơn phân nửa, trong khi tôi chưa quen được trực tiếp với nàng ngoài lúc nàng tới mua đồ. Có đứa bạn nàng cho biết nàng là học trò cưng của giáo sư Việt văn. Đứa khác úp mở nói coi chừng đã có thầy dạy Toán chấm cô ta rồi. Cho dầu tôi khéo léo kín đáo điều tra tế nhị lắm, bạn học nàng bắt đầu báo động nàng sao ông chủ nhà thuốc Tây cứ hỏi thăm tới nàng. Nàng chỉ trả lời là bà con mà. Tôi cho phản ứng kiểu vậy là dấu hiệu tốt, cứ kiên trì chờ đợi và táo bạo tới nhà làm quen với cha mẹ nàng trước, kế nàng sau. Bà con mà. Trong khi cứ lo canh chừng không để cho ai phỗng tay trên thì chính tôi lại phỗng tay trên của nhiều người.

Tiếng đàn giọng huyễn không nao núng được, còn khoe tài khoe của thì tôi biết chắc càng thất bại thảm thương đối với hạng gái khó mua chuộc như nàng. Ngày quyết định nạp ” résumé ” cho cô ta, tôi đọc (nói) lên:

– Tuy tôi hiện đã có được chút đỉnh cơ ngơi nên mới nghĩ đến chuyện lập gia đình. Song tôi dư biết của cải có nhiều bao nhiêu đều có thể tiêu tan trong chốc lát vì thiên tai hay xui xẻo nào đó. (Tôi xè bàn tay tôi ra, nói tiếp). Tôi chỉ tin tưởng nơi bàn tay nầy của tôi. Ngày nào tôi có bị trắng tay, bàn tay nầy vẫn lập lại sự nghiệp được.

Tôi không nói phét. Hai chục năm sau trốn ra khỏi quê hương với hai bàn tay trắng, tôi đã lập lại được sự nghiệp, mua đất đai nhà cửa hai ba cái, tuy phải bắt đầu từ đi rửa chén, lau chùi cầu tiêu ở xứ người.

Người vợ sắp cưới của tôi đã tin tôi, song còn phải vượt qua bao nhiêu trở ngại trước khi chúng tôi được thành hôn.

Trước tiên, má tôi bảo cho bà biết coi người tôi chọn là ai. Dọc đường chở má tôi đi vào giờ bổ hàng của tôi cũng là giờ nàng đi học, cũng tới khoảng Cầu Ngang, tôi chỉ cho má tôi cô nữ sinh áo dài trắng đang đạp xe máy, nói:

– Con dâu tương lai của má đó.

Má tôi la tôi quá Trời:

– Hổng được đâu. Bậy bạ nè. Người ta còn con nít đi học.

Miệng lưỡi tôi mà, làm sao chịu thua má tôi:

– Nàng đã 16 tuổi rồi đó, Má. Đã có mấy chỗ người ta dòm ngó. Để trễ là bị cuỗm mất.

Má tôi làm thinh, về âm thầm sưu tra lý lịch nàng, vài hôm sau la hoảng lên:

– Oan gia rồi! Oan gia tới nơi rồi! Trời đất ơi!

Má tôi nói nàng là hòn máu rơi của ba tôi. Mẹ của phóng viên bị lây nghề điều tra hồi nào không biết mà nói cũng xém trúng. Bồ xưa của ba tôi không phải là mẹ nàng mà là cô Năm của nàng, chính là người mang bịnh lao nàng thường đi mua thuốc giùm.

Chuyện tình của ba tôi còn lâm ly hơn tôi gấp mấy. Trong dòng họ tôi, con hơn cha về phương diện học vấn, chớ về mặt đào hoa đều thua xa. Các con tôi cứ mãi lo giỏi giắn trong học hành và sự nghiệp, không có đứa nào qua mặt tôi trong địa hạt cua đào. Tôi thua ba tôi cũng là do có cùng một thứ gi-ên (gene).

Ba tôi say mê cô Năm của nàng thuộc hàng quốc sắc. Ông nội nàng không chịu gả con gái cho ba tôi chỉ vì lý do ông nội tôi bợm nhậu, thì ba tôi lén dắt nàng đi lập tổ uyên ương ở Thủ Đức. Cô Năm nàng bị bắt về. Mái tóc dài phết gót của giai nhân bị chẻ ra làm đôi, cột rịt vào một gốc cau. Người cha khắc nghiệt đánh đập người tình của Ba tôi nát bấy cả chục ngọn roi mây, chưa đã nư, còn đòi cột đá vào cổ đem quăng xuống sông. Bà nội nàng khóc lóc van lạy, cô Năm nàng mới thoát chết.

Nửa thế kỷ sau, người vợ tương lai của tôi, khi tới thăm hay mang thuốc tới cho cô Năm của nàng, thường gặp một ông lão già lụm khụm chống gậy đi ba cây số từ Búng theo đường rầy xe lửa xuống Bình Nhâm thăm người tình cũ cho tới ngày cố nhân giã biệt cõi đời. Hai người suốt ngày kề bên nhau. Bịnh nhân nằm, thầy thuốc ngồi. Nghe gọi nhau bằng Thầy Tư và Cô Năm dịu dàng êm ái. Tình quá đẹp vẫn còn dang dở. Má tôi là người đến sau song còn đó, ba tôi không thể rước cố nhân về, như ngày nào đã dắt nàng đi lập tổ uyên ương ở xứ nổi tiếng làm nem. Nay hai người đã gặp lại nhau ở cõi Trên, tôi xin vui mừng chúc phúc.

