HẮC THƯ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN: Phần II (Fossion René và Trần Hữu Sơn lược dịch)

PHẦN 2.

– CÁCH MẠNG THẾ GIỚI-
NỘI CHIẾN VÀ KHỦNG BỐ


CHƯƠNG 17

KOMINTERN ĐƯỢC PHÁT ĐỘNG
VÀ CÁC HÀNH ĐỘNG CỦA CƠ QUAN NÀY

Sau khi đã nắm được chính quyền, Lénine mơ mộng sẽ mang ‘’ngọn lửa’’ cách mạng lan rộng khắp Âu Châu, rồi luôn cả thế giới. Giấc mộng này đáp ứng với biểu ngữ (slogan) của Karl Marx trong bản tuyên ngôn của cộng sản đưa ra vào năm 1848: ‘’Hỡi tất cả các người vô sản của tất cả mọi nước, hãy cùng nhau họp lại’’. Về tổng quát, đó là một điều tối cần: Cuộc cách mạng bolshevik chỉ có thể đứng vững nắm chính quyền và có thể phát triển được với điều kiện là sẽ được che đỡ, ủng hộ, giữ vững vị trí nắm chính quyền và được nâng đỡ cùng tiếp liên (relayée) bằng các cuộc cách mạng khác ở các nước mở mang hơn. Trước tiên Lénine nghĩ rằng, nước Đức với giai cấp vô sản được tổ chức cùng với khả năng kỹ thuật phong phú. Các nhu cầu phối hợp của hoàn cảnh không bao lâu nữa sẽ biến thành một kế hoạch chính trị thực thụ: Cuộc cách mạng thế giới. Trong hoàn cảnh của thời điểm này, các việc đã xảy ra hình như chứng minh cho các suy tư của nhà lãnh đạo bolshevik là đúng. Với việc tan rả của hai đế quốc Đức và Áo-Hung, gây ra do cuộc bại trận vào năm 1918 đã gây ra một cơn chấn động ghê gớm, gần như một cơn động đất lớn về chính trị, và được tiếp nối bởi cơn lốc lớn (tourbillon) về cách mạng. Trước khi các người bolshevik có được một sáng kiến nào khác ngoài ra các khẩu ngữ tuyên truyền, cuộc cách mạng hình như bất giác xảy ra trong cơn lốc do cuộc bại trận của Đức và Áo-Hung.

Cuộc cách mạng ở Âu Châu

Nước Đức là nước đầu tiên bị cơn chấn động gây ra, trước khi xảy ra cuộc đầu hàng, đả có xảy ra cuộc nổi loạn (multinerie) của toàn thể lực lượng Hải Quân. Cuộc bại trận của nước Đức được tiếp nối với việc thiết lập một nền cộng hòa do các người thuộc đảng xã hội dân chủ lãnh đạo. Các vị lãnh đạo này không thể ngăn cản được sức phản kháng dữ dội từ mọi phía, khi thì phát suất từ phía quân đội, khi thì do các cơ quan công an, khi thì do các nhóm nghĩa dũng binh (France-tireur) thuộc các phái siêu quốc gia, cùng với các người thán phục chế độ độc tài bolshevik.

Tháng 12 năm 1918, tại Berlin, hai vị Rosa Luxemburg et Karl Liebknecht đã cho phát hành chương trình của nhóm Spartakus và vài ngày sau đó hai vị này đã rời hàng ngũ đảng xã hội dân chủ để thành lập đảng cộng sản Đức. KDP cùng với sự liên hợp với các tổ chức khác. Hai khuynh hướng khác nhau đả xảy ra trong hàng ngũ của KDP, ngay từ đầu tháng Giêng năm 1919, khuynh hướng cực đoan do Karl Liebknecht cầm đầu và khuynh hướng ôn hòa do của Rosa Luxemburg. Khuynh hướng cực đoan muốn theo gương Lénine, từ chối việc thành lập một Quốc Hội Lập Hiến, cả hai điều toan tính tạo một cuộc dấy loạn ở Berlin nhưng theo lịnh của các nhà lãnh đạo xã hội dân chủ, quân đội đã dẹp tan cuộc dấy loạn này. Hai vị lãnh đạo này liền bị bắt và đến ngày 15 tháng Giêng năm 1919 thì bị giết chết. Và ngày 13 tháng 4 năm 1919, vị lãnh đạo KDP ở vùng Bavière, đó là ông Eugen Leviné đã cầm đầu một cộng hòa của các ủy viên vì ông này đả ra lịnh quốc hữu hóa các ngân hàng, và bắt đầu thành lập một đạo Hồng quân. Công xã Munich (commune de Munich) đã bị quân đội đánh tan vào ngày 30 tháng 4 năm 1919, ông Leviné bị bắt ngày 13 tháng 5, đã bị đưa ra xử trước Tòa Án quân đội, bị kết án tử hình và bị xử bắn vào ngày 5 tháng 6 năm 1919.

Cơn thúc đẩy cách mạng ( poussée révolutionnaire ) lừng danh hơn hết và là một gương mẫu chính là cuộc cách mạng đã diễn ra ở Hung-Gia-Lợi. Nước này là thành phần của đế quốc Áo-Hung Gia Lợi (Austro-Hongroise ) sau cuộc bại trận và bị tan rã vào tháng 11 năm 1918 đã không chấp nhận việc chia cắt phần đất của mình do các nước đồng minh quyết định, đó là việc cắt phần đất vùng Transylvanie, đã thành lập và đó là nước duy nhất mà các nhà lãnh tụ bolshevik đã xuất cảng được đường lối của họ. Khởi đầu từ năm 1918, đảng bolshevik đã quy tụ được tất cả các tổ chức có cảm tình với họ, các người này không phải là người Nga, họ được tổ chức thành một Liên Đoàn các người cộng sản người ngoại quốc. Ở Moscow có một nhóm người Hung Gia Lợi, nhóm này gồm các cựu tù binh chiến tranh và đến tháng 10 năm 1918, nhóm người này gồm có 20 người được gởi trở về Budapest. Ngày 4 tháng 11 năm 1918, đảng cộng sản Hung Gia Lợi (PCH) được thành lập dưới sự lãnh đạo của Béla Kun. Là một tù binh chiến tranh, Béla Kun đã nhiệt thành tán thành và gia nhập cuộc cách mạng bolshevik và đã trở thành vị chủ tịch liên đoàn các người cộng sản ngoại quốc vào tháng 4 năm 1918. Ông trở về đất Hung vào tháng 11 năm 1918 cùng với 80 vị lãnh tụ khác và được bầu lên làm chủ tịch đảng. Cuối năm 1918 và đầu năm 1919, người ta ước lượng được một số khoảng từ 250 đến 300 người ‘’quấy rối’’ và ‘’đặc phái’’ đã được đưa vào đất Hung. Nhờ sự viện trợ tài chánh của các người Sô Viết, các người cộng sản Hung đã có thể phát triển được các việc tuyên truyền và tăng cường ảnh hưởng của họ.

Tờ công báo của đảng xã hội dân chủ: Tiếng nói của nhân dân / NEPSZAVA, đã kịch liệt chống lại các người bolshevik, đã bị tấn công vào ngày 18 tháng 2 năm 1919, do một số đông các người thất nghiệp và các quân nhân do các người cộng sản động viên với mưu đồ hoặc là chiếm lấy nhà in hoặc là phá bỏ nhà in này. Cơ quan công an phải can thiệp và đã có 8 người chết cùng lối 100 người bị thương tích. Cùng vào đêm đó Béla Kun và bộ tham mưu của ông đều bị bắt. Ở tại khám đường trung ương, các nhân viên công an đã đánh đập các người bị bắt để trả thù cho bạn đồng sự của họ đã bị giết chết trong lúc tấn công vào nhà in báo Nepszava. Chủ tịch nước Hung, Michel Karolyi đã gởi vị bí thư của ông đến vấn an tình trạng sứ khỏe của vị lãnh đạo cộng sản và nhờ vậy vị này được hưởng một chế độ gần như tự do, nhân dịp này vị lãnh đạo này mới có dịp tiếp tục các hành động của mình và chẳng bao lâu, lật ngược lại được tình thế. Trong lúc còn đang ở khám đường, vị lãnh tụ này đã đạt được một sự thành công đáng kể: Đó là việc sát nhập đảng PCH vào đảng xã hội dân chủ. Được tiếp diễn theo đó là sự từ chức của vị chủ tịch Karolyi mở đường cho việc tuyên cáo thành lập cộng hòa các vị cố vấn, trả lại tự do cho các người cộng sản bị bắt và chấp nhận tổ chức theo khuôn mẫu các người bolchevik, thành lập một hội đồng nhà nước cách mạng quy tụ các vị ủy viên nhân dân. Cộng hòa này tồn tại được 133 ngày, từ ngày 21 tháng 3 đến 1 tháng 8 năm 1919.

Vừa vào cuộc họp đầu tiên, các ủy viên nhân dân quyết định ngay việc thành lập các tòa án nhân dân với các vị thẩm phán do nhân dân lựa chọn. Được liên lạc thường xuyên bằng điện tín với Budapest và khởi đàu vào ngày 22 tháng 3, Lénine đã có 218 bức điện văn được trao đổi, Béla Kun đã chấp nhận và coi Lénine là vị lãnh tụ của vô sản thế giới. Lénine đã khuyên Béla Kun hãy xử bắn các người xã hội dân chủ và các người tiểu tư sản. Trong lời kêu gọi của ông vào ngày 27 tháng 5 năm 1919: ‘’Hỡi các công nhân người Hung, ông đã chứng minh việc dùng sách lược khủng bố, cuộc chuyên chế này phải cần đến sự bạo động không nguôi, phải được quyết định ngay để đập tan các sự đối kháng của các người trục lợi, các người tư bản, các đại điền chủ và các tên tai sai của họ. Kẻ nào không hiểu các việc này không phải là người cách mạng. Chẳng bao lâu, Mathias Rakosi ủy viên phụ trách thương mãi và Eugen Varga ủy viên phụ trách các vấn đề kinh tế, cùng các người có trách nhiệm ở các tòa án nhân dân đã ‘’bán đứng’’ các người buôn bán, các người làm công và các vị luật sư. Một tờ tuyên cáo, dán trên các vách tường đã tóm tắt tinh thần vào thời đó: ‘’Trong một nhà nước của các người vô sản chỉ có các người nào có lao động mới có quyền sống còn’’. Việc lao động trở nên bắt buộc, các xí nghiệp trên 20 công nhân, rồi đến lượt các xí nghiệp có trên 10 công nhân, rồi đến các xí nghiệp có 10 công nhân đều lần lượt bị quốc hữu hóa và truất quyền sở hữu.

Lực lượng quân đội và công an đều bị giải tán và được thay thế bởi một lự lượng quân đội mới gồm các người cách mạng tình nguyện là thành phần nồng cốt và tin cẩn. Chẳng bao lâu một đội ‘’khủng bố’’ của hội đồng cách mạng của chính phủ được tổ chức dưới tên: ‘’các người của Lénine’’. Họ đã ám sát lối một chục người, trong số này có một vị Thiếu Úy Hải Quân trẻ tuổi Ladisla Dobsa, một vị phó đệ nhất quốc vụ khanh, và người con của vị này là giám đốc cục hỏa xa, ba vị sĩ quan hiến binh. Các người của Lénine vâng lịnh của một cựu thủy thủ József Czerny, người này đã động viên các người cộng sản tiến bộ nhứt, nhứt là các cựu tù nhân chiến tranh đã tham gia vào cuộc cách mạng bolshevik. Czerny đã liên minh với Szamuely, một vị lãnh tụ cộng sản cấp tiến và là đối lập với Béla Kun vì ông này đã đòi giải tán các ‘’toán người của Lénine’’. Để phản ứng lại, Czerny đã quy tụ các tay chân của y và bắt đầu tấn công vào tòa nhà của các Sô Viết vì Béla Kun đang làm việc tại đây với sự hổ trợ của József Haubrich, một đảng viên xã hội dân chủ đang kiêm nhiệm ủy viên phó nhân dân phụ trách quốc phòng. Sau hết là một cuộc thương lượng và các người của Czerny chấp nhận hội nhập vào cơ quan ủy viên nhân dân phụ trách bộ nội vụ hay là gia nhập vào quân đội, đó là trường hợp của đa số.

Tybor Szamuely cầm đàu một toán ‘’những người của Lénine’’ gồm có 20 người đã đi đến Szolnok, Thành Phố đầu tiên do Hồng quân Hung gia Lợi chiếm đóng và đã ra tay hành quyết nhiều người thân hào bị buộc tội đã hợp tác với các người Lỗ ma Ni (Roumains) và đã coi các người này là kẻ thù của nước Hung vì vấn đề các lãnh thổ thuộc vùng Transylvanie và về chính trị vì chế độ ở Roumanie đã chống lại chế độ bolshevik đang được thiết lập tại Hung. Một học sinh trung học gốc người Do Thái đã đến xin ân xá cho cha mình, đã bị giết chết vì cậu học sinh này đã dại dột gọi Szamuely là con ‘’dã thú’’. Vị chỉ huy Hồng quân Hung đã cố gắng chận lại sự hăng say cách mạng của Szamuely vì người này đi trên đoàn xe hỏa xa mà y đã trưng dụng (réquisitionné) để đi qua một vùng đất của nước Hung và ra lịnh ‘’treo cổ các người nông dân nào đã chống lại việc tập thể hóa’’ (collectivisation des terres) các đất đai. Người phụ tá của Szamuely là Jósef Kerekes đã bị cáo là đã tàn sát một trăm năm chục người, y thị đã thú tội là đã xử bắn năm người và chính tay y thị đã treo cổ 13 người khác. Con số chính xác các người bị tàn sát không bao giờ được biết rõ. Arthur Koestler nhà văn nổi danh với tác phẩm nổi danh giờ thứ 25 đã nhất định cho biết là có lối 500 người đã bị giết. Tuy vậy ông đã ghi: ‘’Tôi không thể nghi ngờ là chủ nghĩa cộng sản ở Hung Gia Lợi, với thời gian sẽ biến thành một nhà nước công an và chuyên chế và sẽ bắt buộc đi theo khuôn mẫu của nước Nga. Nhưng sự nhận định này, với các điều hiểu biết vừa được trưng ra, đã không làm giảm sự hăng say chứa nhiều nguồn hy vọng nơi những ngày đầu của cuộc cách mạng. Các vị sử gia đã xác nhận là các toán người của Lénine đã là thủ phạm của việc giết 80 người trong số 129 người đã bị hành quyết, con số này đã được chính thức kiểm kê, nhưng nếu đúng ra thì phải có xảy ra lối vài trăm người nạn nhân đã được biết đến.

Với cao trào chống đối gia tăng và việc suy sụp của tình hình quân sự trước quân lực Roumanie, chính phủ cách mạng phải dùng đến chính sách ‘’bài Do Thái’’. Một bản yết thị đã tuyên cáo: ‘’Các người gốc Do Thái đã từ chối đi ra tiền tuyến, hãy tiêu diệt các người này vì họ đã từ chối hiến thân cho chính sách thiêng liêng của chuyên chế vô sản’’. Béla Kun ra lịnh bố ráp năm ngàn người dân Balan gốc Do Thái khi các người này đến Hung để tìm lương thực và các tiếp tế khác. Các tiền bạc của họ đều bị tịch thu và họ bị trục xuất ra khỏi đất Hung. Các người cấp tiến của đảng cộng sản Hung PCH đã đòi đưa Szamuely lên lãnh đạo các thường vụ và đòi phải có một cuộc tàn sát đỏ như kiểu Saint-Barthélemy của cuộc cách mạng 1789 của Pháp, coi là như cách duy nhất để làm ngưng lại việc tình hình suy sụp nền Cộng Hòa của các ủy ban. Czerny cố gắng tái tổ chức lại các toán người của Lénine. Vào trung tuần tháng 7, một lời kêu gọi được đăng trên báo Nepszava: ‘’Chúng tôi kêu gọi các thành viên, của toán khủng bố này, đã giải ngũ, hãy đến trình diện để được tái tuyển mộ lại tại chỗ làm việc của József Czerny’’. Ngày hôm sau, một bản đính chính đã được đăng: ‘’Chúng tôi sẽ thông báo riêng cho mỗi cá nhân, việc tái hoạt động của các người Lénine cũ’’. Việc này không thể dự trù được: Các người này đã vi phạm và làm các việc xấu xa quá nặng và đã làm thương tổn đến danh dự của các người vô sản và việc tái tuyển dụng họ để phục vụ cho nền cộng hòa của ủy ban, đã bị hủy bỏ.

Những tuần lễ cuối cùng của công xã Budapest rất là hỗn độn, Béla Kun phải lo đương đầu chống lại một cuộc ‘’putsch’’ để loại ông và hình như âm mưu này do Szamuely cầm đầu. Ngày 1 tháng 8 năm 1919, Béla Kun rời Budapest dưới sự che chở của phái đoàn quân sự của Italie, vào mùa Hè năm 1920 ông tị nạn ở Liên Bang Sô Viết, vừa đến nơi ông đã được tuyển là ủy viên chính trị của Hồng quân Sô Viết và trên mặt trận ở về phía Nam, ông đã nổi danh vì đã ra lịnh hành quyết các người sĩ quan Bạch quân thuộc quân đoàn Wrangel, đã được kêu gọi là nếu họ đầu hàng và mạng sống của họ sẽ được bảo đảm. Ngày 2 tháng 8 năm 1919, Szamuely toan vượt biên để trốn qua nước Áo, y bị bắt và đã tự tử sau đó.

Komintern và trận nội chiến

Trong lúc Béla Kun và các đồng chí của ông toan tính việc thành lập một đệ nhị cộng hòa của các Sô Viết thì Lénine đã có sáng kiến để thành lập một tổ chức quốc tế để đưa cuộc cách mạng ra toàn thế giới. Đó là tổ chức được mang danh là quốc tế cộng sản và với tên viết tắt là Komintern hay là Đệ Tam Quốc Tế đã được thành lập vào tháng 3 năm 1919 và trên mọi bình diện đã trở thành địch thủ của quốc tế thợ thuyền đã được coi là Đệ Nhị Quốc Tế được thành lập vào năm 1889. Tuy vậy, đại hội thành lập tổ chức Komintern đã giải đáp các nhu cầu về tuyên truyền khẩn cấp và toan tính để dụ được các phong trào đột khởi đang làm rung chuyển Âu Châu, hơn là một khả năng thực tế về tổ chức. Sự thật về sự thành lập tổ chức Komintern bắt nguồn từ đại hội 2, được tổ chức vào mùa Hè năm 1920 với việc chấp thuận 21 điều kiện gia nhập mà các người xã hội phải chấp nhận phục tùng nếu họ mong ước được thu phục và được hội nhập vào một tổ chức ‘’siêu trung-ương tập trung’’ đó sẽ là ‘’bộ tham mưu’’ của cuộc cách mạng thế giới và đảng bolshevik, với các uy tín, các kinh nghiệm và nắm quyền nhà nước (riêng về tài chính, quân sự và ngoại giao) đã là thành phần ‘’nặng ký’’.
Tổ chức Komintern, liền khi đó đã được Lénine nghĩ ra và cơ quan niệm là một công cụ khuynh tả (subversion) quốc tế giống như các ngành khác: Hồng quân, Ngành Ngoại giao, các cơ quan Gián điệp v.v… và học thuyết chính trị của tổ chức Komintern được bắt chước y nguyên theo các tổ chức bolshevik: Đây cũng là thời điểm để thay thế các vũ khí bị chỉ trích bằng các cuộc chỉ trích về vũ khí. Bản tuyên ngôn của đại hội 2 đã được chấp nhận, hiên ngang thông báo: ‘’Quốc tế cộng sản đó là đảng quốc tế để dấy loạn và của chuyên chính vô sản’’. Để kết thúc, điều kiện thứ 3 ở trong 21 điều kiện đã quyết định: Gần như toàn các nước ở Âu Châu và ở Mỹ Châu, việc đấu tranh giai cấp đã bước vào giai đoạn nội chiến. Các người cộng sản không thể tin cậy vào sự hợp pháp của bọn trung lưu trưởng giả. Bổn phận của họ là phải tổ chức ở khắp mọi nơi, song song với các cơ quan hợp pháp, một cơ quan bí mật có thể, và quyết định khi thời gian thuận tiện sẽ thi hành và làm đủ bổn phận đối với cuộc cách mạng thế giới. (cộng sản Việt Nam đã thực hành điều này). Định thức uyển khúc (formules euphémisées): Giai đoạn quyết định là cuộc dấy loạn cách mạng, và bổn phận đối với cuộc cách mạng đó là bắt buộc lao mình vào một cuộc nội chiến hay là bắt buộc tạo ra một cuộc nội chiến. Một chính sách không dành riêng cho các nước sống dưới chế độ độc tài mà chỉ áp dụng cho các nước dân chủ, các nước cộng hòa hay vương quốc lập hiến.
Điều kiện thứ 12 ghi rõ ràng là nhiều sự cần thiết về các tổ chức dính liền với nhau để chuẩn bị cho một cuộc nội chiến: Về thời điểm hiện nay của cuộc nội chiến ác liệt đang xảy ra, đảng cộng sản chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ, nếu được tổ chức tập trung về trung ương,với một ‘’kỷ luật thép’’ tiếp cận với kỹ luật quân đội được chấp thuận, và cơ quan trung ương được tập trung nhiều quyền lực rộng rải và thi hành một quyền uy không tranh luận và được hưởng một sự tín nhiệm nhất trí của toàn thể các lãnh tụ. Điều kiện thứ mười ba cũng đã dự định về các vị lãnh đạo không nhất trí: Các đảng cộng sản phải thi hành các cuộc khai trừ định kỳ ở trong các tổ chức của họ để loại bỏ các phần tử bị dính líu và các ‘’tiểu tư sản’’.

