ĐỜI MỘT PHÓNG VIÊN….:Phần III (Văn Bia)

CHƯƠNG 49

Hầu hết mọi người tưởng lầm Mỹ đã nâng đỡ Ngô Đình Diệm theo lời gởi gấm của người đỡ đầu ông là Đức Hồng Y Spellman, và Mỹ làm áp lực bắt Pháp từng bị họ Ngô chống đối, phải nhận ông làm Thủ Tướng. Do đó ông Diệm mang tiếng thân Mỹ oan uổng, tuy chính ông và phe nhóm gồm cả tôi đều làm thinh nhận chịu để coi đây là vũ khí tuyên truyền cần thiết tạo quyền lực dỏm trong khi còn tay không, lúc ông Diệm về nước. Giống y hồi năm 1945, lúc Việt Minh cướp chánh quyền, họ cũng để dân tưởng có Hoa Kỳ đứng sau lưng họ. Thật ra, Mỹ chỉ có nhúng tay giúp đoàn du kích Việt Minh vài cố vấn huấn luyện phụ lực chống Nhựt Bổn và với mục tiêu trọng yếu hơn, là thâu thập tình báo.

Chế độ Ngô Đình Diệm chấp nhận đoàn cố vấn Mỹ cũng kiểu y chang vậy thôi. Nhưng lúc đầu, Hoa Kỳ thấy rõ ông Diệm không được hậu thuẫn của đa số nhân dân, ông lại là người Công Giáo trong một nước hầu hết đều giữ đạo Ông Bà hay theo đạo Phật, nên Hoa Kỳ không tin tưởng, đâu có ủng hộ ông.

Ông Diệm cũng đã rời Hoa Kỳ qua Bỉ tiếp tục cuộc sống ẩn dật trong một nhà dòng từ giữa năm 1953.

Trong giờ phút nguy kịch của phía quốc gia ở Miền Nam, khi Pháp chưa trao trả hết quyền và chúng lại có mòi không cứu giữ nổi nữa, Quốc Trưởng Bảo Đại không còn tin tưởng ai giải nguy được ngoài vị cựu thần của ông là Ngô Đình Diệm.

Để dọn đường trao quyền cho ông Diệm trong khi Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đang mạnh mẽ bám giữ, Bảo Đại phải dùng cách chọn hoàng thân Bửu Lộc thay thế trước, làm giai đoạn chuyển tiếp.

vanbia_ngodinhdiemThủ Tướng Ngô Đình Diệm về nước được thưa thớt người đón tiếp

Non hai tháng sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, ngày 26 tháng 6 năm 1954, ông Ngô Đình Diệm nhận chức Thủ Tướng do Quốc Trưởng Bảo Đại giao, và ông về nước trong sự đón tiếp quá thờ ơ. Thủ đô Miền Nam hay đồng bào Saigon không hoan nghinh vị tân Thủ Tướng, cũng như đã chưa hề chịu chấp nhận những người Việt cầm quyền nào trước ông, do Pháp hay bù nhìn Bảo Đại của Pháp đưa ra. Mặc dầu bộ mặt chánh trị mới mẻ nầy là một nhà ái quốc có thành tích, song hầu hết người trong Nam chưa biết ông Ngô Đình Diệm. Hơn nữa, dân tình lúc nầy, hơn bao giờ hết, chỉ còn tin tưởng tương lai trước mắt là làn sóng đoàn quân chiến thắng Điện Biên Phủ sắp kéo vào tiếp thu nốt Miền Nam.

Báo chí phản ảnh trung thực dư luận quần chúng. Không một tờ báo nào hoan hô tin Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm Thủ Tướng. Ngay cả loan tin, họ cũng còn không buồn đăng, tôi phải chạy đến từng tòa soạn nhắc nhở như sẽ nói tới.