Thôi, trở lại chuyện tình mới bắt đầu của chúng tôi. Mong suốt đời giữ được tình tứ như ba tôi với cô Năm nàng.

Khi làng xóm nghe phong phanh hoa khôi Trịnh Hoài Đức sẽ về tay ông chủ nhà thuốc Tây Lê Hồng cũng là ký giả Văn Bia, ôi thôi tin bất lợi cho tôi ào ào ngập lỗ tai cha mẹ nàng. Người ta báo có thấy một cô mang bụng thè lè đang ở trong nhà tôi. Tin nầy đúng. Cô gái trẻ đẹp nầy tên Hồng Mỹ, cũng lứa tuổi vợ tương lai tôi. Một đồng nghiệp của tôi làm ở báo Tiếng Chuông là Quốc Phượng, tức Thanh Vân, bị Công An bắt giam đúng vào lúc cô bồ anh ta mang bầu, không dám gởi về cha mẹ ở nhà, cũng không biết đem giấu đâu, mới nhờ tôi nuôi giúp. Tôi để cô ta ở trong một căn phố của tôi tại chợ Lái Thiêu.

Chuyện nữa. Cô Sáu của ý trung nhân tôi chạy qua nhà nàng cho hay chính chị dâu thứ Hai của tôi là người có bà con bên nàng và cũng là người làm mai trong, tới nhà cho biết, tôi có nuôi một đứa con riêng lúc đó đã hai ba tuổi. Trong gia đình tôi trách người chị dâu nầy, duy có tôi hiểu ý chị nên cám ơn. Tôi có nuôi đứa con nầy là con của một trong nhiều người bạn gái tôi, từ hồi nó mới bốn tháng.

Sau nhiều tháng đi công tác ở tỉnh về, cô bạn gái chưa tới 14 tuổi đó gặp tôi, khóc lóc và tỏ ý muốn tự vận vì đã lỡ có thai. Cô ta còn nhỏ mà đã có nhiều bạn trai đủ hạng. Cha cô ta cũng là một chủ báo (tờ Sao Mai). Nhà ở trong khu Gia Cư Bàn Cờ, cách nhà tôi mới mua chừng năm sáu chục thước. Tôi đi hoài, ít khi ở đó, mà hễ về là thỉnh thoảng thấy có chiếc xe hơi décapotable (mui trần) sang trọng Studebaker màu đỏ chói, mang số NBL -125, tới chở nàng đi chơi. Cô ta không giấu tôi những cuộc giao du, tới khi gặp hậu quả cũng chạy tới thố lộ cùng tôi. Tôi khuyên lơn nói làm gì đến đổi phải chết. Nếu không muốn nuôi thì ráng sanh ra, tôi lãnh nuôi cho.

Cô ta được cha mẹ gởi về quê ở Cao Lãnh. Đến ngày sanh, tôi lái xe hơi xuống, định chở hài nhi về như đã hứa. Tới nơi thấy đứa bé còn đỏ lói, biết không thể nào rước về liền được khi không thể rước người mẹ, tôi đề nghị nàng ở lại thêm ít tháng chờ đứa nhỏ sởn sơ. Bốn tháng sau, tôi rủ cháu tôi là Lê Hồng Thạch đi Cao Lãnh ẵm đứa nhỏ về. Nó bận đi làm, nhờ bạn nó là Khanh thay thế. Bận về, tôi nhờ Khanh lái xe Standard cho tôi ẵm hài nhi.

Tôi không hề hối tiếc về hành động nhận nuôi con, song bất mãn thấy người mẹ vị thành niên nầy được rảnh tay, chui vào vũ trường sống đời vũ nữ lúc vừa 15 tuổi. Phải dùng giấy khai sanh của người chị luôn tới bây giờ. Hơn một lần, tôi phụ với chị nàng vào chốn vui chơi ấy lôi nàng về.

Tôi ngưng làm anh hùng rơm sau khi bị bọn ma cô gác vũ trường hăm dọa. Cô ta thích vui sướng đời sống đó, cũng đành thôi. Chắc nhiều sĩ quan bay bướm thời ấy không quên nàng vũ nữ trẻ tuổi nổi bật của Văn Cảnh. Với nhan sắc hơn người và nghệ thuật chiêu đãi vượt bực, nàng rất dễ dàng sau đó kiếm được tấm chồng nghe nói là một thương gia người Tàu. Họ có con cái chung sống tới bây giờ tại Paris.

Tôi và em gái tôi thay phiên nuôi nấng đứa nhỏ tới lớn. Má tôi lắc đầu:

– Trong nhà, con gái không chồng con trai chưa vợ, mà có cục đeo cục thẹo nầy!

