ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN….: Phần II (Văn Bia)

CHƯƠNG 43

Một hôm, báo Tiếng Dội tôi đang bỉnh bút, nhận được một bức thơ nặc danh ký tên Cao Bồi Saigon, nhắn phóng viên Văn Bia hãy lo sắm hòm, và chua thêm lý do: ”… chúng tôi muốn xin bạn tí máu vì bạn đã chạm tới Cao Bồi chúng tôi.

Ông chủ báo Trần Tấn Quốc lo sợ cho tánh mạng của tôi, đăng bức thơ hăm dọa đó lên báo, một mặt yêu cầu cảnh sát bảo vệ phóng viên của ông. Tờ báo như rúng động, ai nấy đều ái ngại giùm tôi. Họ suy luận giọng văn nghe nhẹ mà nguy hiểm còn hơn lời hăm dọa chửi bới nặng nề, nên bảo tôi lo đề phòng.

Tôi đang viết một loạt bài phóng sự nẩy lửa nhan đề: ”Cao Bồi Saigon”. Tôi đang chung sống với một nhóm nầy, y hệt hồi viết loạt bài phóng sự đầu tiên ” Sống Dưới Gầm Cầu ” tôi đã chui xuống ngủ chung với dân vô gia cư. Trên mình tôi lúc nầy cũng thường khoác chiếc áo sơ mi chim cò. Thích mặc nhứt là chiếc sơ mi nhựt trình cho thêm vẻ nhà báo.

Trước khi khởi viết phóng sự nói trên, tôi đã là cao bồi Bà Chiểu, thường giao tiếp với nhóm thanh thiếu niên nam nữ trong vùng. Đang tuổi thanh xuân phơi phới, phóng viên vào lứa quậy, tôi làm phóng sự về cao bồi thật thích hợp, như Tam Lang viết ” Tôi Kéo Xe ”.

Ba Gầy, hơi đen, ốm nhom, cao nhòng, mặt xương xẩu làm cái miệng hơi hô. Nó là con ông Bảy Rổ chủ một vựa chuối đối diện với cái tua (tour = tháp canh) ở gần nhà thờ Bà Chiểu, kế bên nhà anh Ba tôi đang ở trọ. Thằng có bản lĩnh, được đồng bạn tôn làm đầu xỏ. Nó giới thiệu tôi làm quen với nhóm học võ của nó gồm cả trai lẫn gái. Võ đường bị mang tiếng oan uổng là nơi cao bồi tập trung. Nhóm trẻ chịu chơi, hãnh diện tự nhận họ là bọn cao bồi. Tôi lại chịu chơi với lớp trẻ nầy.

Nhờ có gia nhập Cao Bồi Saigon, có dịp kết thân với nhiều Cao Bồi Tóc Dài, trong đó có con nhỏ tên Ni dễ thương. Ai tôi cũng thấy dễ thương hết. Thật sự là vậy.

Tôi hay ghẹo phá cô Ni nầy bằng cách kêu ngược lại là ” Ni cô ” mà tóc xõa dài bít lưng. Quen thân với Ni cùng một lượt với nhiều đứa choi choi khác như Kim Hoàng mới 14 tuổi đẻ con, tôi lãnh nuôi, đã kể qua. Những đứa con gái tôi quen lúc nầy, chưa có đứa nào lớn tới tuổi đáng được tôi gọi là cô hay nàng.

Ni là bạn thân của Ba Gầy, lúc đầu đi ăn hàng hoặc ngồi xuồng rong chơi trên con rạch bọc bên hông chùa Long Vân (Cầu Mới, Bình Thạnh), đều đủ mặt cả ba đứa. Lai rai có mấy đứa con trai con gái khác tháp tùng theo trò chuyện chơi giỡn thật tự nhiên.

Rồi Ba Gầy lặn mất hồi nào tôi không để ý, và bạn bè khác cũng từ từ rút lui lần, không thấy theo chơi nữa, rốt cuộc chỉ còn lại Ni với một mình tôi. Tôi hỏi thì Ni nói đi chơi với tụi nó hay đòi hỏi nầy nọ.

Khi báo Tiếng Dội nhận được bức thơ Cao Bồi Saigon nhắn tôi lo sắm hòm và xin tôi tí máu, tôi đem chuyện nầy nói với Ba Gầy. Nhóm trẻ tôi chơi thường cung cấp cho tôi nhiều nguồn tin tức độc đáo. Ba Gầy cười, nói:

– Chú Chín đừng có lo. Tụi đàn em phá chú chơi đó.