Tin ông Diệm sắp về nước chấp chánh là cả một sự bất ngờ cho tôi, gần như không tưởng tượng được. Thoạt đầu, tôi ngạc nhiên sao ông Diệm đang lưu vong sống ẩn dật trong tu viện ở ngoại quốc, hết Hoa Kỳ rồi Bỉ, trong một bầu không khí thật hợp với tánh tình ông, cũng như lúc ông trú ngụ trong nhà dòng Chúa Cứu Thế ở Việt Nam, sao lại trở về giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, Pháp thua xiểng liểng trước làn sóng Cộng Sản có cả Liên Xô và Trung Quốc Đỏ vĩ đại yểm trợ.

Cả Saigon huy động được có một nhúm nhỏ xíu công chức đi lên phi trường Tân Sơn Nhứt tiếp đón Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Dân thì chỉ gồm có nhóm thân hữu trong Ban Đón Tiếp. Lần đầu lưa thưa đi rước hụt đã là một thí nghiệm cho thấy một sự hưởng ứng bi đát. Chiếc phi cơ Air France đáp xuống rồi mới được thông báo là không có mặt ông Ngô Đình Diệm trên đó. Tôi cũng mừng cho họ Ngô khỏi phải thất vọng trước đám người le hoe đón tiếp hụt ông. Lần sau hy vọng Ủy Ban Tiếp Đón cố vận động mạnh hơn.

Ủy Ban Đón Tiếp trong đó có tôi, mệt nhọc tổ chức hội họp bàn thảo kế hoạch. Thấy có mặt hăng hái nhứt là cha Nguyễn Quang Toán dòng Chúa Cứu Thế, ông Phan Xứng, thầu khoán, sau được làm dân biểu, từ Đà Lạt xuống, ông Trần Quốc Bửu lãnh tụ Tổng Liên Đoàn Lao Công, bác sĩ Bùi Kiện Tín, và ông Cao Xuân Vỹ.

Hiện diện trong buổi họp còn có một tu sĩ trẻ tuổi tôi được nghe giới thiệu là cháu của ông Ngô Đình Diệm. Tôi nhớ trước đó mấy năm tôi đã có gặp nhà tu khôi ngô tuấn tú nầy tới thăm ông Diệm vài lần lúc tôi đang có mặt và nghe hai người xưng hô cậu cháu với nhau. Sau nầy tôi mới hay thanh niên mặc áo dòng đó là con của bà Cả Ấm (tục danh Ngô Đình Thị Hiệp), chị của ông Diệm, và chính là Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận sau nầy. Tôi không thấy ông ta xông xáo như cha Toán và không nghe ông đưa ra ý kiến gì trong phiên họp cho nên tôi không biết ông có góp công tác gì vào cuộc tiếp đón Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Ngay trong buổi họp đầu nầy tổ chức tại căn phòng mà ông Diệm và tôi từng cư ngụ 5 năm trước, tôi có nói lên khó khăn của tôi trong việc tham gia.

Tôi vừa bị toán quân đội vây bắt lính thộp cổ đêm hôm trước trong một cuộc bủa vây. Họ lập một văn phòng lưu động đặt trên một chiếc xe cam-nhông (camion = xe hơi lớn chở hàng) đặc biệt đậu bên hông chợ Cá Bà Chiểu. Thanh niên bị bắt lùa về đó sưu tra. Thấy năm sanh 1929 của tôi nằm đúng trong lứa tuổi quân dịch, viên Đại Úy khoái trá vui như vừa câu được cá. Nhìn vào thẻ báo chí, nhớ ngay tôi là phóng viên Văn Bia, ông ta càng cười to lên:

– Ha ha, cho phóng viên ngủ muỗi đêm nay được hông?