Trong ngày cưới, hai vợ chồng chúng tôi đang đứng làm lễ trước bàn thờ, thì con bé lúc đó vừa bốn tuổi, chạy tới ôm chơn vợ tôi, cô dâu 18 tuổi, kêu ” Má ”. Tâm trạng của mỗi người hiện diện khi đó thế nào, để độc giả suy nghĩ. Tuy nhiên, tôi phải kể ra sự thật nầy là trong giấy khai sanh con bé Lê Thị Bích Hồng không có tên cha, chỉ có tên mẹ là Lê Thị Kim Hoàng. Và vợ tôi và tôi sau đó đã ra Tòa xin án lập lại khai sanh vợ chồng tôi là cha mẹ đứa trẻ. Kể như vợ tôi có sinh con hồi mới 14 tuổi.

Sau khi lập gia đình và đã có sáu con, trong thời gian 5 năm cách biệt vợ con còn ở Việt Nam, tôi độc thân tại chỗ ở Mỹ, đã có thêm nhiều đứa con nuôi bất khả kháng. Khi vợ tôi qua, có đứa gọi tôi bằng Ba đã hai ba tuổi, có đứa tới hai mươi tuổi.

Trong thời gian làm thông dịch viên cho bịnh viện Brighton Marine ở Boston, nơi có tới hơn 90% người Việt trong vùng đến khám bịnh, nhiều phụ nữ nhờ tôi giúp đưa họ đi phá thai. Nhỏ nhứt mới 14 tuổi. Lớn thì phần đông sồn sồn, lúc ở trại tỵ nạn đã được chích ngừa thai hiệu lực khoảng ba tháng. Đến chừng qua Mỹ lại bị kẹt.

Tôi chỉ nhận tiếp tay thủ tiêu một sanh mạng, dầu mới tượng hình, sau khi đã hết lời khuyên can và chỉ vẽ những cơ quan cứu giúp và nhận nuôi, mà không thành công. Thường thường trường hợp vị thành niên và thiếu nữ không chồng mang bầu, nhứt định đòi tự vận.

Cũng có bà nghe lời tôi chịu sanh con. Tuy tôi đâu còn dám làm anh hùng rơm như hồi trẻ hứa nhận nuôi đứa con của Kim Hoàng, nhưng tôi cũng vẫn vui vẻ thỉnh thoảng chịu những hao tốn nho nhỏ, mua tặng một sợi dây chuyền vàng đứa đầy tháng, một miếng lắc vàng mừng đứa thôi nôi. Người mẹ nhận tôi là Ba của những trẻ ấy. Không sanh mà có công cứu cho tồn tại ắt cũng đáng là cha một cách hãnh diện. Khi bặp bẹ nói được, chúng đã được dạy kêu tôi bằng Ba, và thường là chúng đã có ba chính thức.

Còn tôi lúc đó tuổi đã gần 60, được con gái tuổi trăng rằm và có đứa hơn đôi chín kêu tôi bằng Ba ngọt xớt cũng có ý nghĩa phần nào. Sau khi khóc lóc đòi kết liễu cuộc đời vì cái bào thai lỡ mang trong bụng, và đã được tôi giúp giải quyết, những thiếu nữ kia tự nhiên xưng gọi cha con với tôi, nhiều người nghe phải ngạc nhiên. Những lần đầu tôi nghe cũng ngượng ngùng.

Cũng không đẻ ra ai như mấy ông cha, tôi được mang chức cha, nghĩ xứng danh hơn vì thật sự, tùy theo trường hợp, đã duy trì được sanh mạng của những hài nhi hoặc cứu sống được những thiếu nữ hy sinh thai nhi.

Càng gần tới ngày đám cưới, má tôi càng lộ vẻ bối rối lo âu. Tôi nói má sắp có dâu thì mừng mới phải, sao lại như sợ sệt. Má tôi ngán có nhiều người phá rối. Kinh nghiệm thấy nhiều đám cưới vùng tôi ở nhà quê mà đã xảy ra lắm chuyện rắc rối. Bà kể lại, như có một vụ rước dâu bằng xe thổ mộ bị một phụ nữ mang bầu xách dao yếm nắm cương ngựa giựt lại làm dữ. Vụ khác, khi chú rể dắt cô dâu vô nhà thờ làm lễ hôn phối thì thấy có sẵn trên mỗi chiếc ghế của mỗi người cắm một con dao phay sáng quắc. Vụ nữa, trước khi ông cha kịp làm phép giao, một anh chàng xuất hiện cõng cô dâu chạy ngờ ngờ trong nhà thờ, phóng tuốt ra ngoài đường, thải lên xe thổ mộ, đánh ngựa chạy mất tiêu.

Thành tích nhiều đào của tôi, thêm sau khi mấy chục tờ báo loan tin chúc mừng ngày hạnh phúc của ký giả Văn Bia, nhiều bạn gái cũ của tôi hay tin, lai rai tìm đến tận nhà, mang tặng quà cưới hoặc chắc thăm tôi lần chót, làm chính tôi cũng phải cảm động, không ngờ có những người đẹp còn nhớ đến mình sau nhiều năm bẵng tin Gần đến giờ phút ” lái ” xe hoa, tôi mới nhận ra là đã có lắm giai nhân thật tình yêu tôi, hay ít nhứt là thương mến tôi. Một thứ thanh toán dẹp tiệm rắc rối hay êm đềm tùy chủ có mắc nợ gì không. Tôi hoàn toàn an tâm vì không hề mang nợ nần tình ái với bất cứ cô nào.

