ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN….:Phần III (Văn Bia)

CHƯƠNG 58

Điều tra tố cáo bọn hạm, những tay to mặt lớn tham nhũng quấy nhiễu dân lành, báo chí gọi là bắt hạm. Thời tôi, chưa có được bao nhiêu phóng viên chịu nhận lãnh công tác nầy có lẽ vì sợ động chạm nguy hiểm, ngoài việc khó khăn hao tốn tâm lực và thời giờ.

Tuy thuộc tay liều, hay chịu chơi, tôi cũng bắt đầu hơi nao núng việc bắt hạm, sau khi liên tiếp đụng độ, không phải nhằm thứ dữ, mà là nhằm những rắc rối tế nhị. Có những vụ mất công bỏ thì giờ ra, kết cuộc để thấy đó chỉ là những chuyện tư thù, phe phái. Đôi khi gặp cả chuyện mưu hại một cán bộ đắc lực của chánh quyền. Vạch lá tìm sâu thế nào cũng gặp. Không phải ai cũng trong sạch như ông Nguyễn Ngọc Thơ, ông Trần Văn Hương, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, ông “Nghị Nhà Lá” Hồ Ngọc Cứ, hay ông Ngô Đình Diệm. Sách Thánh công nhận thánh nhân còn phạm tội mỗi ngày bảy lần mà.

Thật sự cũng có những tay ác ôn côn đồ nhiệt thành duy trì an ninh đắc lực lập công, để được cấp trên tha thứ hành động bóc lột hiếp đáp dân đen vô tội. Phóng viên bỏ qua những trường hợp tương tự để tránh tiếng tiếp tay Cộng Sản, hại cán bộ trung thành của chánh phủ, thì lại có thơ rơi cho chủ báo nói ký giả đã ngậm miệng vì hạm nhét đút. Hỏa mù thả tứ phía, khó thấy rõ đâu là sự thật.

Quận trưởng Nguyễn Tri Sơn, ở Ba Tri, con nuôi Đức Cha Thục, thuộc loại công chức khá trong sạch mà tôi không tha, vẫn viết bài tố cáo, vì tôi thấy ngay hành động tai hại của ông ta có thể dễ dàng dẫn đưa tới chỗ làm sụp đổ chế độ của một Tổng Thống người Công Giáo. Số dòng họ Ngô Đình sắp tận. Nghiệp báo của tôi sắp tàn trước nên không giúp được gì cho họ Ngô. Dân chúng địa phương Ba Tri ta thán về những ức hiếp lạm quyền của quận trưởng Sơn, tôi làm lơ được. Duy việc ông muốn lấy điểm với Đức Giám Mục Ngô Đình Thục bằng cách ra sức Công Giáo hóa quận ông cai trị là một hành động không thể tha thứ làm ngơ. Ông cả gan bắt buộc dân trong quận treo đèn ngôi sao mừng lễ No-en (lễ Giáng Sinh), gây bất mãn Phật tử quá nhiều. Tôi viết báo tố cáo việc ông bắt ép dân phải theo thứ Chúa của ông thờ.

Trong phóng sự đăng trên báo Tiếng Chuông, tôi gọi ông là Con Cọp Gấm Ba Tri. Tôi cố viết thật nặng cho thấu lên cấp trên tiếng báo động về tai hại áp bức tôn giáo do một tín đồ quá khích gây ra, báo hiệu đại họa chánh phủ Diệm có thể mắc phải. Và quả thật, sau đó xảy ra vụ Phật Giáo ở Huế, dẫn đến sự sụp đổ chế độ Ngô Đình Diệm.

Thay vì sửa trị bề dưới nịnh nọt bậy, Đức Cha Thục nghe lời con nuôi kia mét thót, ra lịnh cho ngoại trưởng Trần Văn Lắm trừng phạt tôi. Trong một cuộc lễ có ông Lắm đến dự, tôi chận hỏi ông về hành động của con nuôi ông Ngô Đình Thục. Ông Lắm gạt ngang tôi, chỉ nói vắn tắt có mấy tiếng ” làm gì có chuyện bậy bạ đó ”.