Tôi tin Ba Gầy liền. Nó gọi tôi bằng chú vì tôi là chú Chín của Lê Hồng Thạch, bạn chí cốt của nó.

Sẵn dịp, tôi hỏi Ba Gầy và mấy đứa sao không thấy chơi với con Ni nữa. Nó bảo con nhỏ đó khó chịu lắm, tụi nó không ưa. Thằng cháu tôi cũng nói y vậy và biết rõ tụi nó không lấy làm lạ việc con Ni đeo theo tôi. Tôi sực nhớ Ni có cho tôi biết nó có người chị bị Công An bắt nhốt ở bót Catinat. Một lần, Ni kể chuyện có đi thăm nuôi, bị Công An dọa hỏi tại sao nàng liên lạc với phóng viên Văn Bia. Ni lưu ý tôi nên coi chừng. Nghe rồi tôi bỏ qua như không có gì cả.

Gia đình Ni ở đâu không biết mà hai chị em Ni được một người cô ở trong Xóm Gà, miệt Bình Hòa, Gò Vấp, nuôi nấng.

Có một thời tôi đi chơi với Ni gần như hằng đêm. Nay ngồi ăn bánh cống ở đường Cầu Bông, mai đi ăn chè Đakao, chỗ tiệm kế rạp hát bóng, mốt đi húp mì Cây Nhãn trên đại lộ Albert 1er (hiện là Đinh Tiên Hoàng) cách đó không xa. Thường nhứt là đèo Ni lên xe bình bịch (mô-tô, máy nổ kêu ầm ầm), chở tới đường Hàng Xanh lúc đó hai bên còn là đồng ruộng, khoảng trước chùa Long Vân Tự, trải poncho xuống bên lề đường, ngồi tán dóc với nhau. Tôi coi Ni như đứa con nít muốn làm đệ tử đeo theo tôi, mặc nhiên nhận tôi là sư phụ hay ít nhứt là sư huynh của nó. Đi chơi với Ni là lối giải trí lành mạnh thoải mái của tôi.

Có một đêm đang ngồi nói chuyện với nhau, thấy phía bên Saigon đỏ rực một góc trời, tôi biết có hỏa hoạn, đứng lên, nói chở Ni về nhà, để tôi đi làm phận sự. Ni đòi đi theo, và coi xe cho tôi lội vào khu cháy nhà bữa đó ở Bàn Cờ.

Lúc tôi mua được một căn nhà của Gia Cư Liêm Giá Cuộc ở Bàn Cờ, đôi khi tôi có rủ Ni lại đó chơi đêm. Chủ yếu tôi muốn cho Kim Hoàng nhà ở gần đó thấy tôi cũng có bạn gái khác, như Kim Hoàng có nhiều bạn trai.

Muỗi nhiều, tôi giăng mùng, hai đứa chun vô trong ngồi nói chuyện. Cũng như với những người con gái khác tôi quen, tôi không hề động chạm tới, dầu cái bàn tay tôi cũng không hề nắm bắt. Song thú thật, với Ni, chỉ có một lần một, tôi thản nhiên đưa tay lên vuốt tóc nàng. Một mái tóc buông dài mường tượng dòng suối tóc của Ngọc Anh hằng theo ám ảnh tôi từ ngày tôi rời xa bưng biền.

Tôi không bị thúc đẩy bởi tình dục, không nghe ham muốn xác thịt nổi dậy chút nào khi bàn tay chạm vào tóc. Mái tóc dài không phải là thứ kích dục (fetish) đối với tôi, mà chỉ là biểu tượng đẹp đẽ cao thượng tuyệt vời của một dĩ vãng thân thương không còn nữa. Một vầng mây huyền diệu ngoài tầm tay, có vói mấy vẫn không bao giờ chạm tới.

Ni ngồi lặng yên, chậm rãi nói vỏn vẹn mấy tiếng:

– Đừng có vuốt tóc tôi.

Tôi nghe như Ni ra lịnh, bổng sực tỉnh, thụt tay lại như chạm điện. Bàn tay tôi có thể còn ngưng lâu lại trên mái tóc và tiếp tục mơn trớn nữa nếu không nghe lịnh đó, song nếu không ngừng vuốt ve tóc, vẫn tuyệt đối không thể có đại họa xảy ra. Chớ không phải nhờ câu nói kịp thời đó mà được trở lại bình thường như không có gì cả và chẳng hề có gì nữa cả.