Tháng 6 năm 1921, lúc đại hội 3 họp tại Moscow, với việc tham dự của nhiều đảng cộng sản của các nước, đã được thành lập, các khuynh hướng đã trở nên rõ rệt: Luận đề về các chiến thuật đã chỉ rõ: Đảng cộng sản có bổn phận giáo dục cho nhiều từng lớp của quảng đại quần chúng, bằng lời nói và các việc làm, quan niệm là các cuộc xung đột hay tranh chấp về kinh tế hay về chính trị, được sự trợ lực của nhiều trường hợp thuận tiện, có thể trở thành một cuộc nội chiến và khi ấy bổn phận của giai cấp vô sản là nắm lấy quyền chính trị. Các luận đề về các cách cấu tạo, các đường lối cùng các hành động của các đảng cộng sản phải được tổ chức bí mật, dù là ở trong lòng của đảng, các luận đề này đã nhấn mạnh về các việc chuẩn bị rất cần thiết và các biện pháp rất cần là: ‘’không phải bất cứ lúc nào vấn đề tổ chức một đạo Hồng quân cũng có thể thực hiện được’’.
Từ lý thuyết đến thực hành, chỉ có một bước đã đạt được ở nước Đức vào tháng 3 năm 1921, cơ quan Komintern dự định thực hành một hành động cách mạng rộng rãi, dưới sự lãnh đạo của Béla Kun, trong thời gian này đã được bầu vào chức chủ tịch đoàn của tổ chức Komintern. Được phát động vào thời điểm các người bolshevik đang đàn áp công xã Kronstadt, cuộc ‘’khởi động tháng 3’’ một mưu toan nổi loạn thiệt thọ được diễn ra ở vùng Saxe, đã thất bại dù nhiều phương tiện đã được cung cấp và các cuộc bạo động dữ dội như việc đặt ‘’cốt mìn’’ phá hoại đoàn xe hỏa tốc hành đi từ Halle đến Leipzig. Cuộc thất bại này đã đưa đến việc diễn ra cuộc thanh trừng đầu tiên ở trong hàng ngũ của tổ chức Komintern. Paul Levi, chủ tịch đảng cộng sản Đức (KPD) và là một trong những người thành lập tổ chức Komintern đã bị loại ra khỏi hàng ngũ vì các lời chỉ trích của ông đã nói về cuộc ‘’phiêu lưu này’’. Dù đã nằm dưới ảnh hưởng nặng nề của khuôn mẫu Sô Viết, các đảng cộng sản trên nhãn quan của ‘’định chế’’ chỉ là các phân chi quốc gia của quốc tế cộng sản, các phân chi này đã dần dần đi đến việc không lệ thuộc, việc này đã diễn ra trước việc không phục tòng và được quyết định vào tời điểm thẫm cấp sau cùng (dernière instance) cho đường lối chính trị và tổ chức của Komintern. Khuynh hướng ‘’nổi loạn’’ ở các nơi của Grigori Zinoniev đã bị chính Lénine chỉ trích. Nhưng Zinoniev, trên căn bản đã cho Paul Lévi đã có lý khi trao quyền lãnh đạo KPD lại cho các người đối nghịch của Lévi. Sức mạnh của tổ chức Komintern đã được cũng cố dịa vị của nó.

Quân đội Pháp và Bỉ vào chiếm đóng vùng kỹ nghệ nặng Ruhr vào tháng Giêng năm 1923, để bắt buộc nước Đức phải trả tiền bồi thường thiệt hại do chiến tranh gây ra, theo với tinh thần hòa ước Versailles ngày 23 tháng 6 năm 1919. Một kết quả cụ thể do việc chiếm đóng của quân đội hai nước, đưa đến việc thỏa hiệp của các người quốc gia và người cộng sản Đức để chống lại ‘’chủ nghĩa đế quốc của Pháp’’, cùng đưa đến việc đối kháng thụ động của dân Đức ở vùng bị chiếm đóng, việc đối kháng thụ động này được chính phủ Đức ủng hộ. Tình hình kinh tế đang bất ổn, bổng mỗi ngày mỗi suy sụp thêm. Đồng tiền của nước Đức đã trở nên vô dụng, một đồng Mỹ kim đổi được 13 triệu đồng tiền Mark của Đức. Các cuộc đình công, biểu tình và dấy loạn tiếp tục diễn ra. Ngày 13 tháng 8 trong một bầu không khí cách mạng, chíng phủ của Thủ Tướng Wilhelm Cuno bị bắt buộc phải từ chức.

Tại Moscow, các nhà lãnh đạo Komintern suy tính là sẽ xảy ra một cuộc cách mạng giống như cuộc cách mạng tháng 10 tại Nga. Khi cuộc bất đồng ý kiến giữa các người lãnh đạo này đã được giải quyết, vậy ai sẽ là một trong những người sau đây: Trotski, Zinoviev, hay là Staline, ai sẽ là người lãnh đạo cuộc cách mạng thứ hai này?. Tổ chức Komintern khởi đầu một cuộc tổ chức võ trang nghiêm chỉnh để khởi loạn to, có tổ chức chu đáo. Nhiều phái viên như August Gouralski, Mathias Rakosi được phái sang nước Đức và cùng đi theo với họ là viên Tướng Alexandre Skoblewski với bí danh Gorev, là một chuyên viên tổ chức nội chiến. Họ dự định là dựa vào các chính phủ của thợ thuyền (vì nước Đức được tản quyền cho các vùng) nơi các vùng gồm các người xã hội dân chủ thiên tả và các người cộng sản, các chính phủ này đang trên đường thành lập để lấy cho được một số nhiều vũ khí. Được phái đi về vùng Saxe, Rakosi dự định cho nổ chiếc cầu hỏa xa nối liền vùng này cùng với nước Tiệp Khắc, để mong nước Tiệp Khắc sẽ can thiệp vào và từ đó gây thêm được sự hỗn loạn.

Tất cả các cuộc bạo động được dự trù là sẽ phát khởi vào ngày kỷ niệm cách mạng tháng 10 của cuộc ‘’putsch’’ bolshevik. Sự kích thích lan tràn ở Moscow, họ tin tưởng là cuộc khởi loạn sẽ thành công và động viên Hồng quân tập trung ở biên giới Nga-Đức sẵn sàng tiến quân vào nước Đức để hổ trợ các người dấy loạn. Đến trung tuần tháng 10, các người cộng sản chịu gia nhập vào các chính phủ thuộc vùng Saxe và Thuringe và nhận được lịnh phải tăng cường cho các lực lượng quân dân vô sản (lối vài trăm người) gồm có 25% là các đảng viên cộng sản. Nhưng qua ngày 13 tháng 10, chính phủ do Gustav Stresemann đã ban hành lịnh ‘’khẩn trương’’ cho vùng Saxe và đặt vùng này dưới quyền lãnh đạo trực tiếp của chính phủ trung ương, tước quyền của chính phủ vùng, và kêu gọi sự hổ trợ của quân lực Đức- Reichswehr. Mặc dù sự kiện này đã xảy ra, Moscow vẫn kêu gọi việc võ trang cho các công nhân và khi Heinrich Brandler trở về Moscow đã ra lịnh tổng đình công nhân dịp có một đại hội công nhân được tổ chức ở Chemnitz vào ngày 21 tháng 10. Mưu đồ này bị thất bại vì các người thuộc đảng xã hội cách mạng phe khuynh hữu đã từ chối không nghe theo các người cộng sản. Các người cộng sản đành lùi bước, nhưng vì sự thông tin bị chậm trễ, cuộc bạo động đã xảy ra ở Hambourg: Các toán chiến đấu người cộng sản (khoảng từ 200 đến 300 người) đã tấn công vào các trụ sở của cảnh sát. Cơn bất ngờ trải qua, các người nổi loạn đã không đạt được mục tiêu của họ, lực lượng cảnh sát cùng với sự hổ trợ của quân đội Đức-Reichswehr, đã phản công lại và sau 33 giờ đồng hồ chiến đấu, cuộc nổi dậy đã bị cô lập hoàn toàn, các người cộng sản ở Hambourg đã bị ‘’bóp tắt’’ (juguler). Một cuộc cách mạng thứ hai mà Moscow đã đặt nhiều hy vọng đã không xảy ra. Và tổ chức M. Apparat được tồn tại cho đến các năm 1930 và là một cơ cấu quan trọng của KPD và được mô tả rỏ ràng do người lãnh đạo là Jan Valtin với tên thật là Richard Krebs.

Sau nước Đức, nước Cộng Hòa Estonie là nơi đã diễn ra cuộc toan tính nổi loạn thứ hai. Và cũng là lần thứ hai cộng sản Nga đã gây sự chống lại dân tộc nhỏ bé này. Ngày 27 tháng 10 năm 1917, một hội đồng các Sô Viết đã nắm lấy quyền ở Tallinn-Reval, họ đã giải tán quốc hội, hủy bỏ các cuộc bầu cử thất lợi cho các người cộng sản Estonie. Trước áp lực của đoàn quân viễn chinh Đức, các người cộng sản tháo lui. Trước khi quân viễn chinh Đức chiếm đóng, người dân Estonie đã tuyên cáo ‘’độc lập’’ vào ngày 24 tháng 2 năm 1918. Vì bị bại trận vào ngày 11 tháng 11 năm 1918, quân đội viễn chinh Đức bị bắt buộc phải triệt thoái, các người cộng sản trở lại nắm lấy sáng kiến: Ngày 18 tháng 11, một chính phủ được thành lập ở Petrograd và hai sư đoàn Hồng quân xâm lăng nước Estonie. Mục tiêu của cuộc tấn công này đã được giải thích rõ ràng trong nhật báo: Severnaĩa Kommuna (công xã miền Bắc): Chúng tôi phải xây dựng một chiếc cầu để nối liền nước Nga Sô Viết với nước Đức và Áo vô sản… Cuộc thắng trận của chúng tôi sẽ nối liền các lực lượng cách mạng, không ai ngăn cản nổi, từ Tây Âu với cách mạng Nga và nơi đó sẽ tạo lên một cuộc cách mạng xã hội toàn cầu. Tháng Giêng năm 1919, khi tiến quân còn cách Thủ Đô Estonie ba chục cây số thì Hồng quân đã bị Quân Lực Estonie phản công và bị chận đừng lại. Hồng quân tái tấn công lại lần thứ hai nhưng rồi cũng bị thất bại. Ngày 2 tháng 2 năm 1920, do hòa ước ký ở Tartu, các người cộng sản Nga nhìn nhận nền độc lập của Estonie. Trong những vùng tiến quân xâm lăng, các người bolshevik đã thực hành các cuộc tàn sát: Trước khi rút lui ngày 14 tháng Giêng năm 1920 tại Tartu họ đã tàn sát 250 người và ở địa hạt Rakvere cũng đã có trên 1000 người đã bị giết chết. Khi quân lực Estonie giải phóng được Thị Trấn Wesenberg vào ngày 17 tháng Giêng, họ đã phát giác ra ba hố chôn tập thể với 86 tử thi. Ở Thị Trấn Dorpad, các người con tin bị xử bắn ngày 26 tháng 12 năm 1919, những người nạn nhân đã bị tra tấn, tay chân đều bị đánh gãy, có nhiều người đã bị móc mắt. Ngày 14 tháng Giêng, trước khi rút lui, các người bolshevik chỉ còn đủ thời gian để hành quyết 20 người trong số này có vị Tổng Giám Mục Platon, những người này ở trong số 200 người mà họ còn bị bắt giam. Họ đã bị dùng bá súng và búa rìu đánh chết, có một số sĩ quan đã bị lấy đinh sắt đóng hai chiếc cầu vai (épaulette) vào thân thể, các người bị giết này đã khó có thể nhận ra được dạng người (difficilement identifiable).

Tuy là đã ký hòa ước các người bolshevik Nga vẫn tiếp tục tìm cách lôi kéo nước cộng hòa bé nhỏ này vào vùng quỹ đạo ảnh hưởng của họ. Tháng 4 năm 1924, đã diễn ra một cuộc ‘’họp mật’’ ở Moscow, giữa Zinoviev và các người cộng sản Estonie để bàn thảo cách thức tạo nên một cuộc nổi loạn bằng vũ lực. Các người cộng sản đã thâu nhận được lối 1000 người tổ chức thành nhiều đại đội với các cấu tạo căn bản và bắt đầu việc lũng đoạn cùng làm khủng hoảng tinh thần của Quân Lực Estonie. Họ dự định tạo một cuộc khởi loạn và một cuộc đình công để ủng hộ cuộc khởi loạn. Khi ấy đảng cộng sản Estonie có khoảng 3000 đảng viên và họ bị đàn áp dữ dội. Qua ngày 1 tháng 12 năm 1924, họ toan tính cướp chính quyền ở Tallin để tuyên cáo thành lập một Cộng Hòa Xô Viết với nhiệm vụ chính là xin gia nhập vào nước Nga Sô Viết, như vậy chứng minh được việc đưa Hồng quân vào lãnh thổ Estonie. Mưu toan này đã thất bại cùng trong ngảy đó. Trong khi mưu toan này đang diễn tiến, các vị sĩ quan đã đầu hàng các người nổi loạn hay là đã tỏ ra thái độ không theo bên nào liền bị xử bắn vì thái độ của họ: Các người đảo chính không chấp nhận thái độ này, chỉ có người chịu theo họ thì được an toàn mạng sống. Người chỉ huy cuộc đảo chánh này là Jan Anvelt, đã tẩu thoát được sang Nga. Y là một cán bộ của tổ chức Komintern trong nhiều năm và đã ‘’biến mất’’ sau các cuộc ‘’thanh trừng’’.

Sau nước Estonie, đến lượt nước Bulgarie. Năm 1923 tại nước này đã xảy ra nhiều cuộc rối loạn trầm trọng. Lãnh tụ đảng Điền Địa là Alexandre Stamboliski đã liên minh với các người cộng sản, ông này đã bị ám sát vào tháng 3 năm 1923 và người thay thế ông ở ghế Thủ Tướng là Alexandre Tsankov, ông đã được sự ủng hộ và hổ trợ của quân đội và công an. Qua đến tháng 9, các người cộng sản phát động một cuộc nổi loạn kéo dài trong vòng một tuần lễ và cuộc nổi loạn này đã bị đàn áp dử dội. Bắt đầu từ tháng 4 năm 1924, họ đổi chiến thuật và thi hành các hành động trực tiếp và tạo ra các cuộc ám sát. Ngày 8 tháng 2 năm 1925, họ tấn công vào Quận Godetch và gây ra 4 người chết. Ngày 11 tháng 2, tại Thủ Đô Sofia, Dân Biểu Nikolas Mileff, Giám Đốc nhật báo Slovet và là chủ tịch của nghiệp đoàn các ký giả, đã bị ám sát chết. Ngày 24 tháng 3 một bản tuyên cáo của đảng cộng sản Bulgarie-BKP, đã báo trước là chính phủ của Tsankov sẽ không tránh khỏi được việc bị lật đổ, như vậy đã tiết lộ ra sự liên quan các hành động khủng bố với các mục tiêu chính trị của những người cộng sản. Đầu tháng 4, một cuộc âm mưu ám sát Vua Alexandre Đệ Nhất đã gần như thành công, và đến ngày 15 tháng 4, Tướng Kosta Georghieff một người thân cận của Vua đã bị ám sát chết.

Rồi một loạt biến cố khác đã xảy ra trong các năm bạo động về chính trị: Ngày 17 tháng 4, trong lúc cử hành tang lễ cho Tướng Georghieff, ở tại Nhà Thờ Septs-Saints tại Thủ Đô Sofia, một tiếng nổ lớn đã xảy ra khiến cho các nóc chính của nhà thờ bị sụp đổ. Người ta ghi nhận được biết: Có 14 vị tướng, 16 vị sĩ quan cao cấp, 3 nghị viên trong số 140 người chết. Theo lời tường thuật của Victor Serge thì chính phân chi quân sự của đảng cộng sản Bulgarie đã tổ chức cuộc phá hoại giết người này. Các người thủ phạm chính là Kosta Iankov và Ivan Minkov. Họ đã bị giết chết vì đã chống cự lại lúc bị bắt, khi trên tay còn cầm vũ khí.

Sau khi lãnh chịu các cuộc thất bại tơi bời ở Âu Châu, tổ chức Komintern dưới sự thúc đẩy của Staline đã tìm ra một chiến trường mới, họ hướng các cố gắng của họ về nước Trung Quốc. Nước này đang ở vào một tình trạng hỗn loạn, vì xảy ra các cuộc nội chiến và các cuộc tranh chấp xã hội , với đà tiến (élan) của tinh thần quốc gia, nước rộng bao la này hình như đã ‘’chín mùi’’ cho cuộc cách mạng ‘’chống lại đế quốc’’. Dấu hiệu của thời đại: mùa Thu năm 1925 các người sinh viên Trung Quốc đang theo học tại Đại Học cộng sản của các công nhân Phương Đông KUTV, được thành lập vào tháng 4 năm 1921 được tập họp lại ở một viện Đại Học Sun Yat Sen (Tôn Dật Tiên ). Hồ chí Minh từ Pháp sang là học viên đầu tiên của KUTV.

Dưới sự huấn luyện của các vị lãnh tụ tổ chức Komintern và các cơ quan Sô Viết, các người cộng sản Trung Quốc, vào lúc này Mao trạch Đông chưa lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc, các người sinh viên cộng sản đã được khuyến khích liên minh chặt chẽ với đảng quốc gia, đảng Quốc Dân và vị lãnh đạo của đảng này, là viên Tướng trẻ tuổi Tưởng Giới Thạch. Chiến thuật mà các người cộng sản đã chọn lựa là bao vây Quốc Dân Đảng để biến đảng này thành một con ngựa của Thành Troie khi cuộc cách mạng được phát động. Người đặc phái của tổ chức Komintern tên Mikhail Borodine đã đạt được chức cố vấn bên cạnh Tưởng Giới Thạch. Năm 1925, phe tả khuynh của Quốc Dân Đảng, phe này chủ trương hợp tác chặt chẽ với Liên Bang Sô Viết, phe này đã nắm được quyền lãnh đạo Quốc Dân Đảng. Các người cộng sản gia tăng các cuộc tuyên truyền của họ, khuyến khích các cuộc sôi nổi về xã hội để cũng cố ảnh hưởng của họ, và gần như đã chế ngự được đại hội 2 của Quốc Dân Đảng. Nhưng chẳng bao lâu, một chướng ngại vật đã hiện ra trước mặt họ: Tưởng Giới Thạch đã lo âu trước sự bành trướng của ảnh hưởng cộng sản. Ông đã kết luận và kết luận đúng là các người cộng sản muốn loại ông ra khỏi cơ quan lãnh đạo. Ra tay trước, ngày 12 tháng 3 năm 1926 ông tuyên bố thiết quân luật, cho bắt giam các phần tử cộng sản nằm trong lòng Quốc Dân Đảng luôn cả các vị cố vấn Sô Viết, các người này được trả tự do vài ngày sau đó và bất tín nhiệm người cầm đầu các người thiên tả nằm trong đảng của ông, sau đó ông đưa ra một hiệp ước (pacte) gồm có 8 điểm để hạn chế các đặc quyền và các hành động cộng sản trong lòng đảng. Tưởng Giới Thạch đã trở thành vị lãnh đạo, không thể chối cãi được của Quân Lực Quốc Gia. Đứng trước sự tương quan các lực lượng, Borodine đành phải chấp nhận.