Nhận lại đề nghị của ông Lắm, ông Tổng Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành chỉ có cách dọa ông Đinh Văn Khai là báo Tiếng Chuông của ông sẽ bị đóng cửa nếu còn tiếp tục dùng ký giả Văn Bia.

Tôi bắt đầu không cảm tình với Trần Chánh Thành từ hồi ông ta mới nhận Bộ Thông Tin, thay thế bác sĩ Bùi Kiến Tín quá bết.

Thống Chế Tưởng Giới Thạch mời một phái đoàn báo chí Việt Nam đi viếng thăm Đài Loan. Bộ Thông Tin cho các chủ báo như ông Tam Mộc (Mai Lan Quế), chủ báo Buổi Sáng, và dùng làm phần thưởng cho người có công lao với chế độ mới, như luật sư Hoàng Cơ Thụy làm trưởng đoàn. Vào giờ chót, không rõ vì lẽ gì, thay đổi để ông Phạm Xuân Thái, cựu Bộ Trưởng Thông Tin. Trong cuộc họp phái đoàn gồm có Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Duy Hinh, Phạm Việt Tuyền, Lê Minh (là nhiếp ảnh viên người Hoa), v.v.., bộ trưởng Trần Chánh Thành mới cho biết tôi được đi là để ”đền ơn trả công tôi rồi đó”. Tôi đinh ninh mình được chọn chỉ vì để thay thế ông chủ báo Tiếng Chuông của tôi, không đi.

Công gì? Công sáng lập tờ báo Cách Mạng Quốc Gia, hay công theo phò Ngô Đình Diệm, làm tờ Hoa Lư từ những năm chưa có ông Trần Chánh Thành? Ông biết công tôi ra sao mà nói trả công tôi? Có xứng đáng không và thay mặt ai? Tôi không buồn trả lời vì quá bất mãn, và chỉ có một cách đáp ứng thích đáng là quăng trả lại vào mặt ông tờ hộ chiếu vừa được cấp.

Song tôi quá mê du lịch ngoại quốc.

Tháng 8 năm 1960, ông Trần Chánh Thành có phái người mang quà cưới tới tặng tôi như một cử chỉ giảng hòa. Trễ rồi. Đã mất tôi, cũng như đã mất quá nhiều người trong giới trí thức miền Nam có thiện cảm với chế độ Ngô Đình Diệm trong giai đoạn đầu.

Tội nghiệp ông Trần Chánh Thành, sau ngày 30 tháng Tư, đã tự sát, chết một cách thê thảm. Một người bạn của tôi nhà ở gần ông Trần Chánh Thành, cùng một đường, nói có hai anh bộ đội tới nhà tìm ông Thành. Ông cho là giờ phút chót đã đến nên dùng súng bắn vào đầu kết liễu cuộc đời mình. Hai anh bộ đội kia đến chỉ để trao cho ông một bức thơ của một người anh là cán bộ cao cấp viết dặn dò ông an tâm chờ đợi ông ta.

Sau khi có nhiều người Nam lần hồi rời xa ông Diệm, trùm chăn như tôi, hay vô Khu, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã tuyên bố thành lập vài tháng trước ngày đám cưới của tôi. Những kẻ tới giờ chót không bỏ ông Diệm là những đồng bào di cư đã được ông đưa từ Bắc vào, và những người miền Trung với vài người Nam Bắc tín cẩn vây quanh ông. Những người còn trung thành với ông Diệm tới giờ chót không phải là những người miền Nam, ngoại trừ một số tín đồ Công Giáo trong các tu viện và các trường của bà xơ, lo đọc kinh cầu nguyện suốt cả mấy lần đảo chánh, hụt năm 1960 và 1961, thành công năm 1963.