Tiếp tục, ông ta cứ hỏi thăm tôi về nữ phóng viên Cẩm Vân tôi làm chung trong báo Thần Chung. Cẩm Vân lúc ấy rất nổi tiếng. Cô ta vui vẻ dễ thương với mọi người, dĩ nhiên có cả với tôi. Là trưởng nữ của ký giả Nam Đình, chủ báo Thần Chung, nàng được lăng-xê (lancer = đưa lên) như diều gặp gió, được đi theo tôi, hay nói đúng là cô ta thường lái xe hơi chở tôi đi lấy tin tức, phỏng vấn, chụp hình. Tôi viết bài, nàng đăng hình. Nàng cũng như tôi, được gởi đi làm những cuộc phóng sự, phỏng vấn quan trọng, như đi viếng Điện Biên Phủ. Chỉ có khác là tôi phải viết bài và nhường lại cho nàng nghề nhiếp ảnh mà tôi hằng mê thích như viết, còn nàng thì có ông Cao Minh Chiếm ngồi thường trực trong tòa soạn viết giùm. Ngoài ra, Cẩm Vân kết thân với tướng Hinh là xếp to nhứt của quân đội. Không dè tôi cũng được nể lây, khỏi ngủ muỗi đêm đó, được thả ra đi tự do với lời dặn đừng để bị ai bắt lại lần nữa.

Mỗi đêm tôi thích thả xuống chợ Bà Chiểu, vô ngồi trong tiệm cà-phê gần góc chợ Cá phía đi về rạp hát Huỳnh Long, uống xây-chừng với anh bồi của cô nàng ”mối tình đầu” của tôi, để nghe ngóng tin trong lãnh vực mới nầy.

Sau đêm thoát nạn đó, tôi tính vừa sắp phải giã từ chạy theo tình, vừa “bái bai” (bye bye) nghề nghiệp làm báo nữa, không còn dám đi lạng quạng ra ngoài.

Tôi đâu có ngán đi lính chút nào. Làm gì nguy hiểm, cực khổ bằng đi Khu. Song tôi không thể gia nhập vào quân đội Việt Nam lúc đó Pháp đang thành lập trong mưu đồ dùng người Việt đánh người Việt, kéo dài chế độ Thực Dân dưới hình thức mới. Tôi được ông Diệm thâu dùng cũng vì tôi không phải là người làm việc cho Pháp, trái lại còn được coi là một người kháng chiến cũ đã từ Bưng Biền trở về. Ông Diệm tin tưởng những kẻ đã từng chiến đấu dưới bóng cờ đỏ sao vàng hơn những kẻ phục vụ dưới cờ tam sắc. Dưới trướng của ông, khởi đầu qui tụ toàn những tay Việt Minh, từ cựu dân biểu Phan Xứng, Trần Chánh Thành, Hồ Sĩ Khuê, Phạm Ngọc Thảo, v.v. đến cả tôi. Sau khi về nhận chức Thủ Tướng Miền Nam, ông Diệm đối thế phải sử dụng những người của Pháp trao lại. Nói cách khác, là phải thừa kế những sản phẩm của Thục Dân, như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, v.v., ngoại trừ Nguyễn Văn Hinh, Nguyễn Văn Xuân, Lê Văn Viễn (Bảy Viễn), ông Diệm dứt khoát không xài.

Tôi lấy tình trạng trốn lính để tránh tham gia Ủy Ban Tiếp Đón. Thú thật đây không phải là lý do chánh. Thật ra tôi đã chán nản chánh trị. Từ khi ông Diệm bỏ nước ra đi, tôi chỉ còn chú tâm vào nghề nghiệp mà tôi hết sức say mê. Như hầu hết đồng bào lẫn báo chí lúc ấy, tôi cũng mất hết tin tưởng có chế độ nào ở Miền Nam cứu vãn được tình thế. Ai nói tôi đã mất lập trường hay chủ bại, tôi đành chịu.

Song số tôi không bỏ ông Diệm được. Ông Ngô Đình Nhu, ngay giữa buổi họp, nói với bác sĩ Tín lo cho tôi một chứng minh thư như ổng là khỏi phải đi lính cho Pháp. Tôi đi may một bộ đồ ka-ki, mua cặp lon và ca-lô (mũ chào mào), chụp hình, lãnh thẻ chứng nhận tôi là một Thiếu Úy Cao Đài.