Cho dầu Ni có sẵn sàng hiến thân, không biết giữ gìn, thì nàng vẫn không có thể nào là một Ngọc Anh thứ hai nữa của tôi như kiểu cô gái tôi đã ”gặp lại” trong một đêm mưa gió ở Bến Tre. Người tôi đặt tình yêu vào không thể là đứa con nít như Ni.

Tôi không có xâm phạm con nhỏ Ni. Những ngày tôi không đi công tác ở xa, Ni tiếp tục đi chơi với tôi hết đêm nầy tới đêm khác. Tâm tình trong trắng như hai trẻ thơ, hai huynh muội, hai thầy trò.

Chuyện gì mà nói hết đêm nầy qua đêm nọ không dứt. Thú thật tôi không mải may nhớ một đề tài nào. Chỉ biết chắc một điều là không hề nhắc đến tình yêu hay một chữ gì có dính dấp tới thương yêu hay ân ái.

Thời gian tôi bắt đầu quen thân với cô thơ ký Thu Tâm trong tòa soạn báo Tiếng Dội., các cuộc gặp gỡ với Ni lơi lần chỉ vì không còn thời giờ rảnh rỗi đi chơi riêng với nó nữa. Thỉnh thoảng tôi có khoe với Ni những dịp tôi đi chơi với Thu Tâm để giải thích lý do vắng mặt. Ni cũng có nhắc chừng tôi khi nào đám cưới nhớ đừng có quên mời nó.

Vô tình làm tan nát hoặc ít ra gây nhói tim nhiều phụ nữ, đến mấy chục năm sau, do chính họ khai ra, tôi mới hay biết.

Như sau năm 75, một lần chở bao lúa tới một nhà máy trong xóm xay, tôi thấy một người đàn bà hơi quen ngồi trên bộ ván ngó tôi một hồi rồi hỏi tôi có phải là ông Lê Hồng (là tôi) không. Tôi vừa xác nhận đúng danh tánh, chị ta cười hắc hắc, oang oang tuôn ra một màn khai báo tôi nghe khoái quá. Đang nghèo rớt mồng tơi, tình cũng như tiền đều văng mất hết ráo theo ngày 30 tháng Tư, không khoái sao được khi nghe nhắc chuyện từ ba mươi năm trước như vầy:

– Hồi đó tôi khoái ông quá cỡ. Tới nhà chị Tư ông chơi, thấy ông đeo tòn ten máy chụp hình và nghe nói làm nhà báo, tôi mê liền. Tôi cứ hỏi thăm ông và nhờ chị Mười, em của ông, giới thiệu. Chỉ nói anh Chín của chỉ (là tôi) ba trợn lắm, đừng có ham.

Tôi nhớ cô Chín Đồng nầy là một hương sắc đồng nội, con ông Hương Bộ Gần chủ lò đường giàu có trong làng. Không chàng trai nào không muốn gấm ghé. Chờ khi cả hai người chúng tôi tuổi đã năm mươi và đều có gia đình con cái đùm đề, nàng mới muộn màng thổ lộ chơi. Ngộ thiệt và vui thiệt.

Bài học kinh nghiệm cho tôi là mình không dè hay không lượng được tình cảm thật sự của một người con gái dành cho mình, hoặc tuổi trẻ mù mắt không thấy họ mếch tôi. Hay đúng hơn, tại người phụ nữ đơn phương thầm kín không dám thố lộ, đành ôm giữ riêng mối tình gần suốt đời họ.

Một kinh nghiệm nữa, khi một phụ nữ không gọi mình thẳng thừng là anh, hay chú, bác, mà chỉ nói trỏng và cũng không xưng họ là em, con, cháu hay tên của họ, là họ muốn chính mình phải xác định hay chọn lựa vị trí vai vế cho đôi bên. Lúc còn trẻ, nghèo nàn tâm lý, tôi không biết để ý đến cách xưng hô và dụng ý của nó để… phòng thân hay lợi dụng. Nếu con Ni có mở lời tỏ tình thì tôi đã sửa lưng liền là con nít đừng có bày chuyện bậy bạ. Như lần nhận được lá thơ giấy học trò của con bạn của chị bà con của tôi, tôi báo cho chỉ ”sạc” nó ngay.

Hai mươi năm sau khi quen Ni rồi quên Ni, tôi suýt chút nữa bị điêu đứng vì Ni cô tóc dài, là cô Ni nầy.

Vợ tôi một hôm đi thăm gia đình ông bà gia của tôi trở về, nàng chậm rãi nói với nụ cười nửa miệng cố hữu:

– Hôm nay em mới biết được em có chồng ký giả lưu manh.