Lần đầu xảy ra hồi cuối năm 1960, ba tháng sau đám cưới của tôi và khoảng nửa năm sau ngày Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thành lập. Lần thứ hai vào ngày 11 tháng 11. Sáng hôm đó, tin bác sĩ Phan Quang Đán tuyên bố trên đài phát thanh làm lật úp lẹ làng bức chân dung Tổng Thống Ngô Đình Diệm cao hơn tầm thước người thường, treo ở đầu Chợ Búng (Bình Dương).

Họa sĩ Minh Sang là tác giả và chủ bức ảnh, có văn phòng cửa hàng ngay đầu chợ, nghe tin loan báo, lật đật xoay hình ông Diệm vô vách tường. Chiều lại, biết đảo chánh bất thành, anh ta lại cũng vội vàng như hồi sáng, lật ngược hình Tổng Thống trở ra.

Dễ dàng và mau lẹ như người dân xoay theo chiều hướng gió thay đổi. Tôi chứng kiến, cười như cười sự đời. Anh trưởng ấp Bảy Sánh đại diện chánh quyền địa phương, thấy sự việc, đi ngang qua chỉ đưa ngón tay điểm mặt họa sĩ Minh Sang là cảnh cáo duy nhứt mà thôi.

Biến cố cuối cùng xảy ra lúc tôi đang kẹt trên Đà Lạt. Tôi không có cơ hội ở gần để giúp được gì, như nhà dòng Chúa Cứu Thế ở Saigon, lần đầu đã để cho nhóm trung thành với Tổng Thống Ngô Đình Diệm đậu xe truyền tin phía sau vườn, liên lạc kêu cứu với quân đội ở dưới Mỹ Tho hay Cần Thơ lên tiếp viện.

Ông Đạo Dừa

Nhiều đồng nghiệp và bạn bè của tôi ngạc nhiên, thấy lúc chánh phủ Diệm đã vững mà một ”công thần” như tôi không tham chánh, vẫn tà tà làm phóng viên như hồi nào. Có ký giả nghi tôi nằm vùng trong báo giới, lãnh công tác mật gì. Con đường chánh trị ma giáo với nhiều thủ đoạn và tranh chấp, phù hoa, làm sao hấp dẫn bằng nghề phóng viên. Tôi tiếp tục say mê làm phóng sự.

Nghe ở Bến Tre có ông Đạo gì hơi lạ, không mở miệng nói năng chi cả. Chuyện ông Đạo nầy Đạo nọ xem cũng thường. Thỉnh thoảng xuất hiện đầu nầy đầu nọ hết Đạo Khùng, Đạo Chuối, đến Đạo Mò, Đạo Hửi, riết rồi nhiều quá, không còn mấy ai chú ý. Chỉ vì thiếu đề tài lớn, tôi thử đi coi cho biết thêm một ông Đạo.

Qua khỏi bắc (bac = phà, đò ngang) Rạch Miễu, đến quận Bình Minh (?), tôi phăng lần vô miếng vườn có một ao nước không mấy rộng. Bên phía bờ kế cận một ngôi nhà, có một cây dừa lẻ loi rất cao, đứng thẳng, trên chót vót là một cái chòi tí hon thay thế chỗ đọt cây. Một con người nhỏ nhắn làm như hơi teo lại trong mảnh vải vàng quấn từ một bên vai xuống khố, đang leo lên nửa chừng cây, nhìn không kỹ tưởng là một con khỉ. Đầu ông róm lại, song gương mặt thật thanh thản điềm nhiên, còn đượm nét cười tươi, trái ngược trong cái nhăn nheo như trái bưởi bị phơi khô.

Một môn đệ dưới đất nói với tôi đó là thầy của họ. Ông thầy nầy không hề ăn uống bất cứ thực phẩm gì ngoài độ ròng nước dừa vào đúng giờ Ngọ. Tự nhiên tôi đặt ngay cho cái tên là ”ông Đạo Dừa”. Thoạt tiên, để tường thuật cho gọn.