Ngày 7 tháng 7 năm 1926, được viện trợ của Liên Bang Sô Viết một số vũ khí quan trọng, Tưởng Giới Thạch liền phát động một cuộc Bắc phạt, ra lịnh cho các đạo quân quốc gia tiến công vào các vùng Bắc nước Trung Quốc còn nằm dưới quyền các vị sứ quân. Ngày 29 tháng 5, ông tuyên bố thiết quân luật ở Quảng Châu. Các vùng nông thôn thuộc các Tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam, đã là các con mồi cho cuộc cách mạng điền địa và do tình cách hiếu động (dinamique) đã đặt lại vấn đề liên minh giữa các người cộng sản và các người quốc gia. Trong các Thành Phố lớn vào thời đó có nhiều cơ xưởng quan trọng, các nghiệp đoàn đã kêu gọi đình công như Thành Phố Thượng Hải, khi các lực lượng quân đội tiến quân đến gần các Thành Phố này. Các người cộng sản trong số này có ông Chu ân Lai đã kêu gọi nổi loạn, hy vọng là Quân Lực Quốc Gia sẽ tiến mau vào các Thành Phố. Nhưng không có việc gì xảy ra. Cuộc nổi loạn ngày 22, 24 tháng 2 năm 1927 đã thất bại và các người đình công đã bị viên Tướng Li Baozhang đàn áp dữ dội.

Ngày 21 tháng 3, một cuộc tổng đình công lớn đã diễn ra và một cuộc nổi loạn lớn đã lật đổ chính quyền tại chỗ. Một Sư Đoàn của Quốc Quân với vị Tướng chỉ huy đã nhận định là cần phải can thiệp, đã ra lịnh tiến quân vào Thượng Hải và vị Tướng này đã được Tưởng Giới Thạch tiếp tay và quyết định nắm lại tình thế. Họ đã thành công và Staline đã bị bao vây bởi những ám ảnh các chiều hướng ‘’chống đế quốc’’ của Tưởng Giới Thạch và nơi quân đội quốc gia của ông, vào cuối tháng 3, ông đã ra lịnh chôn dấu vũ khí và tiếp tục đường lối chung với Quốc Dân Đảng. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch cho tái diễn lại Quảng Châu cục hành quân mà ông đã thi hành ở Thượng Hải, các người cộng sản bị truy bắt và bị bắn hạ.

Nhưng Staline cần phải thay đổi chính sách vào lúc thời điểm đang vào lúc đen tối, để khỏi phải mất mặt trước các lời chỉ trích của những người đối lập, ông đã phái đi hai người thân cận, Vissarion Lominadze và Heinz Neumann để tái phát động lại phong trào nổi loạn, sau khi đã dứt bỏ ‘’liên minh với Quốc Dân Đảng’’. Mặc dầu bị thất bại do cuộc ‘’nổi loạn vào mùa gặt mùa Thu’’ do 2 phái viên nói trên chủ đạo, họ vẫn kiên trì để tạo được cuộc nổi loạn ở Quảng Châu để có thể, theo như nhận thức của Souvarine là tạo cho vị thủ lãnh một bản tin thắng trận, vào cùng lúc đại hội thứ 15 của đảng bolshevik được họp và Staline đã nhân dịp này khai trừ các người đối lập với ông. Thủ đoạn này (manoeuvre) đã cho thấy rõ cường độ của việc coi rẻ mạng sống của con người, mà nhiều người bolchevik đã thực hành dù là đối với các người cùng phe hay thân họ và đây cũng là một việc mới mẻ. Việc tạo dựng một cách vô ý thức công xã Quản Châu đã chứng minh cùng một ý nghĩa và cũng không khác gì các hành động khủng bố đã xảy ra ở Bulgarie vài năm trước đó.

Vài ngàn người nổi loạn đã phải chiến đấu ròng rã trong 48 giờ đồng hồ để đương đầu lại một lực lượng đông hơn họ gấp 5 hay 6 lần, tính về nhân số. Công xã ở Trung Quốc đã không được chuẩn bị trước: Từ số vũ khí không đủ và nằm vào một hoàn cảnh chính trị bất lợi, các công nhân người Quảng Đông chỉ còn sống trong tình cảnh chờ đợi. Trong buổi tối đêm 10 tháng Chạp năm 1927, các lực lượng trung tín đã tiến chiếm vị trí tại các nơi tập họp đã được dự định trước cho các vệ binh đỏ. Cũng giống như những gì đã xảy ra tại Hambourg, các người nổi loạn đã hưởng được các lợi điểm của các sáng kiến nhưng các lợi điểm này mất dần dần. Trong buổi sáng ngày 12 tháng Chạp, việc tuyên cáo thành lập một ‘’cộng hòa Sô Viết’’ không gây được một tiếng vang nào ở trong dân chúng. Trong buổi trưa, các lực lượng thuộc Quân Lực Quốc Dân Đảng bắt đầu phản công. Sau hai ngày, lá cờ đỏ được treo trên mái nhà của cơ quan công an được kéo xuống. Cuộc đàn áp đã diễn ra một cách man rợ và đã có nhiều ngàn người bị giết.

Tổ chức Komintern cần phải đúc kết những bài học của những cuộc thử nghiệm này, nhưng khó có thể cho họ bàn đến các vấn đề chính trị căn bản. Một lần nữa, sự bạo động đã được chứng minh đối với và chống tất cả bằng các danh từ đã được thuấn nhuần trong một nền văn hóa nội chiến, cho các người cán bộ cộng sản. Được đọc trong: Võ trang bạo động nơi câu dẫn nhập của một lời kiểm thảo khủng khiếp với một lời kết thúc rõ ràng: ‘’Người ta đã không chú ý đến việc loại bỏ các người phản cách mạng xuốt trong thời gian của công xã Quảng Châu, người ta chỉ giết có lối 100 người, nằm ở trong tay các người nổi loạn. Tất cả các người bị bắt giam chỉ bị hành quyết sau khi được một ủy ban chống lại bọn phản động. Trong lúc đang giao tranh và giữa cuộc nổi loạn, hình thức tố tụng đã quá chậm chạp và bài học này đã được ghi nhớ’’.

Sau cuộc thảm bại này, các người cộng sản rút lui ra khỏi các Thành Phố và tái tổ chức lại ở các vùng xa xôi của nông thôn và khởi đầu vào năm 1931, tổ chức ở các vùng Hồ Nam Giang Tây các ‘’vùng giải phóng’’ được sự che chở của một đạo quân đỏ. Một tư tưởng chế ngự các người cộng sản Trung Quốc là: Hãy còn quá sớm cho cuộc cách mạng diễn ra, trước tiên là vấn đề quân sự, đề cử ra việc tạo các cơ cấu chính trị bộ máy quân sự cho đến khi Mao trạch Đông đủ tóm tắt công thức lừng danh của ông: Quyền lực và mũi súng tạo ra, các diễn tiến về sau này đã chứng tỏ rằng đó là các tinh túy mà nhãn quan của cộng sản dùng để nắm lấy quyền lực hay duy trì quyền lực này.

Nhưng với các thất bại liên tiếp ở Âu Châu trong các năm đầu của thập niên 1920, và cuộc thảm bại ở Trung Quốc đã không làm sờn lòng các người lãnh đạo tổ chức Komintern để đeo đuổi đường hướng. Tất cả các đảng cộng sản, gồm cả các đảng hợp pháp ở các nước dân chủ đều có trong lòng họ (en son sein) một bộ máy quân sự bí mật, và có thể sẽ công khai ra mặt nếu trường hợp cho phép. Khuôn mẫu của KDP ở Đức Quốc và được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của các cố vấn quân sự Sô Viết, đã tổ chức một ‘’M. (militar ) Apparat’’ có nhiệm vụ thủ tiêu các ngườbi lãnh tụ đối lập (dành riêng cho các người đối lập cực hữu) và các tên ‘’mật thám chỉ điểm’’ (mouchard) len lõi vào hàng ngũ của đảng cộng sản. Họ cũng có nhiệm vụ huấn luyện và chỉ huy các toán bán quân sự, các đội Rote Front (mặt trận đỏ) và họ có hàng ngàn đảng viên. Sự thật là trong thời điểm của nền Cộng Hòa Weimar các cuộc bạo động về chính trị được coi là đã diễn ra toàn diện, và nếu các người cộng sản đã chiến đấu chống lại các phần tử cực hữu và phong trào Quốc Xã đang chớm vươn lên, họ không ngần ngại gì mà không tấn công các cuộc tập họp xuống đường của các người thuộc đảng xã hội mà họ đã gán cho danh từ: Các người xã hội phản bội và các người xã hội phát xít. Họ cũng tấn công các nhân viên cảnh sát, các Cộng Hòa mà họ coi là phản động và cũng là phát xít. Các diễn biến xảy ra sau năm 1933, đã cho biết ai là kẻ ‘’phát xít thứ thiệt’’ đó là phong trào Quốc Xã và nếu họ khôn ngoan hơn, họ cần phải liên minh với các người thuộc đảng xã hội để chống giữ một nền dân chủ mà họ gọi là của các người tư sản trưởng giả. Nhưng các người cộng sản đã từ khước nền dân chủ này.

Ở nước Pháp không khí chính trị trầm lặng hơn, đảng cộng sản Pháp PCF cũng có tạo lập các toán võ trang. Một ủy viên thuộc bộ chính trị trung ương tên Albert Treint được giao phó nhiệm vụ này. Trong thời chiến tranh ông đã mang chức Đại Úy của Quân Lực Pháp và ông có nhiều khả năng về quân sự. Ngày 11 tháng Giêng năm 1924 nhân dịp một nhóm ngưới vô chính phủ (anarchiste) phản đối chống lại một cuộc mít-ting của đảng cộng sản Pháp tổ chức, Albert Treint đưa toán tổ chức võ trang xông vào diễn đàn để can thiệp, họ đã chỉa súng lục và bắn vào các người chống đối: Kết quả có 2 người chết và có nhiều người bị thương! Vì không có bằng chứng, không có một kẻ sát nhân nào bị truy tố. Hơn một năm về sau, một vụ tương tự lại xảy ra: Ngày thứ năm 23 tháng 4 năm 1925, vài ngày trước ngày bầu cử các thị xã, các lực lượng giữ trật tự của đảng cộng sản Pháp đã đến phá rối lúc tan cuộc họp bầu cử, của các toán thanh niên ái quốc, một tổ chức của phe cực hữu, ở trong Quận 18 Paris, Đường Damrémont. Vài người lãnh đạo có võ trang và không ngần ngại gì mà không dùng đến súng. Ba người lãnh đạo của các thanh niên ái quốc bị bắt giữ và cảnh sát đã đến khám xét các nơi cư ngụ của các nhà lãnh đạo cộng sản.

Mặc dầu gặp các khó khăn, đảng cộng sản Pháp vẫn duy trì đường lối. Năm 1926, đảng ủy nhiệm cho Jacques Duclos, một dân biểu cộng sản vừa được trúng cử và được hưởng quyền miễn truy tố nghị trường, đứng ra thành lập các toán ‘’tự vệ chống phát xít’’ gồm các cựu chiến binh của trận chiến 1914-1918 và các vệ binh chống phát xít gồm các thanh niên cộng sản, các tổ chức bán quân sự này được tổ chức theo khuôn mẫu của Rote Front của Đức và ngày 11 tháng 11 năm 1926 đã diễn hành và vận ðồng phục. Song song Jacques Duclos tổ chức các cuộc tuyên truyền chống lại chủ nghĩa quân sự và cho phát hành một nguyệt san tên ‘’ngýời chiến sĩ ðỏ’’, nguyệt san này huấn luyện về nghệ thuật nội chiến, mô tả và nghiên cứu cách chiến ðấu trong Thành Phố, trên các ðýờng phố v.v… Nãm 1913 tổ chức Komintern cho phát hành với nhiều thứ tiếng khác nhau, quyển sách: ‘’nổi loạn võ trang’’, dưới bút ký Neuberg nhưng thực sự là một việc làm của tập thể các người lãnh đạo Sô Viết: Cuộc nổi loạn ở Tallin do Tướng Iossif Ounschlicht, phân tích và nghiên cứu, cuộc nổi loạn ở Hambourg do Hans Kippenberger phụ trách, cuộc nổi loạn ở Quảng Châu do Tướng Vassili Blucher và Hồ chí Minh và cũng đã đề cập đến việc các người nông dân nổi loạn khởi đầu từ năm 1920, quyển sách này được tái xuất bản ở Pháp vào năm 1934. Và khi ở Pháp đã diễn ra ‘’khúc quẹo’’ về chính trị vào năm 1934 với việc thành lập Mặt trận bình dân (Front populaire) và vì vậy vai trò căn bản của ‘’việc bạo động’’ trong thực hành chủ nghĩa căn bản, đã tạm thời được xếp vào loại hai, nhưng không vì vậy mà làm giảm bớt việc thi hành bạo động. Tất cả các sự chứng minh của các hành động bạo động, việc thi hành hàng ngày các sự thù ghét về giai cấp, việc lý thuyết hóa nội chiến và các cuộc khủng bố đã gặp được môi trường thuận lợi để ‘’nảy sinh’’ với cuộc chiến tranh ở Espagne xảy ra vào năm 1936. Tổ chức Komintern đã gởi qua đây rất nhiều cán bộ và các người cán bộ này đã nổi tiếng trong các việc đàn áp của người cộng sản.

Tất cả các việc tuyển lựa, huấn luyện và sửa soạn cho các người cán bộ bản xứ để tổ chức các cuộc nổi loạn võ trang trong tương lai đều được thực hiện với việc liên lạc chặt chẽ của cơ quan mật vụ Sô Viết hay nói đúng hơn với cơ quan mật tên GRO, tên viết tắt của Glavsnoe Razvedatelnoe Oupravlenie, hay là tổng nha trung ương tình báo, đã được thành lập dưới sự che chở của Strotski với sự giám sát của phòng Đệ Tứ của Hồng Quân và trong các sách vở bằng tiếng Anh được biên là GRU. Cơ quan này không bao giờ ngừng việc ‘’giáo dục’’ là dù ở trong nhiều trường hợp đã bắt buộc họ phải rút lui đại qui mô. Việc đáng ngạc nhiên là các cán bộ trẻ tuổi được sự tin cậy của đảng cộng sản Pháp, vào đầu các năm của thập niên 1970 còn được gởi sang Liên Bang Sô Viết, để thụ huấn các lớp dạy cách sử dụng các vũ khí thông thường (tập bắn, tháo ráp và sử dụng các loại vũ khí) chế tạo các vũ khí thô sơ, các kỹ thuật phá hoại, các kỹ thuật truyền tin, do các toán thuộc lực lượng đặc biệt Sô Viết tên Spetsnaz phụ trách, các toán này được đặt dưới quyền sử dụng của các cơ quan mật vụ Sô Viết. Ngược lại, cơ quan GRO có sẵn các người chuyên môn về quân sự và sẵn sàng phái các người này sang phục vụ các đảng cộng sản anh em khi nào cần. Một thí dụ: Alfred Stern người gốc Áo-Hung đã được biệt phái qua phục vụ ‘’M. Apparat’’ thuộc đảng KPD để tổ chức cuộc nổi loạn ở Hambourg vào năm 1923. Sau y được phái sang hoạt động ở Trung Quốc và ở Mãn Châu trước khi mang tên là ‘’tướng Kléber’’ chỉ huy Trung đoàn quốc tế đã nổi danh trong trận nội chiến xảy ra ở Espagne.

Các bộ máy quân sự bí mật này với các thành viên không phải là những ‘’thiếu niên ngây thơ ở các giáo đường’’. Họ là những con người gần như là các giới kẻ cướp (bandit) và các toán người này họp lại thường trở thành các đảng ăn cướp. Một trong các việc điển hình đã xảy ra vào cuối các năm thuộc thập niên 1920: Các toán vệ binh đỏ, hay các trung đội đỏ của đảng cộng sản Trung Quốc. Họ đã hoạt động ở Thượng Hải lúc ấy được coi là trung tâm khủng bố của đảng. Dưới sự chỉ huy của Gu Shunzhang, một tên cựu đạo tặc thuộc hội kín Thanh Đảng (bande verte), một băng đảng mafia mạnh nhứt trong hai băng đảng đang lộng hành vào thời đó ở Thượng Hải-Shanghai, các thuộc hạ của Gu đã đương đầu với các toán áo sơ mi màu lam, một tổ chức thanh niên của Quốc Dân Đảng theo khuôn mẫu của phát-xít, trong các trận đánh đáng nghi ngờ, khủng bố chống lại khủng bố, phục kích chống lại phục kích, các vụ ám sát cá nhân chống lại ám sát cá nhân. Tất cả đều được hưởng sự giúp đỡ sự giúp đỡ của Tòa Lãnh sự Liên Bang Sô Viết ở Shanghai và Tòa Lãnh sự này cũng có các người chuyên môn về các vấn đề quân sự như tên Gorbatiouk cùng các tên khác để thi hành các lệnh dơ dáy.

Năm 1928, các thuộc hạ của Gu đã thủ tiêu một đôi vợ chồng lãnh tụ theo y đã trở cờ về phe công an: Trong khi họ đang ngủ, đó là He Jia Xing và He Je Hua bằng cách bắn đầy người họ trên chiếc giường ngủ. Để làm lấn áp tiếng nổ súng, họ đã cho đốt một tràng pháo ở ngoài đường. Và trong lòng đảng, để loại những người chống đối họ cũng đã dùng những phương pháp tương tự. Chỉ cần các lời tố cáo là cũng đủ để bị giết chết ngay. Ngày 17 tháng Giêng năm 1931, quá giận vì đã bị mưu mô của Pavel Mif, đại diện tổ chức Komintern, cùng với các người lãnh tụ còn trung thành với Moscow, lãnh tụ He Meng Xiong cùng với lối 20 đồng chí thuộc ‘’phân bộ công nhân’’ đã hội họp ở nhà hàng Đông Phương ở Shanghai. Họ vừa khởi đầu cuộc thảo luận thì các công an viên cùng với các nhân viên của văn phòng trung ương điều tra của Quốc Dân Đảng tên Diaocha tonzhi ập vào, tay cầm vũ khí và bắt tất cả bọn. Các người quốc gia đã được một tên vô danh báo cho biết nơi họp.

Tháng 4 năm 1931, Gu đào ngũ và trở về hàng ngũ của Thanh đảng (bande verte) cùng với việc y đầu hàng Quốc Dân Đảng (y đã gia nhập tổ chức so-mi-xanh ), một ủy ban đặc biệt do 5 người lãnh tụ cộng sản đã được thành lập để nối tiếp các hoạt động ở Shanghai. Ủy ban này gồm có Kang Sheng, Guang Huian, Pan Hannian, Chen Yun et Ke Qingshi.

Đến năm 1934, tất cả các cơ quan, của cộng sản Trung Quốc trong Thành Phố Shanghai, đã bị phá vỡ hoàn toàn. Hai lãnh tụ các toán võ trang là Ding Mocun và Li Shiqun đều bị lần lượt lọt vào tay Quốc Dân Đảng. Họ chịu đầu hàng, và sau đó đến năm 1937, khi quân đội Nhật chiếm đóng Thành Phố này họ quay sang phục vụ cho người Nhật. Cả hai đều chết thê thảm Ding Mocun bị xử bắn vào năm 1947 với tội ‘’phản quốc’’ còn Li Shiqun bị viên sĩ quan Nhật mà y phục vụ, đã thuốc độc giết y. Còn về phần Kang Sheng từ năm 1949 đến năm y chết vào năm 1975 là viên chỉ huy cơ quan công an mật vụ của chế độ Mao trạch Đông và là một trong những tay đao phủ chính chống lại nhân dân Trung Quốc dưới chính quyền cộng sản.

