ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN….:Phần III (Văn Bia)

CHƯƠNG 61

Để bạn đọc có một khái niệm tổng quát về quốc hiệu, quốc kỳ và quốc ca của Việt Nam đã liên tục thay đổi mấy lượt trong khoảng thời gian tôi làm báo kể lại trong Hồi Ký nầy, từ giai đoạn thành lập chánh phủ Nam Kỳ Tự Trị năm 1945 cho đến ngày nay, tôi xin lược thuật, không có tánh cách tham khảo tài liệu hoặc sách vở.

Về quốc hiệu

Chánh thức, ở miền Nam không có quốc hiệu. Chánh phủ đầu tiên do Pháp lập ra sau khi tái chiếm Nam Kỳ, được Cao ủy d’Argenlieu đặt là Cộng Hòa Nam Kỳ (République de Cochinchine) nặc mùi thuộc địa và chia rẽ. Do phe phân ly khởi xướng nên cũng được gọi là chánh phủ Phân Ly, Nam Kỳ Tự Trị, hay Nam Kỳ Quốc.

Đầu năm 1949, Cao Ủy Pháp Bollaert dụ dỗ Bảo Đại đang lưu vong ở Hồng Kông về, đặt ông lại trên ngai vàng. Bảo Đại chịu nhận làm Quốc Trưởng mới được lãnh tiền trợ cấp chánh thức đều đặn. Ông về nước ở ít tháng rồi qua Pháp tá túc, từ bên đó ” điều khiển ” chánh phủ con rối của ông. Để cho ngôn chánh danh thuận chút đỉnh, Cao Ủy Bollaert buộc lòng khai tử Cộng Hòa Nam Kỳ sau khi đã ký kết với Bảo Đại Thỏa Ước Điện Elysée (Paris) vào tháng Ba năm 1949. Quốc hiệu mới là Quốc Gia Việt Nam. Chánh phủ nầy thường được nhắc tới là chánh phủ Miền Nam vì đã quá rõ rệt chánh quyền chỉ có mặt ở miền Nam.

Quốc hiệu Việt Nam Cộng Hòa do chánh quyền Ngô Đình Diệm đặt ra sau khi loại hẳn được Pháp và truất phế Bảo Đại, lập chế độ Cộng Hòa thay thế chế độ Quân Chủ Lập Hiến.

Dương Văn Minh hạ sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cướp quyền, tiếp tục dùng quốc hiệu Việt Nam Cộng Hòa thêm chữ Đệ Nhị và gọi chánh phủ tiền nhiệm là Đệ Nhứt.

Ở miền Bắc vẫn giữ quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ ngày đầu thành lập năm 1945, tới ngày thống nhứt toàn quốc năm 1975 đặt lại tên nước là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không còn giấu giếm đây là một nước Cộng Sản.

Cuộc nội chiến ở Việt Nam chánh thức chấm dứt ngày 30 tháng Tư năm 1975, miền Bắc và miền Nam thống nhứt thành một nước, nhưng phe bại trận Quốc Gia gồm có hằng triệu quân dân lưu vong ở hải ngoại tiếp tục cuộc chống đối sự áp đặt chế độ Cộng Sản trên đất nước.

Về quốc kỳ

Chánh phủ Phân Ly Nam Kỳ Quốc dùng lá cờ vàng đối lại lá cờ đỏ của Việt Minh. Trước đó, Phong Trào Thanh Niên Tiền Phong, một đoàn thể yêu nước, cũng dùng cờ hiệu màu vàng chính giữa có ngôi sao đỏ, ngược với lá cờ đỏ sao vàng.

Chính giữa lá cờ vàng của Phân Ly có ba sọc xanh nằm dọc chính giữa, chia cách nhau bởi hai sọc trắng. Khi lá cờ phất phới, ba sọc xanh giống như một con rồng xanh đang lượn. Có người châm biếm đây là hình cõng rắn cắn gà vàng nhà Việt Nam, nên dưới chánh phủ Nguyễn Văn Xuân, ông Tổng Trưởng Thông Tin Trần Văn Ân ra chỉ thị cho ký giả Nguyễn Kiên Giang, đệ tử của ông, làm một lá cờ Quốc Gia, đổi ba sọc xanh và hai sọc trắng thành một vẹt đỏ chạy nằm ngang chính giữa, thành cờ có ba phần đều nhau. Trên và dưới màu vàng, giữa màu đỏ.

Ông Trần Văn Ân có giải thích màu vàng là màu Miền Nam, màu lúa chín, còn đỏ vàng là Hỏa Thổ, biểu hiệu tiến lên lập trường dân tộc Việt. Cờ nầy tượng trưng cho chánh phủ Miền Nam cho nên vẫn còn đượm màu sắc phân ly.

Hình như Nguyễn Kiên Giang đã phỏng theo cờ LONG TINH đã có từ năm 1926, đời vua Khải Định. Cờ nầy có một sọc đỏ lớn nằm ngang ở giữa và hai sọc vàng nhỏ nằm ngang ở trên và ở dưới sọc đỏ. Cờ Long Tinh là cờ biểu hiệu của nhà vua. Quốc hiệu Đại Nam mà Pháp gọi là An Nam còn người Việt thì Pháp gọi là Annamite, do đó người Việt mình bị mang tục danh dân Mít. Đến tháng 5 năm 1945, chánh phủ Trần Trọng Kim công bố đổi quốc hiệu thành Đế Quốc Việt Nam và dùng cờ Quẻ Ly thay thế cờ Long Tinh
vanbia_quockyvn

Khi Thực Dân Pháp khởi dùng lá bài Quốc Trưởng Bảo Đại vào tháng 6 năm 1948, lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam mới bắt đầu được xuất hiện bằng một chỉ dụ nhận làm quốc kỳ cho quốc gia Việt Nam. Nghĩa là lá cờ nầy đã có từ lúc Pháp còn cai trị Việt Nam. Ông Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân của Nam Kỳ Quốc biến thành Thủ Tướng đầu tiên của một chế độ quân chủ lập hiến thật sự còn rất mập mờ. Gốc gác cờ vàng ba sọc đỏ do từ cờ Quẻ LY mà ra.