Chính phóng viên Văn Bia đẻ ra tên ông Đạo Dừa. Báo Tiếng Chuông chánh thức khai sanh tên đó bằng một loạt bài phóng sự của tôi. Đó cũng là những bài báo cuối cùng trước khi tôi rút lui khỏi làng báo, hơn năm năm sau mới trở lại.

Tên thật ông Đạo Dừa là Nguyễn Thành Nam, một kỹ sư hóa chất tốt nghiệp tại Pháp. Trở về quê, ông lập xưởng làm xà bông (xà phòng, do tiếng Pháp = savon) và dây luột, dùng nguyên liệu địa phương là dầu dừa và xơ dừa.

Bỗng đâu ông nảy ra làm chuyện lạ thường khác người. Sống cách khỏi mặt đất hơn cả chục thước tây. Chịu quật quờ giữa trời khi có cơn gió hơi mạnh một chút. Thấy cũng bấp bênh nguy hiểm như sanh mạng của người dân Việt trong thời khói lửa đó.

Ngoài hiến dâng gian khổ nắng mưa, cầu Trời cho quốc thái dân an, cho chuột chung sống được với mèo, ông làm gì cả ngày lẫn đêm trên cái thiên cốc đó? Một câu nữa tôi có hỏi, đệ tử ông không trả lời, hình như ngụ ý cho biết ông Đạo Dừa chẳng có đồ thừa thãi bài tiết.

Hiếm khi ông trèo lên tuột xuống khỏi cái tổ. Tôi xin cho được phỏng vấn. Ông ta không trả lời. Chỉ làm dấu và viết trên giấy.

Chiêu tịnh khẩu gây khó khăn cho phóng viên điều tra cặn kẽ, không lấy tin được từ chính đương sự là nơi có giá trị tuyệt đối. Thủ đoạn giữ im lặng nầy cốt tránh né những câu chất vấn hóc búa, ngoài ý đồ muốn gieo rắc một màu sắc huyền bí, thứ mà tôn giáo nào cũng cần.

Xin tạm ngưng chuyện ông Đạo Dừa để nói tới Thầy Tư Nước Lạnh chuyên môn chơi chiêu tịnh khẩu nầy.

Có một thời, từng đoàn ni cô được tung ra len lỏi tận hang cùng ngõ hẻm, tìm xin con nít đủ lứa tuổi, và cả người tàn tật điên khùng, đem về Làng Cô Nhi Long Thành nuôi nấng. Họ khuyến khích cha mẹ ở vùng quê giao con cái để họ săn sóc dạy dỗ nơi an ninh.

Tôi nghi hành động dùng những trẻ có cha có mẹ biến thành mồ côi để vừa kêu gọi lòng bác ái, hưởng viện trợ, vừa huấn luyện sản xuất một lớp tu sĩ đạo giáo mới. Tôi cần cật vấn cho rõ trắng đen. Song tôi không hỏi các ni cô câu nào được vì trên ngực mỗi nữ tu áo sòng nầy có đeo bản đề chữ TỊNH KHẨU.

Chủ nhân Làng Cô Nhi Long Thành là Chú Tư đã có một thời làm báo giới lưu ý sôi nổi dưới danh hiệu Thầy Tư Nước Lạnh ở Bình Hòa. Hồi đó người dân đồn nhau kéo tới đầy nhà viên công chức nầy, xin chữa bịnh. Ông trị đủ thứ bịnh bằng nước lạnh mà thôi, với lời căn dặn người đạo Phật thì cầu xin Phật, người Công Giáo thì cầu xin Đức Mẹ hay Chúa.

Tôi không nhớ ông lặn mất lúc nào cho đến nhiều năm sau, khi xuất hiện tại Làng Cô Nhi Long Thành, nơi tôi gặp lại ông trong một dịp tôi theo toán Dân Sự Vụ Mỹ chở đồ tới tặng viện mồ côi của ông. Ông nhận ra tôi là phóng viên Văn Bia đã có đến phỏng vấn viết bài về ông năm nào. Nhờ ông nhắc tôi mới nhớ ông và trở thành quen thân. Tôi hỏi ông sao các ni cô của ông đeo bảng tịnh khẩu. Ông nói họ không đủ trình độ để trả lời nhiều câu rắc rối. À, ra thế.