Việc thường xảy ra là các đảng viên của các đảng phái khác và các đảng viên của đảng cộng sản thường được các cơ quan Sô Viết đặc biệt chiếu cố để dùng vào các dịch vụ đặc biệt mà họ cần thi hành. Đó là vụ Koutiepov đã diễn ra: Năm 1924, Đại Quận Công Nicolas, người được coi là có thể kế vị Nga Hoàng đã gọi Tướng Alexandre Koutiepov đến Paris để chỉ huy ủy ban liên họp tổng quát quân sự (ROVS). Đến năm 1928 cơ quan Guépou quyết định làm tan vỡ ủy ban ROVS. Ngày 26 tháng Giêng Tướng Koutiepov mất tích. Có nhiều tin đồn được đưa ra và cũng có nhiều tin do các người Sô Viết tung ra. Hai cuộc điều tra độc lập đã cho biết ai là kẻ chủ mưu của vụ bắt cóc: Cuộc điều tra của người đảng viên cao niên thuộc đảng xã hội Nga là Vladimir Bourtzev, ông này đã trở nên lừng danh khi ông lột mặt nạ tên Evno Azev, một nhân viên của cơ quan Okhrana đã len lõi vào cấp lãnh đạo của tổ chức tranh đấu của các người xã hội cách mạng và cuộc điều tra của ký giả Jean Delage thuộc tờ báo Tiếng Vang của Paris (l’Écho de Paris). Delage đã cho biết là Tướng Koutiepov đã bị bắt cóc và đưa ra Houlgate, một Thành Phố ở bờ biển Manche và chuyển xuống một chiếc tàu Sô Viết tên là Spartak và chiếc tàu này đã rời bến vào ngày 19 tháng 2. Từ đó không còn ai biết viên Tướng này ra sao? Ngày 22 tháng 9 năm 1965 viên tướng Sô Viết Chimanov đã thuật lại tất cả diễn biến của việc này mà ông biết người phụ trách, tờ báo Ngôi Sao Đỏ của Hồng quân đã cho biết tên của người chịu trách nhiệm: Serguei Pouzitski, ngoài việc tham dự việc bắt giam tên ăn cướp Savinkov đã oai nghiêm chỉ huy việc bắt cóc Tướng Koutiepov và nhiều vị chỉ huy khác của Bạch quân. Tổ chức các người di cư tị nạn cộng sản đã bị các nhân viên của cơ quan Guépou xâm nhập: Từ năm 1929, cựu bộ trưởng chính phủ của Đề Đốc Koltchak thuộc Bạch quân, tên là Serguei Nicolavevitch Trétiakov đã bí mật gia nhập hàng ngũ Sô Viết và dưới bí số UJ/1 và tên mật mã là Ivanov. Nhờ những tin tức và các chi tiết của Trétiakov đã thông báo cho viên chức liên lạc với y, người này tên là Vetchinkine, Moscow đã nắm vững những cuộc di chuyển của Tướng Koutiepov. Một toán còm măng đô đã chận xe của viên tướng này ngay giữa các đường phố dưới dạng là một cuộc kiểm soát của cảnh sát. Một người Pháp tên là Honel, làm nghề sửa xe hơi ở Levallois-Perret đã hóa trang bận sắc phục của cảnh sát lưu thông đã yêu cầu Tướng Koutiepov đi theo y. Một người Pháp khác đã dính líu vào vụ này tên là Maurice Honel, em của tên nói trên, đã có liên lạc với mật vụ Sô Viết. Tên Maurice Honel đã trúng cử dân biểu cộng sản vào năm 1936. Koutiepov đã từ chối quy thuận, ông đã bị đâm chết bằng một lưỡi dao găm và sác của ông được chôn ngay ở dưới hầm xưởng sửa xe của tên Honel.

Người thừa kế của Koutiepov là Tướng Miller, ông có người phụ tá là Tướng Nikolai Skobline, lại là một nhân viên của bọn Sô Viết. Với người vợ là ca sĩ Nadejda Plevitskaia, Skobline tổ chức ở Paris cuộc bắt cóc Tướng Miller. Ngày 22 tháng 9 năm 1937 Miller mất tích. Ngày 23 tháng 9 chiếc tàu Sô Viết Maria Oulianovna rời Bến Le Havre. Đền lượt Tướng Skobline cũng biến mất, các sự nghi ngờ đã trở nên chính sác. Tướng Miller thật sự đã hiện diện trên tàu Maria Oulianovna mà chính phủ Pháp đã từ chối không chận xét. Được đưa về Moscow và sau khi chịu cuộc hỏi cung, Tướng Miller đã bị giết chết.

Tài liệu tham khảo: Lịch sử tình báo thế giới, Quyển 1 từ 1870-1939/nhà xuất bản Laffont 1993, Các tội ác Sô Viết trước tòa đại hình Quận Sein 5-14 tháng 12, Vụ bắt cóc Tướng Miller do Tướng Skobline, Vụ án Plevitzkaia và lời biện hộ của Luật Sư Me Maurice Ribet: nhà in Tòa Án 1939. Viên Tướng sẽ chết vào nửa đêm/nhà xuất bản Plon 1981. Nước Nga của các con ma, Các di dân Nga từ 1920-1950 nhà xuất bản Harmattan 1955.

Chế độ độc tài (Tội ác hóa các người chống đối) Đàn áp trong lòng tổ chức Komintern
Theo lịnh của Moscow, tổ chức Komintern duy trì ở các đảng cộng sản một toán võ trang và chuẩn bị tổ chức các cuộc nổi loạn để gây ra nội chiến chống lại chính quyền đang tại chức, tổ chức này cũng đưa vào lòng của tổ chức mình các phương pháp công an và khủng bố đã được thưc hành ở Moscow và ở Liên Bang Sô Viết. Nhân cuộc đại hội lần thứ 10 của đảng cộng sản Sô Viết, được tổ chức từ ngày 8 đến 16 tháng 3 năm 1921, trong lúc chính quyền Sô Viết đang phải đương đầu với cuộc nổi loạn ở Cronstadt, các văn bản về một chế độ độc tài đã được thảo ra, ngay cả trong lòng đảng. Trong lúc chuẩn bị cho cuộc đại hội, tám ‘’hình thức’’ khác nhau đã được đề nghị và đưa ra dể bàn thảo. Các cuộc tranh luận này là những di tích chót của nền dân chủ và nền dân chủ đã không được ‘’tự đặt’’ trên đất Nga. Và một loại dân chủ chấp nối, vá víu (ersatz) cũng không còn tồn tại bao lâu. Ngày thứ hai của đại hội, trong lúc súc tiến các công việc, Lénine đã lên tiếng: ‘’Các đồng chí, chúng ta không cần đối lập, vì lúc này không phải là lúc. Các đồng chí có trách tôi cũng chả được việc gì vì đó là do hoàn cảnh tạo ra. Hỡi các đồng chí, từ nay trở đi đừng nói đến đối lập nữa. Theo ý kiến của tôi, các đồng chí ở đây hay là ra chiến đấu ở Cronstadt, tay cầm súng. Hội nghị phải đi đến kết luận đã đến lúc chấm dứt việc đối lập, hãy hạ màn về việc này, chúng ta đã quá chán ngán về việc đối lập. Lénine đã nhắm vào những người tuy là không tạo thành một nhóm, theo nghĩa chính không có một bản báo cáo, đã tập họp dưới hình thức được gọi là công nhân chống đối, các tên Alexandre Chliapnikov, Alexandra Kollontai, Loutovinov và với hình thức Trung ương Dân chủ gồm có Timothée Sapronov, Gabriel Miasnikov.

Ngày 16 tháng 3 khi đại hội đã gần như sắp bế mạc, có hai nghị quyết được đưa ra vào lúc chót: ‘’Nghị quyết thứ nhất nói về việc ‘đồng nhất của đảng’ và nghị quyết thứ hai nói về các việc ‘trật hướng của các phong trào nghiệp đoàn và tinh thần vô chính phủ’ nằm trong lòng đảng, nhắm vào nhóm công nhân chống đối. Nghị quyết thứ nhất đòi việc giải tán tức thời tất cả các nhóm được thành lập đúng theo các hình thức riêng biệt, nếu từ chối sẽ bị đuổi ra liền khỏi hàng ngủ của đảng’’. Một bản không được đưa ra của nghị quyết này và được giữ ” mật’’ cho đến tháng 10 năm 1923 đã ủy quyền cho ủy ban trung ương được quyền tuyên án các cuộc trừng phạt. Cơ quan công an của Feliks Dzerjinski lại có dịp để mở rộng tầm truy xét: Tất cả các nhóm đối lập nằm trong lòng đảng sẽ bị luôn luôn theo dõi, canh gác và nếu cần đuổi ra khỏi đảng. Việc này đối với các người lãnh đạo chơn chính là: ‘’cái chết trên trường chính trị’’.

Nhận thấy việc cấm tự do bàn cãi, việc này là mâu thuẫn với quy chế của đảng, dù vậy hai bản nghị quyết này cũng được đồng chấp thuận. Riêng về bản nghị quyết thứ nhất Radek đã đưa ra một chứng minh có tính cách báo trước: ‘’Tôi nhận định là nghị quyết này có thể dùng để chống lại chúng ta và vì vậy tôi chấp nhận. Trong lúc nguy hiểm ủy ban trung ương đã quyết định các biện pháp tôi nghiêm nghị chống lại các đồng chí, tôi nhận thấy là rất cần thiết. Dù là ủy ban trung ương có lầm lộn vì đó còn ít nguy hiểm hơn việc lừng chừng mà người ta nhận thấy trong lúc này. Cuộc lựa chọn này đã được thực hiện dưới sự đe dọa của hoàn cảnh và đã đáp ứng lại các khuynh hướng sâu rộng của các người bolshevik, từng đè nặng với tính cách quyết định về tương lai của đảng cộng sản Sô Viết và là kết quả quan trọng đối với phân bộ của tổ chức Komintern’’.

Đại hội 10, cũng quyết định việc tái tổ chức lại ủy ban kiểm soát với nhiệm vụ được chỉ định: Canh chừng việc cũng cố và quyền lực ở trong đảng. Từ đó, ủy ban này thành lập và các hồ sơ cá nhân của các vị lãnh tụ và các đảng viên để sử dụng, đến khi cần dùng làm tài liệu căn bản để truy tố các việc như: Thái độ đối với công an chính trị, có cảm tình hay gia nhập các nhóm chống đối v.v… Sau khi đại hội 10 được bế mạc, các người có cảm tình hoặc thuộc nhóm khuynh hướng công nhân đối lập đã chịu nhiều việc bắt nạt hay ngược đãi. Về sau Alexandre Chliapnikov đã giải thích: Cuộc đấu tranh sẽ không diễn ra riêng trong lãnh vực ý thức hệ mà còn phải dùng các phương tiện khác như việc xa thải các người ra khỏi địa vị hay thuyên chuyển từ địa hạt này qua địa hạt khác, cùng lắm là đuổi ra khỏi hãng. Đến tháng 8, cuộc kiểm soát khởi đầu và kéo dài trong nhiều tháng. Một phần tư các vị lãnh tụ cộng sản đã bị khai trừ. Từ việc sử dụng đến việc thanh trừng ‘’tchistka’’, từ đây đã trở nên một phần đời sống của đảng. Ông Aino Kuusienn đã biểu lộ về chu kỳ của phương pháp này: bị cáo được gọi tên và được mời lên diễn đàn, các thành viên của ủy ban thanh lọc và các người khác hiện diện đặt các câu hỏi. Một vài người đã minh oan dễ dàng nhưng nhiều người khác đã phải chịu đựng lâu cuộc thử thách gay go này. Nếu người nào có oán thù riêng với một người nào và đây là cơ hội để giải quyết dứt khoát về diễn tiến của việc này. Nhưng việc xa thải ra khỏi đảng thuộc quyền quyết định của ủy ban kiểm soát. Nếu bị cáo nhìn nhận là không phải là thủ phạm về các hành động mà y bị cáo, thủ tục sẽ được xếp qua một bên và không có cuộc bầu. Nếu trường hợp ngược lại, không có người nào can thiệp cho người bị cáo, vị chủ tịch chỉ hỏi có một câu: Kto protiv, không có một người nào ngỏ ý chống lại, vụ này được coi như là nhất trí chấp nhận.

Các hậu quả của các quyết định tại đại hội 10, đã được mau ghi nhận: Tháng 2 năm 1922 lãnh tụ Gabriel Miasnikov bị tạm ngưng một năm, và coi như bị khai trừ ra khỏi đảng vì đã bảo vệ việc tự do báo chí, chống lại ý kiến của Lénine về việc này. Các người có khuynh hướng thuộc nhóm công nhân chống đối đã kháng nghị với tổ chức Komintern (tuyên ngôn 22), liền đó Staline, Dzerjinski và Zinoviev đã đòi khai trừ Chliapnikov, Kollonyai và Medvediev. Nhưng đại hội lần thứ 11 đã từ khước. Càng lúc càng chịu sự lôi cuốn của quyền lực Sô Viết, tổ chức Komintern đã chẳng bao lâu bị cưỡng bách chấp nhận chế độ nội bộ của đảng Bolshevik. Một kết quả ‘’rất bình thường’’ (logique) và không lấy gì là ngạc nhiên.
Năm 1923, Dzerjinski đã đòi hỏi một nghị quyết chính thức của bộ chính trị Politburo, để bắt buộc các đảng viên phải tố cáo với cơ quan GPU mọi hành động chống đối. Đề nghị của Dzerjinski là nguồn gốc tạo ra một loạt khủng hoảng ở trong lòng đảng Bolshevik: ngày 8 tháng 10, Trotski đã gởi một văn thư cho ủy ban trung ương, và theo đó ngày 15 tháng 10 ‘’tuyên ngôn của 46’’. Cuộc bàn thảo đã diễn ra và quy tụ chung quanh ‘’đường lối mới’’ của đảng cộng sản Nga và đưa đến việc kéo dài qua các bộ phận của Komintern.

Đồng thời vào cuối năm 1923, đời sống của các phân bộ Komintern được đặt dưới khẩu hiệu ‘’Bolshevik’’ hóa, tất cả đồng điều phải tái tổ chức lại các cơ cấu và lấy làm căn bản là nơi ‘’các tổ’’ ở xí nghiệp cùng tăng cường sự trung thuận với trung ương tại Moscow. Xảy ra các việc nói nửa chừng của việc biến đổi đã đưa đến kết quả là làm tăng thêm nhiều vai trò và quyền lực của các thông điệp của quốc tế cộng sản trên đề tài về tiến triển của chính quyền ở Liên Bang Sô Viết.

Ở Pháp, một vị lãnh tụ của đảng cộng sản Pháp-PCF, là Boris Souvarine đã chống đối lại ‘’đường lối mới’’ và tố cáo các phương pháp hèn hạ Troika (Kamenev, Zinoviev và Staline) đã sử dụng đối với người đối lập với họ là Trotski: Nhân dịp đại hội thứ 13, của đảng cộng sản Sô Viết thống nhất, Boris Souvarine đã được đòi đến để giải thích. Đó là ngày 12 tháng 6 năm 1924, một buổi họp đã biến thành một cuộc tố cáo trên khuôn mẫu một cuộc kiểm thảo bắt buộc. Một ủy ban được triệu tập đặc biệt để xét về ‘’vụ Souverine’’ và ủy ban này đã tuyên cáo: Tạm thời khai trừ Souvarine. Các phản ứng của ban lãnh đạo của đảng cộng sản Pháp-PCF, đã chỉ định rỏ ràng và minh bạch về tình trạng tinh thần từ nay trở đi, cần phải có trong những hàng ngũ của đảng thế giới: Ở trong đảng của chúng tôi, đảng cộng sản Pháp-PCF, đã không hoàn toàn khai trừ các căn bản xưa, của chủ nghĩa xã hội dân chủ, ảnh hưởng của các cá nhân còn giữ một vai trò lớn.

Nằm trong các biện pháp mà các sự nhỏ nhen còn sót lại của tinh thần tiểu tư sản với cái ‘’tôi’’ cá nhân sẽ bị phá bỏ để họp thành một ‘’đội quân sắt’’ vô danh của các người bolshevik Pháp. Đảng cộng sản Pháp phải đập tan ở trong lòng đảng và sẽ không nương tay đối với tất cả các đảng viên từ chối không phục tòng luật của đảng, để đảng được xứng đáng là thành viên của quốc tế cộng sản và nếu đảng muốn noi gương các thành quả vẻ vang của đảng cộng sản Nga. Báo Humanité ngày 19 tháng 7 năm 1924, vị chủ nhiệm viết bài này đã không ngờ là các nhận định của y đã trở thành quy luật và quy luật này đã được dùng để làm ‘’kim chỉ nam’’ cho đời sống của đảng trong nhiều thập niên. Một thành viên nghiệp đoàn tên Pierre Monate đã đúc kết việc tiến triển này là: Chế độ ‘’hạ sĩ quân đội’’ (caporalisation).
Cũng vào mùa Hè năm 1924, trong cuộc đại hội 5 của tổ chức Komintern, vị lãnh tụ bolshevik Zinoviev đã đe dọa: ‘’Bẻ gãy xương’’ các người đối lập, đã làm nổi bật các tính nết về chính trị đang xâm lấn vào phong trào cộng sản. Đen tối cho Zinoviev: Chính y đã bị Staline ‘’bẻ gãy xương’’, vì sang đến năm 1925 đã cách chức chủ tịch tổ chức Komintern của y. Boukharine được chỉ định thay thế nhưng chả bao lâu y cũng nếm mùi chua cay như Zinoviev.

Ngày 11 tháng 7 năm 1928 trước ngày khai mạc Đại-hội 6, của tổ chức Komintern (từ 17 tháng 7 đến 1 tháng 9 năm 1928) lãnh tụ Kamenev bí mật gặp Boukharine và đã lập một biên bản về cuộc nói chuyện. Là ‘’nạn nhân của chế độ công an’’ Boukharine đã giải thích là đường giây điện thoại của ông đã bị ‘’rình nghe’’ và ông bị cơ quan GPU theo dõi, hai lần ông đã tỏ ra rất lo sợ và nói: Nó sẽ thắt cổ chúng ta. Chúng ta không muốn can thiệp, vì bị coi là ly khai và nó sẽ thắt cổ chúng ta. Nó đây là Staline.
Người đầu tiên mà Staline toan tính ‘’thắt cổ’’ là Trotski. Cuộc đấu tranh của Staline chống lại ‘’Trotski chủ nghĩa’’ có một đặc điểm riêng biệt, đó là sự lan rộng ra. Tất cả bắt đầu từ năm 1927. Nhưng trước đó vào tháng 10 năm 1927, dấu hiệu báo trước sự ‘’hung xấu’’ để cảnh cáo, đã được đưa ra trong một cuộc họp của đảng bolshevik: hoặc là khai trừ hay là đập bỏ hợp pháp các sự chống đối, hoặc là giải pháp các phát súng đại bác trong đường phố giống như các người xã hội cách mạng thiên tả, đã xảy ra vào tháng 7 năm 1918 tại Moscow. Đây là một câu mà Larine đã viết trên báo Pravada. Hành động chống đối thiên tả, đó là danh xưng chính thức, đã bị cô lập và càng ngày càng suy yếu, đã là nạn nhân của các cuộc khiêu khích của cơ quan GPU và cơ quan này đã ‘’mạo chế’’ ra một nhà in lậu do một vị cựu sĩ quan của Tướng Bạch quân Wrangel, điều khiển. Vị cựu sĩ quan này là một nhân viên của GPU trá hình. Các tài liệu của nhóm chống đối đều do nhà in này in ra. Nhân cuộc kỷ niệm lần thứ 10 cách mạng tháng 10, nhóm đối lập đã quyết định biểu tình với các biểu ngữ mang khẩu hiệu của họ. Một cuộc can thiệp mạnh tay của công an đã ngăn chận họ. Đến ngày 14 tháng 11, Trotski và Zinoviev bị khi trừ ra khỏi đảng bolshevik. Giai đoạn kế tiếp, từ tháng Giêng năm 1928 đã xảy ra việc đưa đi quản thúc ở các vùng xa xôi những vị lãnh tụ bolshevik được nhiều người biết đến. Christian Rakovski cựu Đại Sứ Sô Viết ở Pháp, đều bị đưa đi về Astrakhan nằm trên sông Volga, sau đưa đi Barnaoul ở Sibérie. Victor Serge, năm 1933 bị gởi đi Orenbourg ở Oural hoặc là đi ra nước ngoài. Còn về phần Trotski bị dùng sức mạnh đưa đi Alma Ata ở Turkestan, cách Moscow bốn ngàn cây số. Một năm sau vào năm 1929, ông bị trục xuất qua nước Turquie, và nhờ vậy thoát khỏi nhà tù, còn các người thân ông đều bị bắt giam. Càng ngày con số các người bị bắt giam càng gia tăng, gồm có các người thuộc khuynh hướng công nhân, chống đối cũ hay là các người thuộc toán trung ương dân chủ. Họ đều bị bắt và đưa vào các nhà tù riêng biệt, với tên polit-isolators.

Khởi đầu từ lúc này, các người cộng sản ngoại quốc là thành viên của tổ chức Komintern, hay đang sinh sống ở Liên Bang Sô Viết họ đã bị bắt giam hay bị quản thúc cũng giống như các lãnh tụ Nga, trường hợp của họ cũng được hội nhập như các người dân Nga, nằm trong biện pháp là tất cả các người cộng sản ngoại quốc nếu ở lâu ngày trên lãnh thổ Sô Viết phải bắt buộc gia nhập vào đảng bolshevil và phải phục tùng kỷ luật của đảng. Đó là trường hợp của Ante Ciliga, thành viên của bộ chính trị của đảng cộng sản Nam Tư-PCY, được phái đi Moscow vào năm 1926 như là đại điện của PCY tại tổ chức Komintern. Ông đã có vài lần gặp gỡ các người đối lập tập họp chung quanh Trotski và lần lần tách xa tổ chức Komintern vì tại nơi đây các cuộc bàn thảo thật sự đã bị bãi bỏ và các người lãnh đạo đã không ngần ngại dùng các lối đe dọa đối với các người nói ngược lại họ, điều mà Ciliga đã gọi là: ‘’phương pháp nô lệ, hèn hạ’’ của phong trào cộng sản quốc tế. Tháng 2 năm 1929 nhân kỳ tổng đại hội, các người dân Yougoslave ở Moscow đã chấp thuận một nghị quyết lên án chính sách của ban lãnh đạo tổ chức Komintern. Một nhóm người bất hợp pháp, theo các điều lệ của kỹ luật, sau đó đã được các người đối lập tổ chức chống lại đường lối chính thức đã liên lạc với các người Sô Viết. Chẳng bao lâu, một ủy ban đã điều tra ông Ciliga và khai trừ ông này ra khỏi tổ chức Komintern trong vòng một năm. Không vì vậy mà Ciliga ngưng không thi hành các ‘’hành động bất hợp pháp’’ và đến cư ngụ ở Thành Phố Léningrad. Ngày 1 tháng 5 năm năm 1930, ông đã đi Moscow để gặp các thành viên của nhóm người Nga và Yougoslaves vì họ đồng phản đối việc thi hành kỹ nghệ hóa với đường lối hiện nay đang thực hành và dự định thành lập một đảng mới. Ngày 21 tháng 5 ông bị bắt giam, cùng với các bạn của của ông và được đưa vào các polit-isolator ở Verkhné-Ouralks, chiếu theo điều luật 59. Trong vòng 3 năm liên tiếp, từ nhà tù này qua nhà tù khác, từ các đơn thỉnh nguyện đến việc tuyệt thực, Ciliga không ngừng đòi hỏi quyền được ra khỏi xứ Nga. Khi được trả tự do, ông đã toan tính tự tử. Cơ quan GPU đã toan tính ép buộc ông từ bỏ quốc tịch Italie của ông. Bị đày đi Sibérie, sau cùng ông bị trục xuất ra khỏi lãnh thổ Nga vào ngày 3 tháng 12 năm 1935, đây là một trường hợp đặc biệt hiếm có.