Cờ Quẻ LY (quẻ trong Kinh Dịch) được hoàng đế Bảo Đại chọn làm quốc kỳ ngày 2-6-1945 sau khi tuyên bố độc lập gần ba tháng, là cờ vàng có ba sọc đỏ ngang đều nhau, sọc đỏ chính giữa đứt đoạn ở trung tâm Xin chú ý, ba sọc đỏ ngang của cờ Quẻ Ly không chiếm trọn lá cờ, mà có khoảng trống ở hai đầu và đuôi

Đổi thể chế chút ít, cờ Quẻ LY cần sửa lại chút đỉnh cho chế độ quân chủ lập hiến. Sọc chính giữa bị đứt khúc đó được nối liền lại với nhau thành cả ba sọc đỏ đều liên tục và đều kéo dài lấp khoảng trống ở hai đầu và đuôi, được khai sanh trong thời còn Pháp thuộc và trở nên quốc kỳ của Việt Nam Cộng Hòa tồn tại đến ngày Miền Nam sụp đổ.

Đa số dân lưu vong còn nuôi mộng phục hồi chế độ quốc gia, vẫn coi đó là quốc kỳ. Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba miền Trung, Nam, Bắc.

Cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc từ ngày giành lại nền độc lập từ tay Nhựt và Pháp năm 1945, đến nay vẫn là quốc kỳ của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được quốc tế công nhận, nguyên thủy là cờ đảng của Cộng Sản Việt Nam hay Đông Dương. (Cờ đảng Cộng Sản quốc tế là cờ đỏ mang dấu búa liềm màu vàng trên góc bên trái.) Đảng Cộng Sản Việt Nam nắm được chánh quyền, dùng cờ đảng làm cờ nước.

Hiện nay nhà nước Việt Nam phân biệt quốc kỳ và cờ đảng tách riêng ra khác nhau. Cờ đỏ sao vàng là quốc kỳ còn cờ đảng là cờ đỏ mang dấu hiệu búa liềm của đảng Cộng Sản quốc tế. Tại những trụ sở nhà nước và có khi ngay cả ở nhà tư nhân được treo hai lá cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa liềm song song kế bên nhau. Hiện tượng nầy làm mát dịu phần nào lòng những người Việt Nam yêu nước song không yêu đảng Cộng Sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đáng yêu lá quốc kỳ cờ đỏ sao vàng không còn phải là cờ đảng.

Về quốc ca

Khi Pháp trở lại Việt Nam sau Đệ Nhị Thế Chiến thì nước ta đã có bản quốc ca là Đăng Đàn Cung, được hoàng đế Bảo Đại công bố ngày 2-6-1945, một lượt với quốc kỳ là cờ quẻ Ly. Thực Dân Pháp không công nhận quốc kỳ quốc ca nào của Việt Nam khi đã quyết định lập một nước Nam Kỳ riêng biệt, nên đã có tạo ra một quốc kỳ mới.

Việc chánh phủ bù nhìn của Pháp chọn quốc ca mới càng tức cười hơn. Ai chơi cắc cớ bày cho dùng lời ca là câu thơ bắt đầu trong Chinh Phụ Ngâm: ” Thuở trời đất nổi cơn gió bụi ” rồi ai đó đem phổ nhạc.

Không ai muốn hát, chỉ có ban nhạc trỗi lên trong mấy dịp lễ nên không mấy người biết nhạc điệu ra sao. Tôi nhớ mang máng là nghe buồn thê lương, thê thảm như cái chánh phủ bù nhìn do Pháp đẻ ra, vì vậy chết non là phải.

Nghe bi đát quá, ai đó mới đề nghị dùng một bài ca cho giựt gân. Bài ”Tiếng Gọi Sinh Viên” đầu tiên bằng tiếng Pháp là Marche des Étudiants (Sinh Viên Hành Khúc) của Lưu Hữu Phước, được chọn. ”Này Sinh Viên ơi! Đứng lên đáp lời Sông Núi! ” Chữ ”sinh viên” được đổi ra thành ”anh em”, một thời gian sau đổi lần nữa thành ”công dân” cho đến ngày nay.

Xin xem ở phần Phụ Bản cuối Hồi Ký nầy toàn văn bản nhạc nguyên khởi bằng tiếng Pháp lẫn tiếng Việt và sửa đổi thành quốc ca Miền Nam. Cả hai bài Pháp Việt mãnh liệt thúc đẩy sinh viên nồng nàn yêu nước. Lưu Hữu Phước là một sinh viên nhiệt tình ái quốc, trước học trường Petrus Ký cùng một thời gian với tôi, đã bỏ đi Khu từ ngày đầu Kháng Chiến.

Ngoài Bắc, chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ ngày đầu thành lập năm 1945 và nay là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, dùng quốc thiều là bài Tiến Quân Ca của Văn Cao sáng tác cho đội quân Cách Mạng (Việt Minh) vào tháng 11 năm 1944, gần một năm trước khi cướp được chánh quyền giành lại nền độc lập ”Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc



—> Chương 62

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.