Mỗi lần một nàng tới là một lần má tôi run. Trong số đó, chỉ kể sơ sơ một mớ bóng hồng xưa của tôi, thứ có súng thiệt nghe cho ngán chơi. Như có cô nầy tên Xuân Lan làm thơ ký trong bót Quận Ba, bồ của ông Cò Vĩnh. Nàng thích đi chơi với tôi và được tôi chụp hình cả xấp cả chồng. Tôi hay chở nàng đi chơi xa, có lần tới Đà Lạt phải ở lại ngủ đêm. Tôi mướn hai phòng ngủ, nàng không chịu, đòi ở chung một phòng thôi, nói cho đỡ tốn tiền, nếu không, nàng đòi ra ngủ ngoài xe hơi. Tôi đành thuê có một phòng mà chỉ có một cái giường. Tôi kéo tấm trải giường xuống lót dưới nền, ngủ. Chắc tôi giỏi hơn, nếu không nói là cao thượng không thua gì một ông linh mục, ở chỗ đó.

Cứ mỗi lần nghe trổi lên bản nhạc La Violettera là tôi nhớ tới Xuân Lan tuy chưa bao giờ yêu nàng. Đêm ở Đà Lạt, trước giờ đi ngủ, hai đứa tôi kéo nhau đi xem phim La Violettera và cùng nhau khóc sướt mướt thương cô ca sĩ phải ca miệng khi đã bị câm. Giữa lúc biểu diễn, nàng chợt thấy người tình xưa xuất hiện trong đám khán giả, nàng đứng sững, ngưng nhép miệng trong khi máy hát nói vẫn tiếp tục bản nhạc, khiến khán giả la lối phản đối. Máy hát phải tắt. Song tiếp theo, từ chính miệng nàng vụt thoát ra những lời ca yêu đương tuyệt vời đắm đuối của bài La Violettera, không nhạc đệm. Tình yêu bất chợt trở về gây xúc động mãnh liệt, đem lại giọng ca vàng nàng đã mất từ ngày nàng mất người yêu. Khán giả la hét càng to lên. Lần nầy để hoan hô trong nước mắt mừng vui sung sướng.

Lúc biết người bạn nữ Cảnh Sát nầy là bồ của ông Cò, tôi hỏi nàng, mình đi chơi vậy có sao không, nàng nói hổng có sao đâu. Song tôi quýnh lên khi nghe nàng ”ờ ờ” sau câu tôi dò hỏi:

– Em nghĩ vậy. Song biết đâu ổng ghen, cho anh ăn kẹo đồng?

Tôi nói tôi không thích chết lãng xẹt. Nàng đề nghị mình đi chơi chung với người dì của nàng cũng tuổi nàng và đẹp lắm. Tôi ” Ô Kê ” liền. Người dì nầy quả đẹp hơn nữ Cảnh Sát Quận Ba, hơi móm mà là móm có duyên lạ và trắng trẻo hơn, làm thợ uốn tóc ở chợ Tân Định.

Cô nầy muốn kết với tôi tới mức hơi ghen với con cháu là điều tôi không muốn. Vì sự nghiệp phóng viên của tôi, tôi cần kết thân lâu dài với cô cháu làm chỗ Cảnh Sát để moi tin tức. Có điều đi chơi với cô dì thấy an toàn hơn. Chính nàng nầy tìm gặp tôi trước ngày đám cưới để nói là nàng cứ tưởng tôi không bao giờ chịu lập gia đình nên nàng mới không dám chịu thiệt mở miệng tấn công là nàng chấm tôi.

Đóa hồng đôi khác là hai chị em làm nữ quân nhân tên Lê và Lựu. Mực độ thân thiện của tôi không hề đi xa hơn tình bạn quen biết, khởi đầu từ cuộc gặp gỡ tại nhà một người chị họ của tôi mà họ là bạn thân. Chỉ mấy hôm sau đó, tôi nhận được một lá thơ viết trên giấy từ tập học sinh xé ra, tỏ tình. Tôi cho chị họ tôi hay sự lạ lùng về chuyện tình phát triển tốc hành nầy. Chị tôi nói để rầy nó. Song sau đó cô chị vẫn thân mật với tôi hơn và suýt chút nữa tôi đã xâm phạm nàng nếu nàng không thốt lên là nếu nàng có chửa thì sẽ tự sát. Sau cô chị nầy có chồng, còn nhờ tôi chở đi vài lần từ Cầu Kho đi Vũng Tàu, nơi cha mẹ cô có vườn mãng cầu.

Tôi hành quân qua cô em hợp lệ hợp pháp hơn, rủ tắm biển, thấy có quân nhân lội theo tán tỉnh nữ sĩ quan nầy. Nàng than với tôi là bị mấy anh ấy theo quấy rầy bực quá, tôi càng lo bị ăn kẹo đồng oan uổng.

Không tiến xa là còn ở trong vùng an toàn. Cả hai chị em đều quý mến tôi không chối cãi.

Sao tôi được lắm người thương tôi quá, mà tôi chỉ được quyền yêu một người là vợ?

Tiệc cưới của chúng tôi tổ chức tại tửu lầu Ái Huê, ở Chợ Lớn, được ông quản lý khen tuy không to lớn nhứt, không sang trọng nhứt, song đẹp đẽ vui vẻ hơn hết. Có nhiều người trẻ đẹp quá.