Nhờ có các lời tố cáo của Ciliga, người ta đã được biết rỏ về các trại polit-isolators: Các đồng chí trao cho chúng tôi các tờ báo phát hành trong nhà tù. Biết bao nhiêu là tư tưởng và mỗi bài báo đều được tự do viết. Biết bao nhiêu say mê và tình ngay thật trong việc trình bày các vấn đề không những trừu tượng và lý thuyết mà luôn cả những gì liên quan đến các thời sự còn nóng bỏng. Nhưng sự tự do của chúng tôi không chỉ giới hạn ở điểm này. Trong lúc được đi thả bộ ở trong sân của nhà tù và lúc mà nhiều phòng được ra ngoài cùng lúc, các người bị giam thường hay có thói quen tụ họp ở một góc sân để có một buổi họp đàng hoàng có chủ tịch, thơ ký và các người diễn giả, thay phiên nhau trình bày các ý kiến. Về đời sống vật chất như sau đây: Các thức ăn theo thực đơn thường lệ của người ‘’moujik’’ thường dân hay nông dân nghèo: Buổi sáng bánh mì và cháo, buổi chiều cũng vậy, suốt cả năm. Ngoài ra bữa ăn trưa được ăn súp, cá thuộc loại tồi, các thức ăn đóng hộp và thịt gần đến tình trạng hư thối. Cũng món súp đó nhưng không có cá và thịt được cho ăn vào buổi cơm tối. Mỗi ngày được 700 gờ ram bánh mì, mỗi tháng được một kí lô đường. Ngoài ra người ta phát cho chúng tôi các khẩu phần thuốc điếu, thuốc lá hay là sa-von. Các thức ăn đều đều này, đã không đầy đủ cho sức khỏe. Chúng tôi phải tranh đấu kịch liệt để người ta không giảm bớt số lượng cho các phần ăn ít ỏi này. Phải nói là biết bao nhiêu cuộc đấu tranh gian khổ để chúng tôi đạt được một chút ít cải thiện của các thức ăn hàng ngày. Nhưng dù sao chế độ mà chế độ mà chúng tôi được hưởng phải coi là ‘’ưu đãi’’ nếu so sánh với chế độ của các nhà tù cho các tội thường phạm và các triệu người bị giam cầm trong các trại ở miền Bắc.

Nhưng các điều ‘’ưu đãi’’ này nó chỉ là tương đối. Ở Verkhné-Ouralsk các người tị nạn đã ba lần tuyệt thực vào tháng 4 và mùa Hè năm 1931 và tháng 12 năm 1933 để bảo vệ các quyền lợi của họ và để chống lại việc ‘’tái thi hành’’ các án giam. Như bị án ở tù 3 năm, khi mãn hạn thì bị coi là như chưa thọ án, lại ở thêm 3 năm. Khởi từ năm 1934, gần như ở mọi nơi chế độ các tù chính trị đều bị bãi bỏ trừ Verkhné-Ouraksk thì chế độ này còn duy trì cho đến năm 1937. Cách thức giam giữ mỗi ngày trở nên tồi tệ hơn như: Các phạm nhân đã chết vì bị đánh đập, các phạm nhân khác bị xử bắn và có nhiều người bị ‘’biệt giam’’ vào hầm kín như trường hợp của Vladimir Smirnov đã xảy ra vào năm 1933 tại Souzdal.

Việc tội ác hóa các phạm nhân, loại thật hay loại phỏng định, nằm ở trong lòng đảng cộng sản và chẳng bao lâu đã lan tràn đến các lãnh tụ cao cấp cộng sản. Người lãnh đạo đảng cộng sản Espagne, José Bullejos và nhiều đồng chí của ông đã được triệu tập đến Moscow vào mùa Thu 1932, và đã bị chỉ trích, cùng phê bình về đường lối, chính sách của đảng ông. Vì đã từ chối các ‘’đường lối bắt buộc (diktat) của tổ chức Komintern, họ đã bị khai trừ toàn khối vào ngày 1 tháng 11 năm 1932, và từ đó bị quản thúc ở khách sạn LUX, nơi trú ngụ của các vị lãnh tụ. Lãnh tụ người Pháp, ông Jacques Duclos cựu đại diện của tổ chức Komintern, ở Espagne đã đến thông báo cho họ quyết định khai trừ họ, và cho họ biết là: Tất cả các mưu toan nổi loạn sẽ bị trừng phạt theo các hình luật Sô Viết. Bullejos và các đồng chí của ông đã rời khỏi nước Nga sau hai tháng thương lượng gay go để lấy lại được giấy thông hành của họ.
Năm 1932, cũng kết thúc một vụ ‘’không thể tưởng tượng’’ được, đã liên quan đến đảng cộng sản Pháp-PCF. Đầu năm 1931, tổ chức Komintern đã gởi một đại diện đến đảng PCF và nhiều huấn luyện viên, để tái nắm vững đảng này. Tháng 7, người chỉ huy thiệt thọ của tổ chức Komintern là Dimitri Manouilski đã bí mật đến Paris. Ông này đã tiết lộ với bộ chính trị của đảng cộng sản Pháp là ở trong lòng đảng có một nhóm người đang hoạt động để phân chia đảng này. Trên thực tế đây chỉ là một sự dàn cảnh, để gây ra một cuộc khủng hoảng trong đảng này và bộ chính trị khi giải quyết được khủng hoảng này sẽ yếu đi, sự tự trị của đảng chỉ còn lại chút ít và sẽ trở nên hoàn toàn lệ thuộc vào Moscow. Trong các đám người bị chỉ định là có ý làm phân chia hàng ngủ là tên Pierre Celor, một vị lãnh tụ chính từ năm 1928 đã bị triệu tập đi Moscow dưới tiêu đề là sẽ được bổ nhiệm làm đại diện cho đảng cộng sản Pháp ở tổ chức Komintern. Nhưng vừa đặt chân đến Moscow, ông đã bị đối đãi như là một tên ‘’khiêu khích’’ (provocateur). Bị đặt ra ngoài lề đảng, không có lương tháng, Célor chỉ sống trong túng thiếu và đói suốt mùa đông nhờ vào thẻ tiếp tế của vợ ông, bà này làm việc ở tổ chức Komintern ở Moscow. Ngày 8 tháng 3 năm 1935, ông được đòi đến dự một cuộc họp trong số cử tọa có mặt các nhân viên NKVD và trong một cuộc hỏi cung dài 12 giờ đồng hồ, họ đã cố gắng bắt ông ‘’thú nhận’’ là một người của công an Pháp đã xâm nhập vào hàng ngũ của đảng cộng sản Pháp. Celor không thú nhận gì cả và sau nhiều cuộc áp lực và quấy nhiễu, ông đã trở về nước Pháp ngày 8 tháng 10 năm 1932, và liền sau đó bị tố cáo là Flic, tiếng lóng của Pháp chỉ vào các người cảnh sát công an.

Bắt đầu từ năm 1932, theo khuôn mẫu của đảng bolshevik, phần lớn các đảng cộng sản của các nước khác đã tổ chức các phân đội, các cán bộ trực thuộc thẳng với phân đội cán bộ trung ương của tổ chức Komintern ở Moscow, các phân đội này có nhiệm vụ thành lập các hồ sơ đầy đủ của các người lãnh tụ đảng cộng sản của nước mình gồm có các câu hỏi về thân thế và các lời tự khai của các lãnh tụ cùng với tất cả các chi tiết. Riêng về đảng cộng sản Pháp đã có trên 5000 hồ sơ được chuyển về Moscow trước khi xảy ra chiến tranh Thế Giới Lần Thứ Hai.

Các câu hỏi về thân thế gồm có trên 70 câu hỏi, được chia ra dưới 5 tiết mục : 1/- Nguồn gốc và thân thế trong xã-hội , 2/- Nhiệm vụ ở trong đảng , 3/- Học vấn và trình độ trí thức , 4/- Gia nhập vào đời sống xã-hội , 5/- Tư pháp lý lịch và nếu có lịch trình bị đàn áp. Tất cả các tài liệu này dùng trong việc lựa chọn các người lãnh tụ, cho tất cả các đảng cộng sản ngoại quốc, được tập trung tại tổ chức Komintern ở Moscow, và tất cả các hồ sơ tài liệu này đều do các lãnh tụ Bolshevik: Anton Krajevski, Tchernomordik hay Gevork Alikhanov lần lượt là những người chỉ huy phân bộ này quản lý và phân bộ này lại liên lạc với phân bộ các nước ngoài của cơ quan NKVD đã được chỉ định làm tổng thư ký của ủy ban Hành pháp tổ chức Komintern với nhiệm vụ kiểm soát các cán bộ. Dưới bí danh là Mikhail Moskvine, y đã thâu thập các tin tức và các lời tố cáo, quyết định các việc thất sủng (disgrace) và là giai đoạn đầu tiên đưa đến việc thủ tiêu trong tương lai. Nhiệm vụ của các cán bộ này là thành lập các ‘’danh sách đen’’ các người bị coi là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản và là kẻ thù của Liên Bang Sô Viết.

Ngay từ lúc mới thành lập và liền sau đó, các phân bộ của tổ chức Komintern và các phân bộ ngoại quốc trực thuộc phân bộ trung ương, đã được coi là các ‘’lò tuyển mộ’’ các nhân viên tình báo cung cấp các tin tức cho Liên Bang Sô Viết. Trong vài trường hợp, các người lãnh tụ tình nguyện làm các việc bất hợp pháp này, lẽ dĩ nhiên là làm ngầm (clandestin) họ không biết là thực tế họ đã làm việc cho các cơ quan tình báo của Hồng quân là GRU hay là phòng 4, cơ quan chuyên về thâu thập các tin tức ở nước ngoài của Tchka. GPU (Inostrany Otdel, Ino), NKVD vân vân. Các cơ quan này liên hệ chằng chịt với nhau, và họ có một sự ganh đua rất mạnh, đưa đến việc cơ quan này tìm cách tuyển mộ nhân viên của cơ quan khác. Trong cuốn hồi ký, Elsa Poretski đã đưa ra nhiều việc do sự cạnh tranh này gây ra:

Các danh sách đen của đảng cộng sản Pháp-PCF

Khởi đầu từ năm 1932, đảng cộng sản Pháp đã cho thiết lập các nguồn tin mà họ thâu thập được, vào một danh sách các cá nhân, các người bị nghi ngờ hay có thể trở nên nguy hiểm cho họ. Vì dưới mắt họ các hoạt động của các cá nhân này đã ngược lại với chủ trương của họ. Các danh sách này được thành lập song song với việc tổ chức Komintern, nắm lấy các cán bộ của bộ phận mới được thành lập, theo lịnh của tổ chức trung ương Komintern. Việc thiết lập danh sách các người lãnh tụ đã đưa ra mặt trái của việc này, danh sách các lãnh tụ đã ‘’thất bại’’ dưới hình thức này hay hình thức khác. Từ năm 1932 đến tháng 6 năm 1939, đã cho ra công bố bản danh sách ‘’Đen’’ dưới các tựa đề khác nhau nhưng tương tự. Danh sách đen các tên khiêu khích (provocateur) các tên phản bội, các tên điềm chỉ đã bị đuổi ra khỏi các tổ chức cách mạng ở Pháp, hay là danh sách đen các tên khiêu khích, ăn cắp, lường gạt, Trotsky, phản bội đã bị đuổi ra khỏi hàng ngũ tổ chức công nhân Pháp. Để chứng minh cho các danh sách đen này, tính đến khi xảy ra đệ nhị thế chiến, đã có trên 1000 tên người được công bố. Đảng cộng sản Pháp dùng một lý lẽ đơn giản. Cuộc đấu tranh giai cấp tư sản trưởng giả chống lại giai cấp các công nhân và các tổ chức cách mạng, xảy ra ở trong nước ta, đã trở nên mỗi ngày mỗi gay cấn hõn.

Các người lãnh tụ phải cung cấp cách tả tướng mạo: Chiều cao, màu tóc và lông mày, vừng trán, màu của mắt, mũi, miệng, cằm, hình khuôn mặt, màu da, các dấu hiệu riêng. Danh sách số 10 năm 1938. Phải cho biết tất cả các chi tiết để hầu làm dể dải việc tìm kiếm những người bị tố cáo, và các nơi họ cư ngụ. Mỗi một người lãnh tụ là một người phụ lực công an họ chơi trò các nhân viên Tchéka nhỏ.

Vài người bị tình nghi lại đúng là các tên xảo trá có hạng, còn những người khác là những người chống đối đường lối của đảng, hoặc là công khai, hoặc là ngầm. Trong những thập niên 1930 họ nhắm vào các lãnh tụ đã đi theo Jacques Doriot và vùng hoạt động cũng là vùng Saint Denis, rồi đến các người thuộc nhóm Trotsky. Riêng đối với các người cộng sản Pháp, họ đã dùng lại các lý lẽ của người đàn anh Sô Viết: Các người Trotsky đã trở thành một đám người điên khùng và là những người phá hoại không nguyên tắc, là những nhân viên để làm xao lãng, và là những sát nhân theo lịnh của các tổ chức gián điệp ngoại quốc (mục lục 1 của các bản danh sách đen từ số 1 đến số 8).

Đệ Nhị Thế Chiến xảy ra, và lịnh cấm của chính quyền được ban ra do đảng cộng sản Pháp, vì đảng này đã ủng hộ cuộc liên minh Đức Quốc Xã với Nga Sô Viết. Rồi đến cuộc chiếm đóng của quân đội Đức trên nước Pháp đã đưa đến việc tăng cường các hành động cảnh sát. Những người lãnh tụ cộng sản Pháp, vì lòng ái quốc không ủng hộ liên minh Staline-Hitler đều bị tố cáo, luôn cả các người tham gia vào cuộc kháng chiến chống Đức như: Adrien Langumier, tham gia kháng chiến nhưng ông này núp dưới bình phong là chủ nhiệm của nguyệt san Thời Mới-Le temps nouveaux. Cộng sản không tố cáo nhà Bác Học Fréderic Joliot Curie về bài báo ông này viết ngày 15 tháng 2 năm 1941 có tính cách liên lụy ông. Ông René Nicod, cựu Dân Biểu của vùng Oyonnax, tuy ông cư xử không có điều gì đáng phàn nàn đối với các đồng chí của ông cũng bị tố cáo. Công an của đảng cũng tìm đủ mọi cách để thủ tiêu Jules Fourrier, lãnh tụ và là dân biểu, ông đã là người bỏ thăm tín nhiệm trao toàn quyền hành động cho Thống Chế Pétain và cuối năm 1940, đã tham gia vào tổ chức kháng chiến chống lại Đức, ông bị quân Đức đưa đi đày ở trại Buchenwald sau đưa qua trại Mauthausen. Ngoài những người này, có những người vào năm 1941, đã tham gia vào việc thành lập đảng các công nhân và các nông dân Pháp tập hợp chung quanh cựu tổng thư ký đảng cộng sản Pháp là Marcel Gitton, bị bắn chết vào tháng 9 năm 1941, do các lãnh tụ cộng sản ra tay. Đảng cộng sản tự ban ra quyền để tuyên án: ‘’phản bội đảng và nước Pháp’’, và khi họ hạ sát một nạn nhân, họ gài trên thi thể nạn nhân một miếng giấy có ghi: ‘’Đã xứng đáng đền tội’’. Cũng có xảy ra trường hợp người lãnh tụ đã bị nghi ngờ phản bội, bị ám sát chết và sau chiến tranh đã được phục hồi danh dự, đó là trường hợp của George Déziré.

Trong việc truy lùng các người Do Thái, đảng cộng sản đã dùng nhiều hình thức kỳ lạ để tố cáo các người Do Thái: ‘’C.. Renée tự Tania, tự Thérèse ở Quận 14 là người Do Thái gốc bessarabie. Hay là B.. Do Thái gốc ngoại quốc dèm pha đảng cộng sản và Liên Bang Sô Viết. Cơ quan MOI phụ trách các nhân công di dân một tổ chức tập họp các người lãnh tụ cộng sản người ngoại quốc đã dùng một ngôn ngữ đặc biệt: R… người Do Thái đã hoạt động với một nhóm người Do Thái thù địch, và họ cũng không hề bỏ sự thù ghét các người lãnh tụ Trotsky: D.. Yvonne ở số 1, công trường Gal. Beurêt-Paris 7è là Trotsky có liên lạc với tổ chức Poum, dèm pha Liên Bang Sô Viết. Chuyện có thể xảy ra là khi cơ quan công an Pháp thời Vichy và cơ quan Gestapo của Đức Quốc Xã khi truy bắt các người bị tố cáo, cũng có thể tìm thấy các danh sách các đồng chí của ngưới bị bắt. Vậy số phận của các người bị tố cáo sẽ ra sao?.

Năm 1945, đảng cộng sản Pháp cho công bố một loạt các danh sách đen, để đưa ra ‘’quản thúc của quốc gia’’ theo ý nghĩa của nó, các người đối thủ chính trị mà đã có vài người đã thoát được các mưu toan ám sát. Định chế hóa việc lập ra các danh sách đen, lẽ dĩ nhiên đưa trở lại việc tạo ra danh sách các người bị cáo hiện hữu của cơ quan an ninh Sô Viết (Tcheka-GPU-NKVD) Đây là một hành động chung cho toàn thể các người cộng sản, được phát minh vào thời lúc vừa xảy ra cuộc nội chiến ở Nga. Ở Ba Lan vào lúc chiến tranh vừa chấm dứt, những loại danh sách đen đã có 48 hạng người cần phải canh chừng.

Chẳng bao lâu sự hỗn độn của các cơ quan đã được vượt qua với một yếu tố quyết định, tổ chức Komintern cũng như các cơ quan đặc biệt đều phải chịu dưới quyền tối cao của ban lãnh đạo đảng cộng sản Sô Viết thống nhất và phải phúc trình các hành động trước mặt và chỉ lo cho Staline thôi. Năm 1932, Martemiam Rioutine người đã lãnh đạo và thi hành triệt để các cuộc đàn áp các người chống đối, đến lượt ông trở nên chống đối Staline. Ông đã thảo ra một bản định hướng và ông đã viết: Staline, ngày hôm nay đã có ở trong vị trí tổ chức Komintern ngôi vị của một vị giáo hoàng không thể sai lầm, Staline đã nắm trong tay, bằng một sự lệ thuộc về vật chất trực tiếp hay bán trực tiếp, tất cả các vị lãnh đạo của tổ chức Komintern ở Moscow hay ở tại chỗ, và đó là lý lẽ quyết định để xác nhận sự vô địch trong lãnh vực lý thuyết. Vào các năm cuối thập niên 1930, tổ chức Komintern đã lệ thuộc tài chính vào nhà nước Liên Sô, và đã mất hết phương tiện để có thể độc lập. Nhưng sự lệ thuộc về vật chất lại làm nặng thêm về sự lệ thuộc chính trị và thêm vào đó là sự lệ thuộc về công an.

Sức ép càng ngày càng mạnh của các cơ quan công an, vào các người lãnh tụ của tổ chức Komintern, đã đưa đến kết quả là việc gây ra sự sợ hải và sự nghi kị lẩn nhau. Đồng thời việc tố cáo đã làm băng hoại các việc giao tế, sự nghi ngờ xâm nhập vào óc mọi người. Việc tố cáo nó có hai loại: Các việc tố cáo do tự ý chí và sự tố cáo do các cuộc tra tấn thể xác, được tạo ra bằng các sự hành hạ tâm thần. Nhiều khi việc tố cáo nó cũng do sự sợ hãi gây ra. Trường hợp của lãnh tụ cộng sản Pháp André Marty, là điển hình của cơn cuồng say nghi ngờ, ích kỷ, kêu ngạo quá đáng, dể giận và cùng với lòng nhiệt thành không bị kềm chế, để tự tỏ ra là người cộng sản có được sự cẩn trọng. Trong một bức thư ‘’tuyệt đối’’ riêng mật gởi cho tổng thư ký của tổ chức Komintern, đề ngày 23 thánh 6 năm 1937, ông đã viết một bản cáo trạng dài để tố cáo người đại diện cho quốc tế cộng sản ở Pháp là Eugen Fried và ông tỏ ra rất là ngạc nhiên vì sao cảnh sát Pháp chưa bắt giam người này và điều này đối với ông là điều đáng nghi ngờ.