Được tự do trở lại, tôi tiếp tục rong rảo khắp phố như cũ. Lúc đầu gặp lính chào, tôi bỡ ngỡ không biết chào trả lại cách nào. Khoái nhứt là tôi không phải tạm ngưng nghề đi săn tin, làm phóng viên. Mấy đồng nghiệp khác, ở lứa tuổi tôi như anh Nguyễn Ang Ca, Song Châu, Huyền Vũ, Quốc Oai, v.v.. đều phải gia nhập quân đội, hầu hết đều phục vụ ở Phòng Năm về ngành Báo Chí.

Tôi sốt sắng tham gia Ủy Ban Tiếp Đón là cách tôi cám ơn bác sĩ Tín và ông Ngô Đình Nhu đã giúp tôi được tự do.

Ông Phan Xứng lo viết kiến nghị của dân thiểu số vùng Đắc Lắc mà đâu thấy có bóng dáng người Thượng nào. Ông Trần Quốc Bửu không huy động được đoàn viên các nghiệp đoàn, tưởng đâu rất to tát của ông. Cũng không thấy có nhóm Công Giáo nào do cha Toán mang tới.

Liên lạc viên duy nhứt với báo chí là tôi. Tôi chạy đến tờ báo lớn nhứt tôi từng làm là Thần Chung. Ông Nam Đình lắc đầu, gọi tôi bằng em như thường lệ, nói tôi chỉ có thể viết vắn tắt loan tin và in một tấm hình của ông Ngô Đình Diệm. Nhưng Ủy Ban Tiếp Đón muốn đừng phổ biến hình cho có vẻ một nhân vật bí mật đến giờ chót, kiểu như ông Hồ Chí Minh đã làm, nên tôi không xin ảnh được. Tuy vậy, nóng máu nghề nghiệp, tôi cũng lục ra được tấm hình ông Diệm đã đặc biệt tặng riêng tôi năm 1949, chụp lúc ông qua Hồng Kông gặp Bảo Đại.

Báo Thần Chung duy nhứt có hình đăng, một lần nữa, ăn đứt các báo khác, nhờ tôi. Còn duy nhứt một tờ báo nữa, vị tình tôi, nhận đăng bài thật ngắn tôi viết tin về nước của ông Diệm, là tờ Saigon Mới của ông bà Bút Trà. Báo Tiếng Dội và tờ báo tôi đang bỉnh bút lúc ấy là Tiếng Chuông, không đăng.

Anh em trong Ban Tổ Chức tỏ vẻ không hài lòng về sự lơ là của báo chí, hay sự bất tài huy động báo chí của tôi, tuy tôi đã báo trước khi tôi nhận lãnh nhiệm vụ, là tôi biết báo giới không hậu thuẫn cho ông Diệm đâu. Một người trong Ban Tổ Chức chê báo Saigon Mới viết cách không sốt sắng gì. Ông Ngô Đình Nhu tỏ ra hiểu biết, nói đỡ dùm tôi là đã có nhắc đến cũng là gây được sự chú ý rồi.

Ban Tổ Chức muốn đòi hỏi tôi dùng uy tín tôi có được trong báo giới mà xông xáo lớn tiếng hô hào đăng lên báo chí loan tin đón tiếp nhà ái quốc Ngô Đình Diệm hồi hương chấp chánh cứu nước qua khỏi cơn suy vong. Chuyện tôi cho họ trăm phần hoang tưởng. Tôi còn khuya mới chịu viết một bài tuyên truyền. Từ ngày nhập làng báo làm phóng sự và lấy tin tức, tôi đã quyết tâm giữ cho ngòi viết của mình luôn luôn được trung thực nên được hay bị coi là trung lập.

Về nước gần như trong lặng lẽ, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm được đưa về ở chung trong dinh Gia Long với cựu Thủ Tướng Bửu Lộc. Không mấy ai biết lễ bàn giao tổ chức lúc nào, hoặc có tổ chức hay không, tuy chánh phủ Ngô Đình Diệm được chánh thức thành lập ngày 7/7 nên Đệ Nhứt Cộng Hòa có ngày lễ quốc khánh Song Thất. Nhiều ngày sau, tôi vào dinh Thủ Tướng, vẫn còn gặp hoàng thân Bửu Lộc ở đó và tôi vẫn thưa gọi ông ta là Thủ Tướng.