Làm sao sang trọng cho được. Hình như chưa hề có cô dâu nào trang trí sơ sài đơn giản như vợ tôi. Nàng từ chối đề nghị của các dì các cô đưa đi trang điểm. Nàng muốn giữ sắc đẹp tự nhiên của nàng và đội tràng hoa với chiếc lúp cũ của ngày nàng rước lễ Vỡ Lòng giữ lại mãi đến ngày về với tôi bữa tân hôn. Tuyệt vời.

Tiệc cưới lộng lẫy nhờ toàn bộ đoàn tiên nữ là 60 bạn học người đẹp Bình Dương chánh hiệu, cô dâu nữ sinh mời. Đó là lớp nữ đầu tiên của trường Trịnh Hoài Đức từ ngày thành lập. Chánh phủ Ngô Đình Diệm mở mang nền học vấn, cho thiết lập lần đầu tiên các trường trung học tại tất cả các tỉnh. Thời Pháp thuộc áp dụng chánh sách ngu dân, cả miền Nam chỉ có hai tỉnh Cần Thơ và Mỹ Tho mới có trường trung học công lập. Học sinh tốt nghiệp tiểu học ở các tỉnh khác phải đổ về tranh thi cử tại Saigon và hai tỉnh kể trên, là độc đạo tiến vô trường Trung Học nhà nước.

Ở tỉnh Thủ Dầu Một, sau đổi tên lại là Bình Dương, Bộ Giáo Dục chánh phủ Ngô Đình Diệm đặc trách cho giáo sư Trương Văn Di đi tu nghiệp trở về nghiên cứu xây dựng trường Trịnh Hoài Đức và trường Cộng Đồng tại xã An Thạnh (Chợ Búng) vào năm 1954. Ông Di cũng làm vị hiệu trưởng đầu tiên.

Đám cưới có đàng gái nổi bật về sắc. Đàng trai đâu kém, sánh về tài. Đầy dẫy chủ báo và văn nhân ký giả đến dự. Tôi có gởi thiệp hồng cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cho ông bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu, cho Tổng Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành. Họ đều cử người mang quà cưới đáng giá đến tận nhà tặng chúng tôi. Ông chủ báo Cách Mạng Quốc Gia có đại diện đến dự tiệc.

Tôi cố tình “nổ” chỉ nhắm cho vợ tôi đỡ tủi thân, được thấy có người chồng thuộc hạng không đến đỗi tệ. Ít nhứt chồng nàng không phải chỉ là một ” thằng cha già khằn ”, như có bạn học nàng bĩu môi:

– Bộ hết người sao mầy đi ưng một thằng cha già ngắt khú đế.

Tôi còn nghe tiếng đồn người ta nói ông chủ nhà thuốc Tây Lê Hồng (là tôi) lấy con nít. Sau tuần trăng mật, cô dâu trở về trường tiếp tục học thêm một thời gian nữa, tôi mang tiếng lấy nữ sinh là đúng 100% chớ gì.

Đúng ra, người đáng tủi thân phải là tôi. Tôi đinh ninh vợ tôi phải hãnh diện có được một người chồng là một ký giả có chút tiếng tăm, được nhiều kẻ biết đến, nhưng tôi lại bị người đẹp của tôi coi tôi thuộc đúng thứ ”ghét của nào Trời trao của nấy” cho nàng.

Nàng ghét cay ghét đắng cái hạng người đâm bị thóc thọc bị gạo, nói trắng ra là loại phóng viên báo chí như tôi, ”chuyên môn ăn cơm nhà đi nói chuyện hàng xóm. Vợ chồng người ta gấu ó đâm chém nhau, mắc mớ gì cũng phanh phui tùm lum trên mặt báo. Chuyện ghen tương tạt át-xít, đốt chồng cũng đem phơi bày làm rùm beng. Người ta tham nhũng hối lộ cũng moi ra làm tình làm tội. Hết tiết lộ những hành động phi pháp đến bươi móc chuyện phòng the hay đời tư của kẻ khác. Đúng là thèo lẻo ở mức thượng thặng”. Vợ tôi bản tánh yêu yên lành, sợ sệt làm mất lòng ai, đã lên án nghề của chồng như thế đó.

Nhờ đáng ghét như vậy mà được Trời trao cho vợ, cũng nên bị đáng ghét. Dầu sao, hình ảnh anh chàng phóng viên trẻ tuổi vai đeo máy ảnh chạy lăng xăng phỏng vấn người nầy, điều tra kẻ nọ, chụp hình đầu nầy, thu ảnh đằng kia, là đối tượng của nhiều thiếu nữ, nữ sinh.

Thời oanh liệt nay còn đâu cũng không tiếc, khi mộng đã thành.

Từ sau vố nặng Thu Tâm, không còn tính chuyện lập gia đình, tôi thoải mái đi chơi suông với hết cô nầy tới cô khác và hồ hởi nuôi một đứa con để có như người ta mà không nghĩ tới hậu quả tương lai. Đến bây giờ tôi mới trễ tràng thấm thía cái nỗi rầu rĩ của má tôi lúc thấy tôi có ”cục đeo cục thẹo” từ ngày tôi ôm một hài nhi về nhà nuôi.