Trời đất! Tôi hỏi nàng muốn kiếm chuyện gì nữa đây. Chờ thiếu điều phải cạy miệng, nói đúng ra, chờ năn nỉ gần rớt lưỡi, nàng mới chịu tiết lộ là vừa được biết chuyện “Ni cô”.

Số là gia đình vợ tôi có ruộng vườn tại Long Phước Thôn, một cù lao rộng tới năm làng nằm trên sông Đồng Nai (?), khoảng giữa Saigon và Chiến Khu D hay vùng Tam Giác Sắt (?). Toàn là đồng bằng với ruộng vườn trông xem thật hiền hòa mà lại là vùng chiến lược của Việt Minh Kháng Chiến chống Pháp để dưỡng quân và nhốt giam những người bị coi là Việt gian.

Thời thơ ấu của vợ tôi trải qua trong khu bưng biền đó. Nàng còn nhớ những ngày nguy khổ với những lần trốn bố (khủng bố, bố ráp = rafle, raid) mẹ nàng dắt núp trong đám lau sậy dày đặc, lính Pháp và lính gạch mặt Sénégalais đi ruồng có khi tới sát gần một bên. Nhưng nhớ nhứt, không bao giờ quên được, là những tiếng thét la than khóc thê thảm rợn người vang dội giữa đêm khuya của những tù nhân bị Việt Minh đánh đập tra khảo. Những nạn nhân đó là những người theo đạo Cao Đài bị bắt ở miệt Tây Ninh đem về xiềng xích nhốt trong những củi tre bỏ đói ban ngày, đêm lại đem ra tra tấn.

Mẹ vợ tôi Công Giáo đạo dòng, thường tìm cách vò sẵn từng nắm cơm nhỏ, len lén gặp cơ hội là thải cho những đồng bào Việt Nam khốn khổ đó. Người đàn bà nhân ái nầy lại cũng chính là Người Mẹ Chiến Sĩ Việt Minh, có nhận một chiến sĩ Việt Minh tuổi đôi mươi làm con, vợ tôi kêu là anh Ba Thân.

Gia đình vợ tôi cố bám vào mảnh đất bất an song rất phì nhiêu đó để sống. Hoa màu thâu hoạch khá khẩm, chở đi Saigon bán, dư dả mua đủ thứ về. Tiền còn lại phải đem đổi lấy tiền Cụ Hồ mới gọi là ái quốc. Loại giấy bạc do Việt Minh phát hành chỉ có giá trị để tiêu xài trong Chiến Khu và các vùng Pháp không kiểm soát được, người dân gọi gọn là tiền Cụ Hồ.

Đến khi tới tuổi đi học, vợ tôi mới bỏ Khu về Thành. Khoảng đâu cũng cùng một lượt với tôi lúc rời vùng Kháng Chiến. Lúc nầy tuổi tôi lớn hơn gấp ba lần tuổi nàng. Năm 1947, nàng lên 6, tôi 18.

Sau ngày Việt Nam thống nhứt, là ngày sụp đổ Miền Nam, người Việt quốc gia gọi là ngày mất nước (đối với họ), mẹ vợ tôi được nhắc nhớ lại chức Người Mẹ Chiến Sĩ nhờ có đứa con chiến sĩ bà nuôi là anh Ba Thân may mắn còn sống sót tìm đến thăm sau gần ba chục năm xa cách. Khi hỏi thăm tới con Hoa, tức là vợ tôi, đâu rồi, mẹ vợ tôi cho biết nàng đã có chồng con cả bầy rồi. Anh Ba Thân hỏi tiếp tới, tưởng chắc chồng con Hoa, là tôi, không là ”lính ngụy” thì cũng thuộc thành phần ”phản động” nào đó:

– Chồng nó làm gì?

Nghe mẹ vợ tôi trả lời: “ Chồng nó là ký giả Văn Bia đó “, anh Ba Thân la lên vừa như hoảng hốt vừa như tội nghiệp:

– Thôi rồi! Tiêu đời con Hoa rồi! Nó nhè lấy nhằm một thằng ký giả lưu manh.

Ba Thân cho biết anh có hai đứa em gái đều bị “thằng ký giả lưu manh Văn Bia” lường gạt lấy, rồi không ở với đứa nào hết. Nghe vợ tôi thuật lại, tôi biết ngay hai phụ nữ đó là ai, song thật tình rất ngạc nhiên sao lại có chuyện bạn cũ xưa kết tội tôi nặng nề dữ vậy. Tôi luôn luôn cao thượng và xử đẹp Ni, không hề làm một điều gì sai quấy với nàng. Tôi nhớ Ni có giới thiệu người chị của nàng sau khi được thả ra, lúc đó tôi đã có Thu Tâm nên có hơi lơ là với hai chị em nàng. Người chị thì tôi chưa gặp tới hai lần và tên cũng còn chưa biết.