Pháp tính gỡ gạc ván bài chót, mong phen nầy dùng được nhà ái quốc Ngô Đình Diệm, để không đến nỗi mất chài lẫn chì. Nhưng lầm to. Ông cựu Thượng Thư Bộ Lại Ngô Đình Diệm ngày nào đã dám từ quan mà nay nhận trở về trong hoàn cảnh nghiêng ngả thê lương nầy ắt chỉ vì một lý do duy nhứt: cứu quốc không ngại hiểm nguy cũng như chẳng màng danh lợi.

Gần như tay không, chỉ có lòng yêu nước, Ngô Đình Diệm về quê hương giành lại chánh nghĩa bằng cách bắt buộc quân xâm lăng Pháp phải rút lui, hoàn toàn giao trả mọi quyền quân sự, ngoại giao, công an, hành chánh lại cho Việt Nam. Dinh Toàn Quyền Pháp phải là Dinh Độc Lập của Việt Nam. Phải cấp tốc mau lẹ cho kịp trước mốc thời gian quyết định then chốt không còn xa mấy là ngày Tổng Tuyển Cữ.

Một tình hình hỗn loạn êm dịu chưa từng thấy đang diễn ra trong cả nước, đặc biệt tại Saigon, và quanh dinh Gia Long. Tôi sẽ tuần tự tường thuật. Sau bão động kinh hồn, yên tịnh khủng khiếp.

Việt Minh không thừa thắng xông lên đánh Pháp cút văng luôn sau chiến trận Điện Biên Phủ là có phần do áp lực quốc tế, chủ chốt là chính hai đàn anh Trung Cộng và Liên Xô. Số phận khốn nạn của nước nhược tiểu luôn chịu thiệt thòi, nhận lãnh sự sắp xếp của các cường quốc. Chu Ân Lai, ngoại trưởng Tàu, nhất quyết muốn Việt Nam phải chia hai như Hàn quốc.

Nga và Tàu thúc hối Phái Đoàn Phạm Văn Đồng, phía thắng thế đang trả giá cao thấp trên bàn hội nghị, phải chấp nhận điều kiện thất lợi rõ rệt đối với Việt Nam đang trên đà chiến thắng.

Về ranh giới, Pháp đòi vĩ tuyến 18 cao khỏi Trung Việt. Việt Nam đòi vĩ tuyến 13 ở đâu tới tận dưới Qui Nhơn là vùng độc lập của Việt Nam suốt thời kỳ kháng Pháp đến lúc đó chánh quyền của ta (Việt Minh) vẫn còn làm chủ. Song kết cuộc do áp lực của đàn anh, Việt Nam cuối cùng phải chịu chấp nhận vĩ tuyến 17.

Về thời hạn tổng tuyển cử, Việt Nam muốn thanh toán lẹ một khi giải pháp quân sự ổn định xong và tinh thần dân chúng còn đang cao độ, nên đề nghị nửa năm hay quá lắm là một năm thôi. Đàn anh ép nhận hai năm.

Hiệp Định Genève chỉ thỏa thuận ngưng chiến, tạm chia đôi Việt Nam đợi ngày bỏ phiếu toàn quốc vào mùa Hè 1956. Cuộc đình chiến đã ký kết, hai bên tôn trọng triệt để.

Trước hết, hai phe đối nghịch mỗi bên gấp rút gom lực lượng tập trung lại tại những vùng qui định. Cuộc xáo trộn của những cuộn sóng người trông hỗn loạn mà thật là êm dịu. Không xung đột. Không súng nổ. Bao nhiêu hận thù của mỗi phía trong phút chốc bị gác bỏ hay biến tan.

Ngoài Bắc, tôi ra viếng sau, sẽ kể sau. Ngoài Trung, tôi không có đến, tôi không biết. Trong Nam, Việt Minh rải rác khắp miền Nam ào ạt kéo quân về tập trung tại các địa điểm chánh, mới hôm qua còn là những thủ phủ hành chánh và quân sự của chánh phủ Miền Nam (do Pháp còn cai trị) là Bà Rịa, Cà Mau và Cao Lãnh.