Viết điều tra phóng sự về ông Đạo Dừa mà không phỏng vấn được, tôi chỉ có thể thuật dài dòng về ông bằng tưởng tượng hay cảm nghĩ, là hai điều cấm kỵ cho phóng viên. Tôi không muốn mình mang tiếng đả phá, càng không thích làm công cụ tuyên truyền cho một tôn giáo mới, là con đường mấy ông đạo nhắm vào. Chiêu mộ đệ tử trước, kế thu phục tín đồ sau.

Trong đời phóng viên tôi đã chứng kiến được sự phát sinh của ít nhứt là ba tôn giáo ở tại Miền Nam Việt Nam. Tôi đã có nói tới hai tôn giáo nẩy nở rất mau lẹ là đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo. Đạo Hòa Đồng Tôn Giáo của ông Đạo Dừa bắt đầu hình thành kiểu cũng y chang như hai tôn giáo trước. Vì xuất hiện nhằm lúc tình hình chánh trị thay đổi đột ngột, không còn lốn nhốn, là đất ươm thuận lợi cho hạt giống tôn giáo, ông Đạo Dừa kể như thất bại trong vai trò giáo chủ. Tôi đã đặt ra cái tên ông Đạo Dừa và thích thú theo dõi ngay từ bước đầu lập đạo của ông mà tôi thấy rõ trước. Tôi cũng tưởng rồi tôn giáo mới nầy cũng phát triển mạnh.

Lúc tôi khai trương mở màn chuyện ông Đạo Dừa, chưa thấy có chút màu sắc tôn giáo và đường hướng nào rõ rệt. Sự thật khi đó tôi chỉ biết nghi chớ không dám chắc ông kỹ sư Nguyễn Thành Nam nầy là người của phe nầy hay của phe kia. Ông là một trí thức có mưu mô thủ đoạn chớ không phải là một ông đạo ngây ngô tầm thường như bao nhiêu ông đạo khác. Dầu sao, tôi luôn luôn giữ cây viết phóng viên vô tư, chỉ thuật lại những điều mắt thấy tai nghe.

Đệ tử ông Đạo Dừa lưu ý tôi sự khác thường thể hiện ngay trên con người ông. Cái đầu tóc của ông xoắn tít lại, dựng đứng chỉ thiên như một cái tháp nhọn.

Với cặp mắt sáng rỡ, nụ cười kín môi, vẻ mỉa đời mà gây được thiện cảm, ông Đạo Dừa để cho đệ tử của ông biểu diễn, lấy tay nắm kéo thẳng xoắn tóc trên đầu của ông lên cao rồi thả ra. Tóc trở lại quăng xoắn tít thành một búi tóc nhọn trên đầu như cũ. Làm liên tiếp hai ba lần như vậy. Họ cho đó là điềm lạ lùng huyền bí đến với vị giáo chủ của họ. Tôi thì cho là thường thôi. Những tay phù phép, những ông gọi là bực tu luyện lên núi, hạ sơn, còn làm được những trò hóa phép như thần thông, gây ấn tượng cho các đầu óc bình dân phục sát đất. Trò bịp.

Thiên phóng sự tôi viết ngắn, song chuyện ông Đạo Dừa loan dài ra trong dư luận. Thêm một tôn giáo bắt đầu thành hình như tôi dự đoán. Mãi sau mới từ từ lộ lần đường hướng Hòa Đồng tôn giáo vừa Chúa vừa Phật thẳng thừng rõ rệt hơn đạo Cao Đài. Cho dễ lôi kéo tín đồ của mọi tôn giáo.



—> Chương 59

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.