Cũng nằm trong loại này, trích dẫn của nhiều bức thư gởi cho đồng chí L.P. Béria, ủy viên kiêm nhiệm các thường vụ bộ nội vụ của Liên Bang Sô Viết do nữ đồng chí người Bulgare Stella Blagoieva, một nhân viên loại hạ cấp phục vụ tại phân bộ các cán bộ của ủy ban hành pháp của tổ chức Komintern: Cơ quan hành pháp có được nhiều báo cáo tin tức do các đồng chí, lãnh tụ các đảng anh em gởi tới mà chúng tôi nhận xét rất cần thông báo cho đồng chí để đồng chí phối kiểm, và thi hành các biện pháp cần thiết. Một người thư ký của ủy ban trung ương đảng cộng sản Hongrie, tên Karakach, trong các cuộc đàm thoại đã tỏ ra thiếu tận tâm vào đảng của Lénine và Staline. Các đồng chí đã đặt ra câu hỏi nghiêm trọng: Tại sao vào năm 1932, tòa án Hongrie chỉ kết án đồng chí có 3 năm tù giam, trong lúc ấy ở Hongrie trong thời gian mà chế độ vô sản chuyên chế, Karakach đã hành quyết các người bị tòa án cách mạng kết án tử hình. Các bài diễn văn của các đồng chí người Đức, Áo, Lettonie, Ba Lan và các nước khác đã nói lên các giới di cư về chính trị đã bị làm ô uế. Cần phải quyết tâm loại bỏ hạng người này.

Arkadi Vaksberg đã xác định là trong các văn khố lưu trữ của tổ chức Komintern, đã có hàng chục và có thể có đến hàng trăm bức thơ tố cáo, một hiện tượng đã chứng tỏ sự suy thoái về tinh thần và đạo đức của các thành viên và các cán bộ của đảng cộng sản Sô Viết. Các tinh thần suy thoái đã được nổi bật khi diễn ra các cuộc xử án lớn, xử các vị lãnh tụ thuộc ‘’giới lão thành’’ bolshevik, những người đã đóng góp công sức, trí tuệ vào việc xây dựng một chính quyền dựa vào sự nói dối tuyệt đối.

Các vụ xử án lớn ở Moscow

Các hiện tượng về các cuộc khủng bố cùng các vụ xử án đã nêu lên nhiều câu hỏi khác nhau. Và Boris Souvarine đã ghi bút về các điều này:

Nếu ta nói là các vụ xử án ở Moscow là một hiện tượng riêng biệt của người Nga, thì đây là một nhận định quá đáng. Dưới sự ghi dấu có tính cách quốc gia, người ta có thể nhận định dưới khía cạnh tổng quát nhiều điều khác nhau.

Trước tiên cần phải từ bỏ định khiến là các điều gì đã đến cho người Nga sẽ không có thể sảy ra cho người Pháp. Nói về việc các lời thú tội mà các người Nga đã bị cưỡng bách phải cung khai, nó cũng sẽ đến vợi người Pháp mà ta tưởng là các người sẽ lưỡng lự mà không chịu làm dù dưới sự tra tấn. Và đối với các đảng viên cuồng tín của chủ nghĩa bolshevik, việc tự nhiên là nó cũng sẽ xảy ra ở ngoài nước Nga hơn là ở trong nội địa nước Nga.

Vào những ngày đầu của cuộc cách mạng tháng mười, việc giải quyết mau lẹ các việc khó khăn, người ta có thể dựa vào điều gọi là ‘’linh hồn người slave’’. Nhưng sau đó, với các việc xảy ra ở nước Đức và nước Ytalie, các việc tái diễn nó cũng đặc biệt giống như các việc đã xảy ra ở nước Nga. Với các ‘’Thú tính’’ của con người, khi các cơn này đã nổi lên thì dù là các người La tinh, Đức hay Slave, nó cũng sẽ sảy ra các hiệu quả tương tự dù dưới các hình thức và địa bàn khác nhau.

Ngoài ra, người ta cũng nhận thấy ở Pháp và ở các nơi khác có nhiều loại người khi biết được các việc tàn ác dữ tợn do Staline gây ra, đã làm họ cảm thấy dễ chịu hơn. Bộ biên tập của nhật báo Humanité đã không chịu thua nhật báo Pravda đã đồng tỏ ra quy lụy và hèn hạ, mà không thể nói là không biết đã bị nằm vào gọng kềm (tenaille) của chuyên chế toàn diện. Ông Kamarou, Nghị Viên của Viện Hàn Lâm Nga, đứng ở công trường đỏ của Moscow đã lên tiếng đòi hỏi là cần phải có thêm nhiều ‘’thủ cấp’’ nửa, ông này đã tự làm ‘’ố danh’’ (déshonorer) nhưng ông đã không từ chối làm việc này,vì ông đã tự biết rằng nếu không làm tức là phải chọn con đường ‘’tự tử’’ (suiside). Vậy ta nghĩ sao với các nhân vật như Romain Rolland, Langevin hay Malraux, những người đã từng ngợi khen chế độ mà người ta gọi tên Sô Viết, nền ‘’văn hóa’’ của nó cùng với nền ‘’công lý’’ nếu họ không bị đe dọa bởi ‘’cái đói’’ hay ‘’cái tra tấn’’.

(Báo Figaro Littéraire (văn chương) ngày 1 tháng 7 năm 1937)

Cuộc đại khủng bố diẻn ra trong khuôn viên điện Kremlin

Ngày 1 tháng 12 năm 1934, đã xảy ra vụ ám sát lãnh tụ Kirov đã cho Staline có thể ‘’có cớ’’ để cho thi hành ở tổ chức Komintern cùng với đảng cộng sản Nga, một cuộc đàn áp và khủng bố nghiêm trọng. Lịch sử của đảng cộng sản Nga thống nhất và cùng với lịch sử của Komintern đã đồng bước vào một giai đoạn mới. Các cuộc khủng bố đã từng nhắm vào xã hội dân chính, nay được hướng vào các người nắm quyền tuyệt đối (sans partage) của đảng cộng sản Sô Viết thống nhất và người tổng thư ký quá nhiều quyền lực.

Các người nạn nhân đầu tiên là các người đối lập đang bị giam cầm. Khởi đầu vào cuối năm 1935, các phạm nhân đã mản án tù đều bị bắt giam trở lại.Nhiều ngàn người bị kết tội là ‘’Trotsky’’ đã bị bắt giam và bị tập trung ở Vorkuta. Có khoảng 500 người lao động ở trong các hầm mỏ, một ngàn người bị giam ở trại Oukhto-Petchora, và tất cả có hơn nhiều ngàn người bị giam cầm trong vùng Petchora. Ngày 26 tháng 10 năm 1936, một ngàn người trong số này bị bắt đi đình công và tuyệt thực, cuộc tuyệt thực này kéo dài trong 132 ngày. Họ đòi hỏi được giam riêng biệt, không giam chung với các phạm nhân thường tội hay giam chung với các người phạm tội ác, và được sống chung với gia đình của họ. Sau bốn tuần lễ, phạm nhân đầu tiên qua đời. Rồi các phạm nhân khác lần lượt chết vì cuộc đình công này được kéo dài cho đến khi ban quản đốc chấp thuận các yêu sách của họ. Vào mùa Thu năm sau, một ngàn hai trăm phạm nhân (trong số này có hơn một nữa là các người Trotsky) đã được tập họp ở gần một lò gạch cũ. Cuối tháng 3, ban quản đốc đưa ra danh sách 25 phạm nhân, mỗi người được lãnh 1 kílô bánh mì và được lịnh ra đi. Một lát sau, người ta nghe tiếng nổ của một loạt súng. Giả thuyết bi quan đã được đưa ra và người ta thấy đội lính giải các phạm nhân trở về nơi tập họp. Sau hai ngày, lại một cuộc kêu tên và tấn tuồng lại diễn lại, và liên tiếp như vậy cho đến cuối tháng 5. Các người lính đã tưới xăng (essence) vào các thi thể để đốt cháy hầu không còn dấu vết nữa. Cơ quan NKVD cho phát thanh trên đài vô tuyến điện tên các người bị xử bắn vì đã phạm vào các tội ‘’hoạt động phản cách mạng, phá hoại, ăn cướp, từ chối lao động và toan vượt ngục’’. Các người đàn bà cũng không được chừa ra: Vợ của một người lãnh tụ đã bị hành quyết cũng phải chịu chung một số phận và luôn các trẻ em trên 12 tuổi cũng chịu chung cảnh ngộ.

Khoảng 200 phạm nhân Trotsky ở trại Magadan được coi là ‘’Thủ Đô’’ của vùng Kolyma cũng đã tuyệt thực để đòi được hưởng quy chế chính trị. Trong bản tuyên ngôn của họ, họ đã tố cáo các tên ‘’đao phủ thủ-ăn cướp’’, ‘’và chế độ phát xít’’ của Staline còn tệ hại hơn chế độ (fascisme) của Hitler. Ngày 11 tháng 10 năm 1937, họ bị tuyên án tử hình và 74 người trong số này đã bị xử bắn vào các ngày 26-27 tháng 10 và ngày 4 tháng 11. Các vụ hành quyết tương tợ được tiếp diễn trong năm 1937 và 1938.

Ở trong các nước mà có sự hiện diện của những người cộng sản chính thống họ đều nhận được mệnh lệnh bài trừ ảnh hưởng của các thiểu số lãnh tụ đã kết hợp chung quanh Trotski. Một hành động mới đã diễn ra từ khi khởi đầu cuộc chiến ở Espagne, đó là một phương cách thủ xảo để ghép lại (assuer) chủ nghĩa phát xít với chủ nghỉa Quốc Xã (nazisme) trong lúc đó thì Staline sữa soạn việc ‘’’xích gần lại’’ với Hitler.

Chẳng bao lâu, cuộc Đại Khủng Bố do Staline chủ trương đã khởi phát nhắm vào tổ chức trung ương của Kominter. Năm 1965, ông Branko Lazitch đã toan tính nghiên cứu các công việc đầu tiên là tìm hiểu về việc thủ tiêu các thành viên của tổ chức này với tựa đề là: ’’Sự tuẩn giáo (martirologie) khổ nhục của tổ chức Komintern’’. Boris Souvarine đã bình phẩm và kết luận về bài nghiêm cứu của Branko Lazitch cùng với bài viết tiếp theo của ông này, một nhận định về các người hợp tác loại tầm thường với tổ chức Komintern, chính là những nạn nhân vô danh của cuộc đại thanh trừng. Việc ghi nhớ vào ký ức không phải là một việc làm vô ích, khi người ta đề cập tới chương đặc biệt lịch sử của chủ nghĩa cộng sản Sô Viết: Phần lớn các người đã biến mất (disparaitre) trong cuộc tàn sát của tổ chức Komintern vào lần này chỉ là một phần nhỏ nhất (partie infime) của số tàn sát không thể đếm được đã sảy ra cho hàng triệu người lao động và nông dân siêng năng bị tàn sát một cách vô lý bởi một chính sách vô nghĩa (rime) bạo tàn quái đản mang chiêu bài vô sản.

Các cán bộ của tổ chức trung ương cùng các người ở các phân bộ của các nước đều bị guồng máy đàn áp nó hút vào và nghiền nát cùng một lượt với các người thường dân. Với cuộc đại thanh trừng của hai năm 1937-1938, không chỉ có những người đối lập là các nạn nhân của các cơ quan đàn áp mà có luôn cán bộ của tổ chức Komintern và các tổ chức phụ thuộc: Thanh niên quốc tế cộng sản KIM, công đoàn (syndicale) ĐỎ quốc tế Profintern, Cứu tế (secours) ĐỎ MOPR, Trường chủ thuyết Lénine quốc tế, Đại học các sắc tộc thiểu số ở phương Tây KUMNZ v.v… Người con gái của người bạn già và đồng chí của Lénine tên Wanda-Pampuch Bronska, đã thuật lại, dưới một bí danh (prendonyme), vào năm 1936 toàn thể đại học KUMNZ đã bị giải tán, tất cả các nhân viên đều bị bắt và gần như toàn thể các học viên cũng vậy.

Sử Gia Milhail Panteleico, khi tra xét về các căn bản từ mọi phân bộ và tất cả những bộ phận của tổ chức Komintern đã truy ra con số 133 nạn nhân ở trong số 492 cán bộ (tỷ lệ 27%). Vào ngày 1 tháng giêng đến ngày 17 tháng 9 năm 1937, ủy ban hành pháp gồm có Mikhail Moskvine (còn có tên khác là Meir Trilissier) Wilhelm Florin và Jan Anvelt rồi đến tháng 5 năm 1937 ủy ban đặc biệt gồm có Georgi Dimitrov, M. Moskvine và Dimitri Manouilski đã ra lệnh xa thải 256 người. Thông thường thì cán bộ nào đã bị xa thải, tùy theo thời gian sớm muộn gì cũng sẽ bi bắt giam cầm: Elena Walter, phục vụ tại văn phòng của Dimitrov bị xa thải vào ngày 16 tháng 10 năm 1938, sau hai ngày liền bị bắt giam. Jan Borowski (Ludwik Komorowski) cán bộ thuộc ủy ban hành pháp Komintern bị xa thải vào ngày 17 tháng 7 thì bị bắt giam vào ngày 7 tháng 10. Trong năm 1937 đã có 88 cán bộ của tổ chức Komintern đã bị bắt giam và năm 1938 lại có thêm 18 cán bộ khác cũng chịu chung số phận. Nhiều người khác đã bị bắt tại nơi họ đang làm việc như Anton Krajewski (còn có tên khác là Wladyslaw Stein) đang phụ trách về báo chí và tuyên truyền, bị nhốt vào khám ngày 26 tháng 5 năm 1937. Nhiều người cán bộ khác, sau khi đi công tác ở các nước ngoài liền bị bắt khi trở về quốc nội.

Tất cả các nhiệm sở, từ văn phòng thư ký đến các đại diện những đảng cộng sản của các nước ngoài đều bị dính líu đến các việc bắt giam. Trong hai năm 1937-1938, 41 người cán bộ thuộc văn phòng thư ký của ủy ban hành pháp đã bị bắt giam. Trong lòng của tổ chức liên lạc OMS, đến năm 1936 đã có 34 người bị bắt giam. Chính bản thân Moskvine cũng bị bộ máy đàn áp ‘’đớp’’ (happer) vào ngày 23 tháng 11 năm 1938 và bị kết án tử hình vào ngày 1 tháng 2 năm 1940 và liền bị xử bắn. Jan Anvelt đã chết vì bị tra tấn và cán bộ A. Munch-Petersen gốc người Đan Mạch đã chết ở trong nhà thương của một khám đường vì bịnh lao phổi. Năm chục người cán bộ trong số này có 9 phụ nữ đã bị xử bắn, Cô Lydia Dubi, người gốc Thụy Sĩ và là người chịu trách nhiệm một hệ thống ‘’bí mật’’ ở Paris của tổ chức Komintern, đã bị triệu hồi về Moscow vào đầu tháng 8 năm 1937. Vừa về đến nơi cô liền bị bắt cùng với hai người hợp tác là Brichman và Wolf, bị buộc tội là đã tham dự vào tổ chức ‘’Trotsky chống Sô Viết’’ và làm gián điệp cho nước Đức, nước Pháp, nước Nhật Bản và luôn cả… nước Thụy Sĩ. Cô đã bị tập đoàn quân sự của tòa án tối cao Liên Bang Sô Viết tuyên án tử hình ngày 3 tháng 11 và vài ngày hôm sau thì bị hành quyết, việc có quốc tịch của nước Thụy Sĩ không thể che chở cho cô và gia đình của cô thì được thông báo một cách tàn nhẫn về án này mà không có một lời giải thích nào cả. Stanislaw Skoulski (còn có tên là Martens) bị bắt giam vào tháng tám và bị xử bắn vào ngày 21 tháng 9 năm 1937. Vợ của ông là L. Jankovski người gốc Ba lan bị kết án tám năm tù giam vì có tội là thành viên trong một gia đình của một tên phản tổ quốc. Nguyên tắc và trách nhiệm gia đình đã được áp dụng cho người thường dân cũng đã lan tràn qua các thành viên của bộ máy chính trị.

Ossip Piatnitski (có tên là Tarchis) đã là lãnh tụ số 2 cho đến năm 1934 của tổ chức Komintern, chỉ đứng sau Manouilski. Ông được ủy nhiệm trách vụ tổ chức (lo riêng về các vụ tài chánh cho các đảng cộng sản của nước ngoài và các liên lạc bí mật của Komintern toàn thế giới) và sau được bổ nhiệm phụ trách phân bộ chính trị và hành chánh của ủy ban trung ương đảng cộng sản thống nhất sô viết PCUS. Ngày 24 tháng 6 năm1937, ông đã lên tiếng tại đại hội toàn đảng của ủy ban trung ương để phê bình về việc các biện pháp đàn áp và việc ban các quyền đặc biệt cho vị chỉ huy của cơ quan NKVD là Iejov. Staline đã trở nên giận giữ và đã bắt buộc phải tạm ngưng cuộc họp và đã cho làm các áp lực tồi tệ nhất để Piatnitski hối cải. Nhưng việc không thành, ngày hôm sau họp trở lại Iejov đã tố cáo Piatnitski, ngày xưa đã là nhân viên công an của nhân viên Nga Hoàng và ông này liền bị bắt vào ngày 7 tháng 7. Iejov đã cưỡng bách Boris Muller (Melnikov) đã tố cáo chống lại Piatnitski, đến ngày 29 tháng 7 năm 1938 Muller bị hành quyết. Tập đoàn quân sự tòa án tối cao của Sô Viết đã xử Piatnitski nhưng ông này đã không nhận mình là thủ phạm làm giám điệp cho nước Nhật Bản. Bị kết án tử hình, ông này bị xử bắn vào đêm 2 giờ rạng ngày 30 tháng 7 năm 1938. Nhiều cán bộ thuộc tổ chức Komintern đã bị hành quyết vì bị tố cáo là thuộc vào tổ chức ‘’chống Komintern, dưới sự chỉ huy của Piatnitski, Knorin (Wilhelm Hugo) và Béla Kun. Còn có nhiều người khác được coi là thuộc phe Trotsky hay là phản cách mạng. Người cựu chỉ huy công xã Hung gia lợi (Hongrie) là Béla Kun vào đầu năm 1937 đã chống lại Manouilski, đã bị người này (có lẽ theo chỉ thị của Staline) và bị coi là các lời phê bình của Béla Kun là nhắm thẳng vào Staline. Béla Kun đã phản đối và để tỏ lòng thành thật của mình, ông ta đã phản công trở lại nhắm vào Manouilski và Moskvine và theo ý của Béla Kun hai người này phải chịu trách nhiệm về việc làm ‘’đại diện xấu’’ cho tổ chức Komintern bên cạnh đảng cộng sản thống nhất Sô Viết PCUS, và cũng theo sự nhận định của ông, đây là nguyên do của các việc đã đưa đến sự vô hiệu lực của tổ chức Komintern. Hiện diện trong buổi họp này có các lãnh tụ của các đảng cộng sản nước ngoài: Palmiro Togliatti, Otto Kunsinen, Wilhelm Pieck, Klément Gottwald, Arvo Tuominen, không một người nào lên tiếng bảo vệ. Sau cuộc họp, Georgi Dimitrov đã xin chấp thuận một nghị quyết: Vụ Béla Kun sẽ do một ủy ban đặc biệt cứu xét. Theo đường lối của ủy ban đặc biệt, Béla Kun chỉ có quyền bị bắt giam lúc rời khỏi phòng họp. Ông này đã bị hành quyết ở dưới hầm nhà tù Loubianka vào lúc nào không ai biết.