Việt Minh về mà cư dân không bỏ chạy. Trái lại, từng làn sóng bà con thân nhân từ Saigon Chợ Lớn và từ khắp các nơi khác trong Nam Kỳ Lục Tỉnh lũ lượt kéo về thăm viếng bộ đội Việt Minh.

Nền hành chánh như không có sự thay đổi. Không có sự bắt bớ chế độ cũ chế độ mới gì hết trọi. Nước máy vẫn chảy mạnh, đèn điện vẫn cháy sáng trưng, chợ búa vẫn đông đúc, trật tự vẫn duy trì. Quang cảnh sinh hoạt của dân chúng tấp nập như thường ngày. Rộn rịp hơn thật nhiều thì có, do thêm sự hiện diện của rất đông đảo mũ tai bèo, khăn rằn và nón cối, bộ đội trú đóng tại các trường học, các công sở, các dinh ốc công cộng.

Tôi chỉ đến quan sát Cà Mau có vài lượt, còn tới Cao Lãnh cả chục lần vì anh Tám tôi theo bộ đội về đó chờ ngày tập kết ra Bắc. Tôi hết đi làm phóng sự với tư cách phóng viên báo Tiếng Chuông, đến làm hướng dẫn viên đưa má tôi, rồi em tôi, rồi bồ của anh Tám tôi là chị Lucie tới thăm anh. Má tôi còn nhớ người con vắng nhà nhiều năm, đòi đi thăm thêm mấy lần nữa. Nhiều khi tôi ở lại đêm liên tiếp hai ba ngày cũng không bị ai xét hỏi hay làm khó dễ.

Việt Minh đề phòng cuộc trở tay bất ngờ của Pháp, cho đến giờ chót không để lộ chủ lực của họ. Y như hồi sau ngày 30 tháng Tư 1975, Bắc quân toàn thắng, bộ đội vẫn giữ trong tình trạng báo động, đóng quân rải rác trong các khu vườn bao quanh Saigon, đầy dẫy trong rẫy mía Thuận Giao ở Lái Thiêu của tôi lâu cả mấy tháng, làm tôi tưởng như quân đội Việt Nam Cộng Hòa còn ẩn núp đâu đây sắp sửa phản công.

Tôi cố sức tìm coi bộ đội võ trang tập kết, chỉ thấy và chụp hình được vào ngày từng toán Việt Minh, hàng ngũ chỉnh tề với súng ống đầy đủ, bắt đầu kéo xuống từng chiếc xà-lan để ra tàu lớn.

Việt Minh để đa số thành phần nòng cốt và cán bộ rút lui vào những chuyến chót ngày cuối cùng. Anh tôi, chưa đi theo những toán trước, và chắc do tiệm chụp ảnh mật báo, biết tôi có xấp hình đã chụp, yêu cầu tôi đưa coi. Anh rút ra ngay hai tấm, bảo tôi nên bỏ đi. Hai tấm đó có chụp hình một anh bộ đội mang cây súng máy cũ xưa từ hồi Bảo Đại còn làm trùm. Đó là hình độc đáo tôi cố chụp để tính trình bày vũ khí thô sơ vẫn thắng đế quốc Pháp, song lại bị quân Kháng Chiến kiểm duyệt vì một lý do nào đó.

Tại một vùng cách chợ Cao Lãnh không mấy xa, có mả của ông Nguyễn Sinh Sắc là thân phụ của ông Nguyễn Sinh Cung tức Nguyễn Tất Thành tức Nguyễn Ái Quốc tức Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nằm giữa một khu vườn trái cây sầm uất trong vùng đất thấp thường bị ngập vào mùa nước nổi.

Ngôi mộ lúc ấy vừa mới được xây lại đơn giản nhỏ gọn bằng xi măng. Hình như cơ quan hay người xây ngần ngừ không biết hành động của họ sẽ nhận sự phê phán thuận hay bất lợi. Ngôi mộ gần như bị cố tình bỏ quên. Lần nào tôi đến để chụp lại vì hình lần trước chưa được hài lòng, đều ngạc nhiên để ý không thấy bộ đội hay cán bộ nào lai vãng kính viếng.