Sau khi lập gia đình, những quan hệ sâu đậm hay phớt nhẹ với bao nhiêu phụ nữ trước kia đều không ảnh hưởng. Duy có hành động anh hùng nuôi con tác động mạnh tới người phối ngẫu của tôi, vì cái tiếng đồn tôi có đứa con riêng, đồng nghĩa như mình đã có một đời vợ. Không ngờ vợ tôi đã có sự hy sinh chịu mang tiếng lấy thằng già đã có một đời vợ.

Tôi dư biết người ta cố tình bêu xấu tôi, chuyện không có cũng dựng ra, sự thật thì bóp cho méo mó do lòng dạ ganh tỵ thúc đẩy khi đã thất bại không tranh giành nổi với tôi, nếu họ là nam giới. Nếu họ là nữ giới, họ đã thất bại không được tôi chọn.

Ở địa phương tôi, và cả trường Trịnh Hoài Đức, ai cũng nhìn nhận tôi là kẻ chiến thắng, chiếm được hoa khôi. Thật ra cũng với lắm cam go. Đem so sánh tình trường nầy của tôi với chính trường của Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bôi bẩn, thấy giống y như hai giọt nước. Người hay phe nhóm không quân tử, áp dụng đòn hèn mạt cố hạ nhục đối thủ đối lập.

Âu là khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên, hồng nhan bạc phận. Vợ tôi còn khổ sở vì những cái thật sự không xấu khác, kiểu giống như nói trên. Ví dụ về tên tục của nàng là Lê Thị Nở, nàng cũng oán trách nhà văn Nam Cao đã đặt tên Thị Nở cho một vai phụ nữ ngoại hình Chung Vô Diệm, khiến giai nhân như nàng bị trêu ghẹo lây.

Tôi thì khoái chí chuyện một Thị Nở dại tình như bị bùa mê thuốc lú. Hai Thị Nở tuy ngoại hình trái nghịch nhau mà có nội tâm y chang như hai giọt nước. Nhờ đó tôi hiểu và không kinh ngạc chua cay về cái đắm đuối kỳ quặc của một con người đàn bà bổng dưng mê tít thằng cha Chí Phèo mỗi lần có rượu vô không khác nào được tròng vào chiếc áo thầy tu, cả làng ai cũng ngán sợ. Trong tình trạng say túy lúy thì Chí Phèo oai quyền có khác chi một linh mục choàng chiếc áo cà sa uy linh. Nàng Thị Nở thiếu thốn thình lình đê mê loại thằng cha suốt đời trong tình trạng như bị cấm hưởng thụ. Được dịp say sưa, cả hai mê man làm tình lút cán. Tôi thèm rỏ dãi món quà đặc biệt Thị Nở cho cha nội Chí Phèo: cái bát cháo hành nàng nấu cho ăn sau giờ phút mê ly bị trúng gió. Tôi cao hứng làm thơ ví von nghe như một chuyện tương phản mà trùng hợp. Hai bài thơ Chiếc Võng Ân TìnhTình Yêu Linh Mục nầy nữ sĩ Vi Khuê đã đăng trên tạp chí Phụ Nữ Diễn Đàn tại Hoa Kỳ.

Chiếc Võng Ân Tình

Trên võng đong đưa lúc vắng chồng
Tháng ngày trôi chảy mỏi mòn trông
Võng đưa kẽo kẹt dường quả lắc
Đếm phút xuân thì uổng phí không?
Chợt đâu “người” xuất hiện bên tôi
Võng trên ván dưới tự nhiên ngồi
Không, “người” tình tứ nằm kia nữa
Bên cạnh song song, trên dưới thôi.
Chiếc võng ngưng đưa, quả lắc ngừng
Thời gian đọng lại, trái tim rung
Ai biết tôi thèm hay chẳng muốn
Cọ chạm “người” bôi xóa nhớ nhung.
Tình ai trên chiếc võng đong đưa
Dưới ván tình tôi có thiếu thừa
Võng đưa kẽo kẹt như ai oán
Than khóc thế chồng lúc vắng xa.
Võng ân tình đó mới hôm nao
Rộn rả lời ru ngủ ngọt ngào
Từ đứa con đầu – (cũng) tên MINH nhỉ
Âu ơ.. tình tứ biết là bao!
Chuỗi ái ân từng lần trên võng đó
Dấu ân tình từ mắc võng sợi dây
Hai chúng mình bao giờ phút ngất ngây..
Nay thánh-tích sao phủ phàng xóa bỏ !
Ầu ơ ,
Ví dầu tình bậu dễ quên
Võng ân tình cũ sao nên phụ phàng.
Võng thuyền sông ván sang ngang
Võng đưa ván rước ngút ngàn sóng thương.

Tình Yêu Linh Mục

Anh thương mến, tình yêu Thiên Chúa
Anh đem so với của dương trần
Để lòng vẫn phải phân vân
Một bên lý tưởng, một đàng duy tâm.
Giữa kinh nguyện trầm ngâm suy nghĩ
Anh van xin Chúa chỉ dẫn đường
Cho mình, cho cả người thương
Yêu em, yêu Chúa có phương dung hòa ?
Lần gặp gỡ nơi tòa Giải Tội
Em từng xưng có lỗi yêu anh.
Anh từng phân tách đành rành
Yêu là đức của Chúa dành nhân gian.
Chính Thiên Chúa ngập tràn thương mến
Từ cỏ cây cả đến muôn loài
Nhịp nhàng tình ái đắm say
Tình yêu Linh Mục không ngoài luật chung.
Em yêu Chúa cũng yêu anh nữa
Dáng hình anh đẹp tựa Thiên Thần
Anh cầm Chén Thánh, lễ dâng
Anh là Thiên Chúa hiện thân dưới phàm

Tại sao nàng lại phải sợ mang tên Thị Nở? Lần đầu tiên chị dâu tôi dắt tôi tới nhà nàng để làm quen. Gặp một mình má nàng. Bà nói:

– Con Hoa nó đi chợ rồi, không có ở nhà.