Theo sự nhận xét của M. Panteleiev, mục đích tối thượng của các cuộc thanh trừng là tận diệt tất cả các cuộc chống đối lại chính sách độc tài của Staline. Tất cả các người nào có thiện cảm với các người thợ thuyền chống đối, hay là những người nào còn có liên lạc với các người lãnh tụ ngày xưa gần với Trotski là những cái mục tiêu đầu tiên của các việc đàn áp. Các nhà lãnh tụ người Đức đã từng thuộc vào phân bộ do Heinzheumann (đã bị thủ tiêu vào năm 1937) hay là những người lãnh tụ thuộc nhóm dân chủ trung ương, tất cả cùng đều chịu chung số phận là bị đàn áp. Vào thời đó, theo lời khai của chứng nhân Jalov Matousov, chỉ huy phó của phân bộ công an ‘’mật’’ của GUGB-NKVD, mỗi một người chỉ huy cao cấp của bộ mày điều khiển nhà nước đều có một hồ sơ riêng, mà người này không được biết, trong hồ sơ này thâu thập mọi tin tức và tài liệu để có thể dùng để ‘’chống lại’’ y khi nào cần đến. Các vị lãnh tụ như Kliment Vorochilov, Andrei Vychinski, Lazare Kaganovitch, Mikhail Kalinine, Nikita Khruhchev, đồng đều có hồ sơ cá nhân. Vì vậy, việc có thể có là các nhà lãnh đạo của tổ chức Komintern đều bị đặt dưới sự ngờ vực như các lãnh tụ có tên được kể ở phần trên.
Chúng tôi xin thêm vào là các vị lãnh tụ cao cấp gốc không phải là người Nga, thuộc tổ chức Komintern cũng tham dự đắc lực vào các cuộc đàn áp. Một trường hợp điển hình là lãnh tụ người Italie là Palmiro Togliatti, một trong những người thư ký của tổ chức này và sau khi Staline đã qua đời được coi là người cởi mở và chống đối lại các hành động cùng phương pháp khủng bố. Nhưng chính Togliatti đã đùng lên tố cáo Hermann Schubert, một cán bộ của tổ chức cứu giúp đỏ quốc tế và đã cản trở người cán bộ này đứng lên giải thích các điều bị tố cáo, trong cuộc họp. Bị bắt giam sau đó, Schubert đã bị xử bắn. Hai vợ chồng Petermann là người cộng sản đã tị nạn ở Nga sau khi Hitler nắm chính quyền ở Đức vào năm 1933 đã bị Togliatti, tố cáo trong một buổi họp là ‘’các nhân viên của Hitler’’, vì hai vợ chồng này vẫn liên lạc thư từ với gia đình. Vài tuần lễ sau đó, họ đều bị bắt. Togliatti đã hiện diện trong cuộc ‘’tế thần Béla Kun’’ và đã ký tên vào bản nghị quyết lên án tử hình người này. Ông cũng tham dự vào ‘’cuộc thủ tiêu’’ đảng cộng sản Ba Lan vào năm 1938. Vào dịp này ông đã chấp thuận vụ xử án lần thứ ba ở Moscow và đã kết thúc: ‘’Hãy giết các tên gây ra chiến tranh, hãy giết các tên gián điệp, và các tên phát-xít! Hoan hô đảng của Lénine và của Staline, là những người bảo vệ nhiệt tình cuộc cách mạng tháng 10, bảo đảm thắng lợi cho cuộc cách mạng thế giới! Hoan hô người tiếp tục sự nghiệp của Feliks Dzerjinski, hoan hô Nicolas Iejov’’.

Khủng bố trong lòng đảng cộng sản

 

Sau khi đã ‘’thanh trừng’’ xong các phần tử mà đã bị Staline nghi ngờ là chống lại ông trong ủy ban trung ương của tổ chức Komintern, ông quay sang tiếp tục ‘’thanh trừng’’ các phân bộ của ‘’Quốc tế cộng sản’’. Phân bộ đầu tiên được ông chiếu cố đến là phân bộ của đảng cộng sản Đức. Cộng đồng người Đức sống trên đất Nga gồm có: (ngoại trừ các người mang quốc tịch Nga) mà nguồn gốc là hậu duệ của các người dân Đức, đã di cư sang vùng sông Volga, theo lời kêu gọi của Hoàng Tử Catherine II vào thế kỷ thứ 18, các người của đảng cộng sản Đức KDP, các người chống phát-xít tị nạn ở Nga và các người công dân của nền Cộng Hòa Weimar họ đã tình nguyện sang Nga để xây dựng ‘’chủ nghĩa xã hội’’. Tất cả các đức tính thuộc loại này đã không có một hiệu năng nào có thể bảo vệ họ khi mà thời điểm của các cuộc bắt giam đã diễn ra vào năm 1933. Tổng số là 2/3 các người Đức chống Phát xít di cư sang Nga là nạn nhân của các cuộc đàn áp.

Còn về số phận của các người lãnh tụ đảng cộng sản Đức, số phận của họ đã được định đoạt trên các danh sách có tên là: ‘’Kaderlisten’’ do các lãnh tụ của họ là Wilhelm Pieck, Herbert Welner và Wilhelm Florin đồng chịu trách nhiệm lập nên danh sách này dùng để khai trừ hay là hành quyết các đảng viên. Danh sách đầu tiên đề ngày 3 tháng 9 năm 1936, và danh sách chót đề ngày 21 tháng 6 năm 1938. Sau chiến tranh đảng cộng sản ở Đông Đức đổi tên là đảng xã hội thống nhất SDE, đã cho lập một ủy ban kiểm soát về các bản danh sách của ‘’Kaderlisten’’ và đã thông báo có con số là 1.136 người. Vào năm 1937 con số các người bị bắt giam lên đến 619 người và tiếp tục cho đến năm 1941 thêm 21 người. Người ta không biết số hơn phân nửa số phận của các người bị tù đày này (trong số 666 người bị án). Có lẽ họ đã chết trong lúc bị đưa đi đày hay đã chết ở các trại giam cưỡng bách lao động. Được biết rõ là đã có 82 người bị hành quyết, 197 người đã chết vì bị tra tấn hoặc là ở trong các khám đường và 132 người đã bị giao trả lại cho công an của nước Đức vào thời bấy giờ là cơ quan Gestapo. Còn lại 150 người khác đã bị kết án tù rất là nặng, và họ đã sống sót, sau khi đã ở số năm bi kết án và họ được rời đất Nga. Một trong các lý do buộc tội các người này là họ đã thất bại trong các hành động chống lại cuộc thắng bầu cử để cho Hitler lên nắm chính quyền và để chủ nghĩa Quốc Xã đã thành công trên đất Đức. Giai đoạn thê thảm và tệ hại nhất đã xảy ra khi mà Staline đã tỏ ra thái độ ‘’vô liêm sĩ’’ thái quá, đó là việc ông chuyển giao cho Hitler các người chống Phát xít. Từ đầu năm 1937, các người cầm quyền Sô Viết đã quyết định trục xuất các người dân Đức này ra khỏi đất Nga. Ngày 16 tháng 2, mười người được biết tên sau đây: Emil Larisch một chuyên viên sinh sống tại Nga từ năm 1921, Arthur Thils kỹ sư sang Nga vào năm 1931, Kurt Nixdorf Giáo Sư Đại Học phục vụ ở Học Viện Mars-Engel và Wilhelm Pfeiffer người cộng sản. Họ bị bắt từ năm 1936 với tội trạng là làm gián điệp và có các hoạt động ‘’thân phát xít’’, và Đại Sứ của Đức Quốc là Von Schulenburg đã can thiệp cho họ với bộ ngoại giao Sô Viết, thời đó do Maxime Litvinov lãnh đạo. Lúc giải giao cho công an Đức, Pfeiffer đã mưu toan tự tử sau khi xin được trục xuất sang nước Anh bị thất bại vì y biết chắc chắn rằng nếu về đến Đức thì y sẽ bị giết. Sau 18 tháng bị giam cầm, họ bị giải lao qua biên giới Nga-Ba Lan và từ đó không có ai biết rõ được số phận của họ ra sao. Trong lúc di chuyển xuyên qua nước Ba Lan để đến nước Đức, khi đi qua Varsovie, Arthur thils đã may mắn chạy thoát vào Tòa Đại Sứ Anh Quốc để xin tị nạn chính trị. Các người khác đã không có được sự may mắn này. Otts Walther làm nghề in trên thạch bản và cư ngụ ở Léningrad từ năm 1908, khi bị đưa về đến Berlin ngày 4 tháng 3 năm 1937, và tạm trú ở một trung tâm tiếp cư, ông này đã nhảy lầu qua cửa sổ để tự tử. Cuối tháng 5 năm 1937, Đại Sứ Von Schulenburg đã chuyển giao cho nhà cầm quyền sô viết, hai danh sách người Đức bị bắt giam và mong là họ sẽ bị trục xuất ra khỏi nước Nga. Trong số các tên nơi hai danh sách này có tên nhiều người chống Phát xít và Kurt Nixdorf. Các cuộc thương lượng được diễn ra dưới một thể thức mới: Các người so viết chấp thuận việc trục xuất các người Đức theo lời yêu cầu của Tòa Đại Sứ Đức (một số là 37 người đã bị trục xuất rồi). Trong 2 tháng, tháng 11 và tháng 12 năm 1937 một số là 148 người Đức đã bị trục xuất, và trong năm 1938 có thêm 445 người bị trục xuất. Bị giải giao đến biên giới các nước Ba Lan và Lettonie, có khi từ Finland những người bị trục xuất này (trong số này có các người Áo thuộc Schutzbünder) họ liền bị các người đại diện cho nước Đức kiểm soát họ. Trong trường hợp của Paul Meisel, người cộng sản Áo bị trục xuất, y bị giải đến biên giới nước Áo vào tháng 5 năm 1938 và giao cho cơ quan Gestapo. Là người Áo, y bị đưa vào trại Auschwitz và biệt tích luôn từ đó.

Việc ‘’thông đồng cực tốt’’ giữa nước Đức Quốc Xã và nước Nga Sô Viết đã báo trước về bản thỏa ước Sô Viết- Quốc Xã được ký kết vào mùa Thu năm 1939 và đã nói lên thực chất của việc hội tụ nơi các chế độ độc tài (nhận sét của Lorge Semprun.) Sau khi thỏa ước được ký kết, việc trục xuất các người dân Đức đã diễn ra trong các điều kiện thê thảm hơn. Sau khi đã đánh bại nước Balan do Hitler và Staline, hai cường quốc này đã có một biên giới chung và có thể đưa các người bị trục xuất từ các khám đường Sô Viết qua thẳng các khám đường Đức Quốc Xã. Từ năm 1939 đến năm 1941 đã có từ 200 đến 300 người cộng sản Đức đã được giải giao cho cơ quan Gestapo, để cho người đồng minh mới (Sô Viết) được dịp chứng tỏ thiện chí của mình. Ngày 27 tháng 11 năm 1939, một thỏa ước mới được hai bên ký kết. Từ tháng 11 năm 1939 đến tháng 5 năm 1941 khoảng 350 người đã bị trục xuất trong số này có 85 người Áo. Trong số người này có Franz Koristchoner, một trong những người sáng lập ra đảng cộng sản Áo, và sau đã là cán bộ của tổ chức quốc tế công đoàn đỏ, sau khi bị đưa đi đày ở miền cực Bắc, ông bị giải giao cho cơ quan Gestapo, được giải về Vienna, ông bị tra tấn và hành quyết ở Auschwitz ngày 7 tháng 6 năm 1941. Các nhà cầm quyền Sô Viết ‘’bất chấp’’ việc các người bị trục xuất là gốc Do Thái (họ thi hành chính sách: Tao muốn giết nhưng sợ mang tiếng ác, giải giao cho bọn Quốc Xã, sớm muộn gì nó cũng giết chết như thế sẽ tạo thêm sự căm thù với bọ Đức Quốc Xã). Nhạc Trưởng và sáng tác nhạc Hans Walter David, người Do Thái và đảng viên KDP đã bị giải giao cho cơ quan Gestapo và bị giết trong phòng hơi ngạt vào tháng 6 năm 1942 tại trại Madjanek, cùng nhiều trường hợp khác, Nhà Vật Lý Học Alexandre Weissberg đã sống sót và đã viết hồi ký. Người vợ của Heinz Neumann, người đã bị khai trừ ra khỏi ban lãnh đạo của KDP và đã di cư qua Nga, tên là Magarete Buber-Neumann đã là chứng nhân và đã tố cáo việc thông đồng giữa Sô Viết và Đức Quốc Xã. Sau khi bị đưa đi lưu đày ở Karaganda thuộc vùng Sibérie, bà cùng các người vô phước khác đã bị giải giao cho cơ quan Gestapo vào tháng 2 năm 1940. Cuộc ‘’trao đổi’’ này đã khiến bà bị giam ở trại giam Ravenbruck. Bà Neumann đã thuật lại trong quyển hồi ký của bà như sau :

Chuyện xảy ra trên cầu Brest-Litovsk.

Ngày 31 tháng 12 năm 1939, người ta đã gọi chúng tôi thức dậy vào lúc 6 giờ sáng, sau khi bận quần áo và cạo râu, chúng tôi ngồi chờ đợi một vài giờ trong một căn phòng. Cùng với chúng tôi có một người Hung gia Lợi gốc Do Thái, ngưòi này tên Bloch, y đã trốn qua Đức sau cuộc thất bại của công xã 1919. Nhờ dùng giấy tờ giả mạo, y đã sinh sống ở Đức với giấy tờ giả mạo này và tiếp tục hoạt động cho đảng. Về sau y cũng di cư sang Nga, và vẫn dùng giấy tờ giả mạo. Y đã bị bắt và mặc dầu đã phản đối liên tục, y vẫn bị giải giao cho cơ quan Gestapo. Trong đêm 31 tháng 12 qua sáng 1 tháng giêng năm 1940, đoàn xe lửa vẫn tiếp tục chạy, chuyến tàu này đã đưa trở về đất Đức 70 người chiến bại. Đi xuyên qua nước Ba Lan bị tàn phá vì chiến tranh, chúng tôi tiếp tục đi về Thành Phố Brest-Litovsk. Trên chiếc cầu tên Bug chúng tôi đợi các nhân viên của chế độ độc tài của Âu Châu, đó là cơ quan Gestapo.

Alexandre Weissberg trong chuyến di chuyển này đã đào thoát được. Ông này đã liền gia nhập vào đội ngũ kháng chiến người Balan và cùng chiến đấu với các người này. Sau khi chiến tranh chấm dứt, ông đã vượt thoát qua nước Suède, Thụy Điển và sau ông qua nước Anh.

Trong quyển hồi ký của ông và của bà Neumann với tựa đề: Tôi tố cáo, nhà xuất bản Fasquella 1953, Ông viết:

Có ba người đã từ chối đi qua cầu: Một thầy giáo người Đức mà tôi quên mất tên, một người thợ tên Bloch người Hung gia Lợi, và một người Do Thái. Họ đã bị dùng sức mạnh lôi qua cầu. Các người lính SS đã nổi cơn phẩn nộ và họ trút lên đầu người Do Thái. Chúng tôi được chuyển lên một đoàn xe lửa khác và đưa về Lublin… tại đây cơ quan Gestapo tiếp quản chúng tôi và chúng tôi biết thêm rằng khi cơ quan NKVD giao chúng tôi cho những người lính SS Quốc Xã, họ cũng giao luôn tất cả hồ sơ cá nhân của chúng tôi. Vì vậy trong hồ sơ với tên thiệt của tôi, còn có ghi tôi là vợ của lãnh tụ cộng sản Neumann và chồng tôi là người bị những người Đức Quốc Xã khinh ghét nhất.

Bà Magarete Buber-Neumann đã là nhân chứng và lời tố cáo trên. Bà ðã khai trước tòa án, nhân vụ xử án của Lettres françaises chống lại (kiện) Kravchenko, phiên xử thứ 14. Bản ghi chép tốc ký đăng trên báo La Jeune Parque 1949. Bà Magarete Buber-Neumann bị cơ quan NKVD bắt đưa đi đày ở Sibérie vào năm 1937. Sau bà bị giải giao cho các người Quốc Xã Đức và bị đưa đi giam ở trại tập trung Ravensbruck. Bà sống sót và được giải thoát vào năm 1945.

Cùng một lượt với các người cộng sản Đức, các người lãnh đạo của đảng cộng sản Palestine, trong số này có một số người đã di cư trước khi xảy ra chiến tranh, cũng bị bộ máy khủng bố ‘’đớp’’ (happer) luôn. Joseph Berger (1904-1978) cựu thơ ký của đảng cộng sản Palestine (tên viết tắt PCP) từ năm 1929 đến năm 1931, đã bị bắt giam ngày 27 tháng 2 năm 1935 và chỉ được trả tự do sau đại hội lần thứ 20 của đảng cộng sản Sô Viết vào năm 1956. Nhiều người lãnh tụ cộng sản khác đã bị hành quyết vào nhiều ngày khác nhau hay đã biến mất trong các trại cưỡng bách lao động. Ông Wolf Averbuch đã được làm giám đốc xưởng chế tạo máy kéo ở Rostsv trên sông Don, đã bị bắt giam vào năm 1936 và bị hành quyết vào năm 1941. Chính sách tiêu diệt có phương pháp các đảng viên của PCP hay là các nhóm ‘’Xã Hội-Do Thái’’, những người này đã di cư sang Nga, chính sách này có liên lạc với chính sách Sô Viết đối với thiểu số dân gốc Do Thái với việc thành lập vùng tự trị ở Birobidjan với các người chịu trách nhiệm đã bị tố cáo buộc tội ‘’kẻ thù của nhân dân’’. Sau ông này, các nhà lãnh đạo của vùng tự trị này cũng bị khiển trách (réprimé). Samuel Augurskij (1884-1947) đã bị tố cáo là đã thuộc vào nhóm ‘’judéo-phát xít’’. Tất cả thành viên của phân bộ Do Thái của đảng cộng sản Nga (tên Jewsekija) đều bị giải tán. Mục đích là phá bỏ các cơ cấu Do Thái trong lúc nhà nước Sô Viết đang tìm sự giúp đỡ của tất cả các người Do Thái sinh sống ngoài đất Nga.

Một trong những nhóm chịu sự khủng bố khốc hại và nặng nề hơn mọi nhóm khác là nhóm các người cộng sản Ba Lan. Trong các bản thống kê về các cuộc đàn áp, họ đứng vào hàng thứ hai sau các người Nga. Vì ở một hoàn cảnh đặc biệt, đảng cộng sản Ba Lan đã bị tuyên bố ‘’giải tán’’ chính thức sau một cuộc biểu quyết ‘’mau chóng’’ của (tổ chức Komintern), ủy ban hành chánh trung ương ngày 16 tháng 8 năm 1938. Staline đã luôn luôn nghi ngờ đảng cộng sản Ba lan (tên viết tắt KPP) là đã liên tục có nhiều khuynh hướng sai lạc và trật đường lối. Có nhiều người lãnh đạo của đảng này đã là các người thân cận của Staline vào trước năm 1917 và đã sống lẫn lút ở nước Nga, không được một sự bảo vệ pháp lý nào cả. Năm 1923, KPP đã ngã theo phía Trotski. Trước khi Lénine qua đời, ban lãnh đạo đã chấp thuận một nghị quyết thuận lợi cho phái công nhân chống đối. Và sau đó đã theo khuynh hướng của người Lục Xâm Bảo (Luxembourgisime) và đã bị phê bình. Nhân kỳ đại hội 5 của tổ chức Komintern, Staline đã xa thải ban lãnh đạo lịch sử của KPP là Adolf Warski, Maximilian Walecki và Wera Kostrewa-Kochtchva, bước đầu tiên để nắm lấy quyền kiểm soát của tổ chức Komintern. Về sau KPP bị tố cáo là cái ổ của tổ chức Trotsky. Việc tóm tắt ngắn ngủi này đã có thể giải thích riêng cho việc thanh trừng cấp tiến đối với nhiều vị lãnh tụ của đảng này mà phần lớn là gốc Do Thái. Và cũng có vụ: Tổ chức quân sự Ba Lan (tên viết tắt là POW) vào năm 1933. (xin xem phần đóng góp của Andrzej Pacj Paczkowski) Và cũng xin ghi nhớ yếu tố sau đây: Chính sách của tổ chức Kominternlà bắt buộc phân bộ cộng sản Ba Lan là phải làm suy yếu chính quyền quốc gia Ba Lan để có lợi cho Liên Bang Sô Viết và nước Đức. Có giả thuyết (hypo thèse) theo đó việc giải tán KPP đã do yếu tố của nhu cầu để sửa soạn việc ký kết thỏa ước Đức Quốc Xã và Nga Sô Viết, giả thuyết này đáng được chú ý. Đường lối hành sự của Staline đáng được chú ý, với các lịnh và các chỉ thị của Komintern đã lần lượt ra lịnh cho các lãnh tụ cộng sản Ba Lan, các người này ít lâu sau đó sẽ là các nạn nhân của các cuộc thanh trừng do Staline chủ xướng, lịnh triệu hồi họ trở về Moscow và vì vậy gần như không có được một người nào thoát khỏi bị thanh trừng. Trong số người bị bắt giam chỉ có Wladyslaw Gomulka. Tháng 2 năm 1938 tờ báo Thơ Tín Quốc Tế (Correspondance internationale) suất bản mỗi tuần 2 số, dưới bút hiệu của J. Swiecicki đã viết bài tố cáo toàn thể các đảng viên đảng KPP. Trong cuộc thanh trừng khởi đầu từ tháng 6 năm 1937, người Tổng Thư Ký tên Julian Lenski đã được triệu hồi sang Moscow và biến mất từ đó. Mười hai người của ủy ban chấp hành trung ương cùng nhiều người lãnh tụ thuộc loại hai và hàng trăm đảng viên bị thủ tiêu. Việc thanh trừng lan tràn qua các đảng viên đang chiến đấu ở trong đội ngũ của Trung đoàn quốc tế (Brigade nationale) đang xung kích ở mật trận nội chiến Espagne: Các chánh trị viên trung đoàn Dombrowski, Kazimerz, Cichowski, và Gustav Reicher liền bị bắt khi trở về Moscow. Mãi đến năm 1942, vì nhu cầu chính trị để có tiếng nói chống lại ảnh hưởng của chính phủ Ba Lan hợp pháp tị nạn tại Londre, khi ấy Staline mới cho lịnh tái thành lập lại đảng cộng sản Ba Lan dưới tên là đảng công nhân Ba Lan (Parti ouvrier Blonais) viết tắt là PPR và đảng này về sau là nồng cốt cho chính phủ Ba Lan sau chiến tranh.