Cuối năm 2003, tôi trở về Việt Nam, có đến Cao Lãnh tìm thăm lại ngôi mộ nầy thì thấy đã trở thành một lăng tẩm đồ sộ có viện bảo tàng, có nhà sàng và ao cá Bác Hồ giống y kiểu mẩu ở ngoài Bắc, có công viên rộng lớn, tại vùng ngoại ô của Cao Lãnh nay đã là một thành phố khá nguy nga tân tiến đáng mang danh là Thành Phố Cha mà Ủy Ban địa phương đã đề nghị. Thành Phố Con là thành phố Hồ Chí Minh. Đồng Tháp được tính đổi tên thành Thành Phố Nguyễn Sinh Sắc (Thành Phố Cha) là điều tôi nghe dân địa phương bàn tán.

Trong đám khách đến thăm bộ đội, tôi nhận dạng nhiều bộ mặt quen thuộc ở thành, như các ký giả, và nhiều công tư chức. Có người tránh né, hay tỏ ra rất ngỡ ngàng khi chạm mặt với tôi tại đó, tôi không hiểu vì lý do gì. Có lẽ một số người có mặc cảm cho rằng tới vùng Việt Minh như vậy là đi lậu, bây giờ gọi là trở cờ.

Tình cảnh nầy không khác Việt kiều hiện nay về thăm quê hương, đụng đầu nhau lung tung, lúng túng nêu ra lý do nầy, nguyên do nọ phải về nước.

Dầu sao, điều tôi ước mơ là giang sơn có được lại quãng thời gian Cao Lãnh như thế đó, là người Việt Nam bất cứ từ chiến tuyến nào cũng là đồng bào. Đừng thù nghịch hại nhau nữa. Tôn trọng chính kiến của nhau. Cần tranh luận, có thể khuyến dụ chớ không nặng lời với nhau. Và quan trọng hơn hết, cả hai phía giữ đúng tinh thần dân chủ.

Lần nào đi vào khu Việt Minh tập trung cũng thoải mái như đi chợ. Không phe nào ngăn cản hay làm khó dễ những chuyến xe đò nườm nượp từ Saigon di đi về về Cao Lãnh hằng ngày. Khách đi thăm mang quà cáp, đồ đạc, tiền của đến tiếp tế người thân trong bộ đội, không khác làn sóng Việt kiều hiện nay về thăm quê hương. Có khác là báo chí lúc ấy không hề lên tiếng khen mà cũng không chê.

Không ngạc nhiên về sự vắng mặt của kẻ phá hoại phá rối, và vắng cả tiếng hằn hộc chửi bới. Tuy về mặt quân sự hầu như đã giải quyết dứt điểm, song còn chờ giải pháp ôn hòa bầu cử quyết định thể chế hợp lòng dân. Nếu người cùng một nước đều nhận chịu qui tắc dân chủ, thiểu số phục tùng đa số, lá phiếu thể hiện lòng dân chấp nhận thể chế cho một quãng lịch sử, thì sẽ không phải đổ máu đồng bào, nát tan quê hương. Nhứt là không phải cảnh cõng rắn cắn gà nhà đưa đến lệ thuộc ngoại bang nữa.

Tôi nghe nói anh Tám tôi làm chánh trị viên tiểu đoàn. Trước ngày tiễn anh xuống chiếc tàu há mồm của Mỹ để tập kết ra Bắc, tôi có hỏi anh có chắc đúng hai năm nữa sẽ có tổng tuyển cử như Hiệp Định Genève qui định hay không. Tôi nói là tôi đoán Miền Nam biết trước mắt là sẽ thua nên sẽ không chấp nhận cuộc tuyển cử. Anh tôi trả lời theo chỉ thị học được của lớp chỉ đạo:

– Có tổng tuyển cử đúng hẹn hay không tùy ở chính người dân.



—>Chương 50

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Phóng viên Văn Bia. Bookmark the permalink.