Tôi khều nhẹ chị tôi, nói nhỏ, tôi chỉ muốn làm quen với cô Nở thôi chớ không phải cô Hoa nào cả. Lộn nhà lộn chỗ rồi. Rút lui.

Sau mới biết ở nhà, cô Nở mang tên người chị kế đã chết hồi nhỏ tên Hoa, nàng xin mẹ dùng tên đó gọi nàng. Tên Nở đẹp đẽ biết bao, tôi cho là đẹp tuyệt vời không thua gì nhan sắc nàng, sao nàng không toại nguyện?

Ngày đám cưới, tôi dùng chiếc xe tôi nhập cảng lúc đang làm báo Tiếng Chuông, rước dâu. Chính tôi là chú rể làm tài xế rồi lái đi hưởng tuần trăng mật tại khách sạn Palace ở Đà Lạt, còn xuống Nha Trang trước khi quay về Saigon. Ngồi trên xe bên cạnh vợ mới cưới, tôi ngậm ngùi nhớ tới vợ chồng chủ báo Tiếng Dội là Trần Tấn Quốc và Thanh Loan, ngày nào cả hai đem khoe với tôi tấm ảnh chiếc xe hơi hai người sắm chung, ngồi chung cách trìu mến lắm, giờ thì một kẻ sang ngang để một người vô bưng biền. Cầu Trời cho đừng bao giờ tôi thấy có ai đẹp bằng vợ tôi để thứ háo sắc như tôi khỏi phải sa ngã ẩu.

Trước khi báo Hoa Lư của ông Diệm đình bản, tôi có giúp làm tờ tuần báo Tinh Thần của nhóm cũng mang tên nầy, sau được gọi là nhóm Caravelle. Bác sĩ Huỳnh Kim Hữu đứng tên đầu nhóm, nhưng thật sự là bác sĩ Trần Văn Đỗ, cậu vợ của ông Ngô Đình Nhu, viết bài xã luận. Người giúp việc của bác sĩ Hữu đứng tên quản lý và làm công việc tùy phái. Tôi lo mọi công việc sắp xếp bài vở, sửa chữa, trông coi ấn loát và phát hành tuần báo ấy tại một nhà in nhỏ ở đường Paul Blanchy (sau đổi lại là Hai Bà Trưng) kế bên trại hòm Tôbia và đối diện nhà thờ Tân Định.

So với làm nhựt báo, tuần báo nhàn nhã hơn nhiều, có khi hai tuần mới ra một số, tôi có thì giờ rảnh rang liếc ngắm cô con gái giống như đầm, con của chủ trại hòm. Làm báo Tinh Thần không lương mà siêng tới làm là có lý do đó.

Chưa kịp mơ hay mộng thì tình cờ quen thêm một cô nữ sinh khác tên Ánh, còn trẻ tuổi hơn, nhà ở đường D’Espagne, sau đổi là Lê Lợi. Tôi dắt đi coi hát bóng (xi-nê) tự nhiên như chú cháu. Cô nữ sinh nầy từ vùng nước phèn Rạch Giá mà trắng như đầm, mặc đồ đầm, tôi coi như là đầm lai.

Kế tôi qua ở trọ bên Bà Chiểu, gặp liên tiếp nhiều bông hoa Gia Định tươi thắm, đủ màu sắc. Có màu cà phê sữa, nước da bánh ích, được thừa thãi tánh nết chững chạc bù vào nhan sắc, tên Ni, tôi sắp nhắc tới nhiều dưới biệt danh “Ni cô tóc dài”. Cũng có bạn gái màu trắng trẻo, mũi cao, mắt xanh như đầm và có cả tên Tây nữa là Marie, nổi tiếng xinh đẹp. Thanh niên vùng nhà thờ Bà Chiểu thời đó đều biết nàng.

Quen thân từ lúc nàng còn là nụ hoa búp chưa nở, tôi chứng kiến đóa bạch hồng nầy từ từ hé lú ra từng cánh một mà chỉ được ngắm thôi vì nàng là hạng con cháu, là hạng bà con, coi tôi như chú ruột, mình cần đóng vai đứng đắn. Vậy mà lúc đó ai cũng tưởng nàng là của riêng tôi, nhứt là những đứa trong băng đảng cao bồi của tôi. Vì thấy nàng chỉ thân mật với tôi. Nàng và tôi thường xuyên đi coi hát chung với nhau từ lúc chiếc áo dài nàng mặc chưa có eo và trước ngực còn xẹp lép thẳng băng như một bải đáp phi cơ, đến lúc từ từ nhú lên, căng phồng. Nhà nàng như nhà tôi, ngày đêm ra vào tự do. Mẹ nàng đối với tôi còn thân hơn người chị, nồng hậu tiếp đón tôi như người nhà. Đến ngày nàng không còn là con gái, tuy nàng giấu tôi, tôi cũng biết được do đám đàn em tiết lộ.