May mà ngay sau khi lấy nhau, tôi đã kể cho vợ tôi nghe hết mọi quen biết của tôi, trong đó có chuyện Ni, chuyện Thu Tâm, chuyện Ngọc Anh, chuyện Marie, đủ hết. Tôi chỉ cần nhắc vợ tôi bằng câu hỏi có nhớ chuyện hai chị em con Ni không. Nhờ thành thật khai báo trước, nay tôi thoát nạn, xóa bôi được thắc mắc ngờ vực trong đầu óc vợ. Ký giả được trắng án lưu manh.

Trong thời gian tìm hiểu nhau trước ngày cưới, tôi có cao hứng hứa với ý trung nhân, tôi sẽ cho nàng đọc tất cả nhựt ký của tôi khởi viết từ hồi còn ở trong nhà dòng Chúa Cứu Thế. Tôi giữ cả thảy gần cả trăm tập vừa 50 trang vừa trăm trang, bó lại thành hai chồng cao.

Vài hôm trước ngày cưới, tôi đem hai chồng nhựt ký đó, cất giữ trên gác nhà thuốc Tây của anh Hai tôi ở Lái Thiêu, ra sau nhà dưới, bùi ngùi đốt từng cuốn, nghiêm trang như đốt giấy vàng bạc đồ mã. Nền gạch xi-măng nung nóng nứt bể nổ lên như loạt tiếng súng bắn tiễn đưa một liệt sĩ về chốn vĩnh cửu.

Vì cưới vợ, tôi làm một hy sinh to tát nhứt trong đời tôi. Tôi phải thiêu hủy kho tàng quý báu ấy sau nhiều ngày do dự khổ sở. Điều xấu hổ nhứt dẫy đầy trong nhựt ký tôi quyết định phải giấu nàng là những lần thủ dâm liên tu bất tận tôi ghi nhận từ hồi còn sống trong nhà dòng đến tận thời gian quen biết nàng. Cả trăm ngàn lần ghi quyết tâm giữ mình trong sạch đúng Giáo Luật đều thất bại đủ trăm ngàn lần.

Trong hiếm hoi lần khó lấy quyết định nhứt trong đời tôi, lần đốt nhựt ký nầy dằn vặt tôi kinh khủng. Quyết định mau lẹ thường giúp tôi thành công nhiều và lớn vững trong nghề phóng viên, giờ phút nầy tinh thần tôi bị khủng hoảng tê liệt.

Thiêu rụi hết dĩ vãng, trong đó có lưu kèm thơ tình của giai nhân nầy, bút tích của mỹ nhân khác, thường đi theo cuộc đời đào hoa của một phóng viên nhà báo, đều coi như chuyện nhỏ, không còn là vật trân quý. Song những ghi nhận vô giá ngày nầy qua ngày nọ từ thời thiếu niên là tài liệu tối cần cho nghiệp văn tôi nhắm, giờ phải tiêu tan luôn theo.

Đốt hết là tôi đã quyết tâm chỉ còn biết lấy vợ, sanh con cái và làm giàu. Đoạn tuyệt nghề phóng viên thì lưu lại làm chi những chứng tích có thể làm tổn thương hay sứt mẻ hạnh phúc gia đình. Để xứng đáng và thích hợp với một thiếu nữ trong trắng mới 18 tuổi, tôi nghĩ mình phải gột rửa cho sạch sẽ trước khi về với nàng.

Không còn nhựt ký đưa cho vợ đọc như đã hứa, tôi phải chính miệng, phần nhiều như xưng tội với nàng. May mà thành thật khai báo, chuyện gì có xảy ra sau, như vụ hai chị em cô Ni, càng chứng tỏ thêm lòng ngay thẳng của tôi đối với người bạn đời. Bài thơ ” Ngàn Trang Nhựt Ký ” của tôi dưới đây hé chút bí mật hủy diệt kho châu báu. Không ngờ tôi còn cầm viết trở lại, hoàn thành tập Hồi Ký nầy, để phải nuối tiếc bao chi tiết quên đi, bao lời văn ghi trên nhựt ký ngay sau mỗi sự việc xảy ra, nay không còn nhớ nguyên vẹn.

—->Chương 44

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.