Kể như cũng bị coi là tôi đã có một khoảng tháng năm được tiếng làm chủ, hay đúng ra là quản thủ những ngày đầu một nhan sắc hé lộ lần tới lộng lẫy kiêu sa. Tưởng không ai còn nhớ biết thời vàng son của tôi với Hoa Khôi Bà Chiểu nầy, thì đến nửa thế kỷ sau, vào tháng 6 năm 2000, trong dịp ra mắt sách “Khói Sóng Trên Sông” của nhà văn Nguyễn Văn Sâm ở Houston (Texas), tôi, tuổi đã thất tuần, bị một người đẹp nhỏ hơn tôi cả chục tuổi, nhận dạng, bất thần chận tôi lại, hỏi:

– Văn Bia có nhớ Marie Bà Chiểu không?

Tôi giựt mình, ngắm nhìn phụ nữ lạ hoắc nầy. Đôi mắt sáng ngời đen huyền không phải là cặp mắt xanh như đầm của Marie. Song dung nhan sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn lưu giữ những nét xinh đẹp không thể nào quên được.

Trong tiệc tiếp tân sau buổi ra mắt sách nói trên, tổ chức tại nhà chủ báo Phạm Quang Tân và chị Cúc, nhà văn Doãn Quốc Sĩ được mời đến dự hôm ấy, có góp vui bằng chuyện hồi ông ở Lào, biết phong tục nước nầy, còn nhớ một câu cua gái ” Khói bò chầu u ” (Có yêu anh không?). Ông nói mình hỏi cô gái Lào câu nầy mà nàng trả lời bằng chữ ” U ” kéo thật dài mới có nghĩa là nàng yêu mình.

Tôi tọc mạch thì ít, tinh nghịch theo thói quen cũng chỉ hơi hơi, mà nhiều nhứt là cốt châm giễu góp vui với anh em. Đâu có sẵn ai để tôi thực hành ngay cuộc thử nghiệm cho bằng người đẹp vừa bắt quen với tôi hồi trưa. Tôi bước tới chỗ nàng ngồi cách hơi xa, nhỏ tiếng hỏi nàng, chớ đâu dám cho nhiều người nghe:

– Khói bò chầu u.

Trái với dự đoán là giai nhân chắc sẽ trả lời bằng một nụ cười mỉm thôi, thì bất ngờ thay, một tiếng ” U ” kéo dài thật là dài và khá lớn đủ cho mấy bạn ngồi xung quanh đều nghe, vang ngân ra như tiếng tù-và báo động văng vẳng thấu tai tôi ngày nào trong Chiến Khu, kèm với ánh mắt trìu mến sao bỗng quá y hệt đôi mắt người xưa.

Bạn bè văn thi sĩ ở Houston thấy liền sau đó hai người chúng tôi trở thành như tri kỷ, lấy làm ngạc nhiên, hỏi nguyên do.

Xưa kia, tôi đã vì có Marie mà làm ngơ không để ý giai nhân nào khác ở chung quanh, đáng lẽ nên làm quen hơn vì hợp pháp hơn.

Hãy hiểu mỹ nhân Huyền Vi vừa xuất hiện trễ trong đời tôi là cô bạn gái láng giềng đồng lứa tuổi của Marie. Hai nhà đối diện nhau cạnh bên nhà thờ Bà Chiểu. Nàng nói biết Văn Bia từ lúc mới hơn 10 tuổi, “thấy phóng viên Văn Bia chun vô nhà con Marie hoài và thường nghe con Marie nhắc tới tên phóng viên Văn Bia.”

Nửa thế kỷ trước, biết mà chưa được quen. Nửa thế kỷ sau, nhờ một cuộc họp mặt văn chương, hay nhờ có nhà văn Nguyễn Văn Sâm tạo dịp, rồi cũng được kết thân. Âu nàng còn làm nhân chứng tôi không ba hoa bịa chuyện đào hoa thời tuổi trẻ của một phóng viên nhà báo.

Hồi đó không quậy dữ sao được. Đúng trong lứa tuổi đôi mươi, khi đã rảnh rỗi, không còn lý tưởng, không còn Ngô Đình Diệm để phò tá nữa. Mặt trận Điện Biên Phủ còn đang cù cưa. Cuộc thương thuyết Việt Pháp dằng dai ở Paris chưa đến đâu. Mấy phe phái đến đó phó hội đều mướn nhà cửa dài hạn để ở, tính chuyện kéo dài cả năm chưa kết thúc, vì biết chắc việc gì cũng ăn thua ngoài mặt trận. Người dân thấy trước sau gì Pháp cũng đại bại, chánh phủ bù nhìn miền Nam do chúng dựng ra cũng sẽ lật nhào theo. Mỗi người theo tình trạng và địa vị của mình mà chuẩn bị và chờ đợi biến cố diễn tiến. Ngoài Bắc nhà giàu rục rịch bán đổ bán tháo tài sản, bàn tính ai ở lại giữ của, ai dợm chân nhảy vào Nam.


—->Chương 43

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.