Đảng cộng sản Yougoslave cũng đã chịu quá nhiều đau khổ do các cuộc khủng bố của Staline ra lịnh. Năm 1921 đảng cộng sản này đã chính thức bị cấm hoạt động, các đảng viên thoạt đầu di tản sang Vienna vào các năm từ 1921 đến 1936, rồi sang Paris từ năm 1936 đến 1939. Nhưng một số đông đảng viên đã chạy qua Moscow vào năm 1925 và nơi đây được coi là trung tâm. Họ là các học viên Trường Đại Học của các dân thiểu số cộng sản, của trường quốc tế chính sách Lénine, và của trường đại học cộng sản Serdlov.Đến năm 1929, vị Vua Yougoslave la Alexandre thiết lập chế độ độc tài, lại thêm một lớp mới dân Yougoslave chạy qua Sô Viết, tăng cường thêm số người Yougoslave đã sống tại đây. Trong các năm của thập niên 1930, tại Liên Bang Sô Viết đã có từ 200 đến 300 người dân Yougoslave sinh sống và là các cán bộ của cơ quan Komintern, hay trong các tổ chức quốc tế khác và riêng cho tổ chức thanh niên cộng sản quốc tế. Lẽ dĩ nhiên các tổ chức này đều do đảng cộng sản Sô Viết thống nhất lãnh đạo. Các người cộng sản Yougoslave viết tắt là PCY. Trong nhiều trường hợp đã phải có sự can thiệp của tổ chức Komintern vào các cuộc tranh giành, các cuộc can thiệp đã thường xuyên diễn ra và nhiều khi có tính cách cưỡng bức. Vào giữa năm 1925 đã diễn ra một cuộc kiểm soát-khai trừ (tên gọi là Tchistka) ở trong tổ chức KUMMZ, các học viên của Trường Đại Học này có khuynh hướng thiên về phía các người thuộc nhóm Công Giáo chống đối. Opposition Ouvrière, chống lại Viện Trưởng là bà Maria J. Fzoukina. Vài người học viên đã bị đuổi ra khỏi trường và bị khiển trách, có bố người trong số này đã bị bắt giam (Ante , Ciliga, Dedic, và Eberling đã bị bắt và đưa đi đày tại Sibérie). Đến năm 1932, lại xảy ra một cuộc thanh trừng trong đảng PCY và 16 người lãnh tụ khác đã bị khai trừ.

Sau khi Kirov bị ám sát, việc kiểm soát các người dân thuộc nước ngoài trên bình diện chính trị đã được tăng cường vào mùa Thu năm 1936. Các người lãnh tụ của PCY đều phải chịu sự kiểm thật (vérification) trước khi họ chịu sự khủng bố. Khác với số phận các người công nhân vô danh, số phận của các người di dân thuộc diện chính trị đã cho biết rõ: 8 người thư ký của ủy ban trung ương PCY, và 15 thành viên của ủy ban trung ương cũng 21 người thư ký thuộc các phân bộ địa phương đã bị bắt và cùng mất tích tất cả. Một trong những người thư ký tên Sima Marksvitch, đang phục vụ tại Viện Hàn Lâm Khoa Học, người này bị bắt buộc phải di cư sang Nga Sô Viết, đã bị bắt vào thábg 7 năm 1939, đã bị kết án 10 năm tù giam không có quyền liên lạc với bất cứ một ai và y đã chết trong tù. Các người khác sau khi bị bắt đã bị hành quyết liền như trường hợp của hai anh em Vujovic, Radimir là thành viên của ủy ban trung ương PCY và Gregor thành viên của ủy ban trung ương quốc tế, các em của họ là Voja cựu thành viên trách nhiệm của thanh niên quốc tế cộng sản đã liên đới với Trotski vào năm 1927 đã biệt tích và làm cho các em của y cũng bị bắt giam. Milan gorkic, thơ ký của ủy ban trung ương đảng PCY từ năm 1932 đến năm 1937 đã bị buộc tội ‘’tổ chức một toán người chống lại Sô Viết trong lòng quốc tế cộng sản và đã lãnh đạo một nhóm người khủng bố ở trong lòng của tổ chức Komintern’’, tổ chức khủng bố này do ông Knorin và Piatnitski chỉ huy. Vào giữa năm 1960, PCY đã phục hồi danh dự cho cả hơn hàng trăm người nạn nhân nhưng không có làm một cuộc điều tra nào. Lẽ dĩ nhiên là các cuộc điều tra này, nếu có sẽ đặt ra vấn dề gián tiếp cho ‘’các người đã là nạn nhân của các cuộc đàn áp dùng để nhắm vào các người thân Nga Sô Viết’’ xảy ra tại Yougoslavie sau cuộc ly khai giữa Yougoslavie và Liên Bang Sô Viết vào năm 1948. Nhưng lại đưa ra ánh sáng vấn đề ‘’nhứt nhối’’ là việc Tito (Josip Broz) lên làm chủ tịch đảng vào năm 1938 đã diễn ra sau một cuộc thanh trừng đẫm máu. Truyện xảy ra khi Tito chống lại Staline, đã không làm bớt được trách nhiệm của Tito trong các cuộc thanh trừng diễn ra vào các năm 1930, diễn ra trong đảng PCY.

Cuộc săn bắt các người Trotsky

Sau khi đã tàn sát các người cộng sản sống trên đất Nga Sô Viết, Staline khởi cuộc tấn công các người ‘’cộng sản’’ ly khai sống ở các nước ngoài. Và đây chỉ là dịp để cơ quan NKVD phô trương quyền lực của họ trên khắp thế giới.

Trường hợp điển hình và ngoạn mục là của Ignaz Reiss, tên thật là Nathan Poretski. Reiss là một người Do Thái trẻ tuổi làm cách mạng từ lúc chiến tranh 1914-1918 còn đang diễn ra, như ở Trung Âu đã từng xảy ra, tổ chức Komintern đã tuyển mộ các người cách mạng trẻ tuổi. Là một người ‘’khuấy rối’’ chuyên nghiệp (agitateur professionnel) Reis phục vụ trong các hệ thống bí mật quốc tế và đã hoàn thành ‘’tốt các nhiệm vụ mà y được giao phó và y đã được tặng huy chương Cờ Đỏ vào năm 1928’’. Sau năm 1935, y được cơ quan NKVD chiếu cố vì cơ quan này được bổ nhiệm kiểm soát tất cả các bí mật ở các nước ngoài cùng với nhiệm vụ về gián điệp ở nước Đức. Cuộc xử án đầu tiên ở Moscow đã làm ‘’đảo lộn’’ tinh thần của Reiss và y quyết định cắt đứt liên hệ cảm tình với Staline.

Hiểu rõ nội bộ cùng đường lối xử sự và các mánh khóe của cộng sản, Reiss đã chuẩn bị chu đáo cuộc ‘’đào tẩu’’ của y và ngày 17 tháng 7 năm 1937, y cho công khai công bố bức thư của y gởi cho ủy ban đảng cộng sản Nga thống nhất. Trong bức thư y đã giải thích và nêu danh đích danh Staline và chủ nghĩa Stalinis mà y gọi là ‘’lợi dụng một cách tồi tệ các cơ hội chủ nghĩa, mà nơi đó các cơ hội chủ nghĩa này không có mộ nguyên tắc hành sự, chỉ biết làm đổ máu, thực hiện các lời nói láo, và với các việc này sẽ đầu độc toàn thế giới, sẽ đưa đến việc tiêu diệt các phong trào công nhân’’. Reiss cũng đồng thời cho biết là y sẽ gia nhập vào hàng ngũ của Léon Trotski. Như vậy là Reiss đã không ngờ là y tự ký vào lịnh tử hình đối với y. Cơ quan NKVD, lập tức huy động mạng lưới bí mật của cơ quan này tại Pháp và đã tìm ra chỗ Reiss đang ở tại Thụy Sĩ và gài bẫy để hạ sát Reiss. Tại Lausanne buổi tối ngày 4 tháng 9 năm 1937, hai đảng viên người Pháp đã bắn chết Reiss, trong lúc đó một nữ nhân viên NKVD toan tính ám sát vợ và đứa con trai của Reiss bằng cách đem biếu họ một hộp sô-cô-la (chocolat) có tẩm thuốc độc. Mặc dầu với các việc điều tra ‘’cần mẫn’’ của cơ quan công an Pháp và Thụy Sĩ đều không tìm ra được hai tên sát nhân và người nữ nhân viên hầu có thể truy tố họ được. Trotski đã tố cáo Jacques Duclos lúc ấy là một trong các người thơ ký của đảng cộng sản Pháp (PCF) và yêu cầu người thư ký riêng của mình là Jan van Heijenoort gởi một bức điện thư cho Thủ Tướng Pháp: ‘’Chantemps, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, trong vụ ám st Ignaz Reiss, Ăn trộm các văn khố của tôi và các tội ác tương tự, tôi xin phép nhấn mạnh phải hỏi cung, hay ít nữa là như nhân chứng Jacques Duclos, Phó Chủ Tịch của phòng các Dân Biểu và là nhân viên kỳ cựu của cơ quan Guépou’’. Bức điện văn này không đạt được một cách quả nào và Jacques Duclos là phó chủ tịch phòng các dân biểu từ năm 1936.

Vụ ám sát Reiss lẽ dĩ nhiên là ngoạn mục và năm trong một kế hoạch rộng lớn để thu tiêu các người Trotsky. Vì vậy không lấy gì làm ngạc nhiên về việc tàn sát các người thuộc phe Trotsky ở Nga cũng như việc tàn sát các người khác. Việc làm ngạc nhiên mọi người là dù ở các nước ngoài, các cơ quan đặc biệt của NKVD ở các nước ngoài đã ‘’sốt cuồng lên’’ (avec hargne) để thủ tiêu các người đối lập, hay là các người theo phe Trotsky được thành lập tại các nước này. Căn bản của công tác này là việc kiên nhẫn để xâm nhập (infiltration) vào các nhóm Trotsky này. Tháng 7 năm 1937, vị lãnh tụ chịu trách nhiệm của văn phòng ‘’đối lập Trotsky quốc tế’’ tên là Rudolf Klément đã mất tích. Ngày 28 tháng 8 người ta khám phá ra một tử thi cụt đầu và tay chân, nổi lên trên sông Sein gần Paris, và người ta đã nhận diện được là Klement. Người con trai của Trotski, tên là Leon Sedov, đã chết ở Paris sau khi chịu một cuộc giải phẩu, các điều kiện về cái chết này có nhiều điều đáng nghi ngờ và thân nhân của kẻ quá cố đã nghĩ đây là một vụ ám sát do các cơ quan đặc biệt của Nga Sô Viết đã tổ chức khéo léo. Trái lại trong cuốn hồi ký của Pavel Soudsplatov đã ghi là không hề có việc này. Nhưng việc được xác nhận là Léon Sedov đã bị đặt dưới sự theo dõi chặt chẽ (surveillance) của cơ quan NKVD. Một người thân cận của Sedov, tên là Mark Zborowski, là một nhân viên của cơ quan NKVD được phái xâm nhập vào số các người thân cận Sedov.

Ngược lại, Soudoplatov đã nhìn nhận là vào tháng 3 năm 1939, chính Béria và Staline đã ra lịnh ám sát, cũng chính Staline cùng với Soudoplatov lo phụ trách việc này. Staline đã nói với y: ‘’Phải thanh toán y nội trong năm nay trước khi chiến tranh xảy ra, việc chiến tranh xảy ra là một việc không thể tránh được và còn thêm: (đồng chí sẽ tùy thuộc vào Béria và không người nào khác, vậy đồng chí chịu hoàn toàn trách nhiệm về nhiệm vụ này). Một cuộc lùng bắt tàn nhẫn đã diễn ra và đưa đến Mexico, là nơi người lãnh tụ của phong trào của Đệ Tứ Quốc Tế đang cư ngụ, sau khi người này đã bôn tẩu qua các nơi như Paris, Bruxelle và Mỹ Quốc. Với sự đồng lõa của đảng cộng sản Mexico, các nhân viên của Soudsplatov sửa soạn và thi hành một cuộc mưu sát đầu tiên vào ngày 24 tháng 5 mà Trotski đã thoát được cuộc mưu sát này và coi như là một phép lạ (micracle).

Với sự ‘’xâm nhập’’ vào giới thân cận của Trotski, tên Ramon Mercader, một tên giả của người nhân viên của Soudsplatov để tìm cách trừ bỏ Trotski. Mercader đã lần lần gây được lòng tin của một người nữ lãnh tụ Trotsky và đã đến gần được ‘’ông Già’’. Vì ít nghi ngờ, Trostki đã chấp nhận cho tên này gặp theo lời yêu cầu của hắn vì hắn muốn xin ý kiến của Trotski về một bài viết của hắn để bào chữa cho Strotski, một người cách mạng. Trong lúc Trostki đang ngồi bên bàn giấy chú ý đọc bài viết của Mercader thì tên này đến đứng bên cạnh Trotski và dùng một cái búa nhọn bằng sắt đập vào đầu Trotski. Bị vết thương quá nặng, Trotski rú lên một tiếng lớn. Vợ của Trotski và các người hộ viên liền chạy ùa vào, còn tên Mercader thì đứng im, hắn đã thành công việc mưu sát. Ngày hôm sau Trotski qua đời.

Louis Aragon – năm 1931

Tiên triệu cho thời hoa anh đào.
Tôi ca tụng cơ quan Guépou đã thành hình, ở Pháp vào thời điểm này.
Tôi ca tụng cơ quan Guépou, cần thiết cho nước Pháp.
Tôi ca tụng cho cơ quan ở mọi nơi, và không có tại mọi nơi.
Tôi ca tụng cho cơ quan để chuẩn bị cho kết thúc một xã hội.
Hãy xin cơ quan Guépou để bảo vệ cho các người bị phản bội.
Và để bảo vệ cho các người luôn luôn đã bị phản bội.
Hãy xin một cơ quan Guépou, anh mà người ta đè nén và người ta giết.
Hãy xin một cơ quan Guépou, anh cần có một cơ quan Guépou.
Hoan hô cơ quan Guépou hình ảnh của biện chứng pháp của sự anh hùng.
Và người ta có thể chống lại hình ảnh của các người phi công ngu độn.
Do các thằng ngu độn là các anh hùng khi chúng không còn, cái mõm của chúng xuống đất.
Hoan hô cơ quan Guépou, hình ảnh vĩ đại của biện chứng pháp.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại ‘’trời’’ Chiappe và bài quốc ca Marseillaise.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại giáo hoàng và các con rận.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại sự nhẫn nhục của các ngân hàng.
Hoan hô cơ quan chống lại các cuộc thao luyện ở hướng Đông.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại gia đình.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại chủ nghĩa xã hội loại của Caballero Boncour và Mac Donald Zoergibel.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại tất cả kẻ thù của giới vô sản.
Hoan hô cơ quan Guépou.

(Do Jean Malaquais sao lục: Tên Louis Aragon người yêu nước nhà nghề
Phụ trương của nguyệt san Các khối quần chúng. Tháng 2 năm 1947.)

Việc xâm nhập giữa các đảng cộng sản và các chi bộ thuộc tổ chức Komintern, do cơ quan NKVD chủ động đã bị Trotski tố cáo và ông đã nhận thức là tổ chức Komintern đã bị cơ quan Guépou và NKVD chi phối. Trong văn thư đề ngày 27 tháng 5 năm 1940 gởi cho ông tổng biện lý của nước Merxico, ba ngày sau khi mưu sát hụt Trotski, và ông là nạn nhân, ông đã viết: Cơ quan Guépou đã có các truyền thống và các phương pháp đã được tạo dựng ở ngoài lãnh thổ của Liên Bang Sô Viết. Cơ quan Guépou cần sự che chở hợp pháp hay bán hợp pháp để tuyển mộ các nhân viên, cơ quan này đã tìm được môi trường thuận tiện và sự che chở nơi cái gọi là ‘’các đảng cộng sản’’. Trong bản văn cuối cùng, cũng nói về các câu chuyện ở một cuộc mưu sát xảy ra ngày 24 tháng 5, ông đã trở về các chi tiết của hành động này mà ông ‘’suýt’’ là nạn nhân. Đối với ông, ông vẫn dùng danh hiệu GPU được chấp nhận năm 1922 khi ông còn làm chỉ huy trưởng cơ quan này đó là ‘’bộ phận chính quyền lực của Staline’’ và đó cũng là ‘’công cụ dùng để khủng bố thống trị độc tài’’ ở URSS với một tinh thần tôi đòi và vô liêm sĩ, tinh thần này đã lan tràn trên toàn tổ chức Komintern và đã đầu độc phong trào các người công nhân đến tận xương tủy. Ông đã nhấn mạnh rất dài dòng về chiều hướng đặc biệt này đã quyết định nhiều đến các tầng lớp của các đảng cộng sản. Về phương diện tổ chức, cơ quan GPU và tổ chức Komintern không giống nhau, nhưng họ có sự liên kết không thể nào làm rời nhau ra. Họ đã bị bắt buộc phải lệ thuộc vào nhau, không phải tổ chức Komintern ra lịnh cho GPU mà trái lại cơ quan GPU đã chế ngự hoàn toàn tổ chức Komintern

Việc phân tích này đã dựa vào nhiều nguyên tố hay khái luận là do các thành quả của hai chiến cuộc mà Trotski đã từng sống qua: Thứ nhất, khi còn là một trong những người lãnh đạo một nhà nước Sô Viết đang thành hình và thứ hai, khi trở thành một người bị phóng trục (proscrit) bị săn đuổi qua mọi nước bởi các nhân viên của cơ quan NKVD, tên các người này ai cũng đều biết chắc chắn. Vào thời gian này đó là những người chỉ huy các ‘’đặc vụ’’ tổ chức này được Nikolai Iejov thành lập vào tháng 12 năm 1936: Serguei Spiegeglass (y đã thất bại) Pavel Soudoplatov (chết vào năm 1996) và Naoum Eitingon (chết vào năm 1918) các người này đã thành công nhờ vào các đồng lõa.

Về việc ám sát Trotski xảy ra ngày 20 tháng 8 năm 1940, tất cả các chi tiết đã được các cuộc điều tra cho biết hết và do các cuộc điều tra tại chỗ, về sau Julian Gorkin đã tiếp tục cứu sét lại các hồ sơ của các cuộc điều tra đã được thực hành. Hơn nửa người ta đã biết được ai là người chủ chốt (commanditaire) trong vụ này, các nguồn tin đã được công nhận bởi Soudoplato tên sát nhân là Jaime Raimon Mercader, con của Caridad Mercader một người cộng sản phái nữ đã từ lâu làm việc cho tổ chức ‘’đặc vụ’’, và cô này đã trở thành người tình của Naoum Eitignon. Tên sát nhân Mercader đội lốt dưới tên Jacques Mornard để tìm cách đến gần Trotski. Tên Jacques Mornard là tên của một người có thiệt, người này ở Belgique và đã từ trần vào năm 1967. Jacques Mornard đã gia nhập trung đoàn quốc tế và đã chiến đấu bên Espagne. Có thể là giấy thông hành của Mornard đã bị ‘’đặc vụ’’ Sô Viết mượn tạm, Mercader còn dùng một tên khác là Jacson, người Canada đã chết khi chiến đấu tại Espagne cũng trong trung đoàn quốc tế và giấy thông hành của y cũng để cho Mercader sử dụng. Ramon Mercader đã chết vào năm 1978 ở La Havane, Fidel Castro đã mời y đến làm việc ở đây với tư cách là cố vấn cho các việc thuộc về bộ nội vụ. Mercader đã được thưởng huân chương cao quý nhất của Liên Bang Sô Viết và đã được đem chôn ở Moscow trong vòng kín đáo.

Staline sau khi đã trừ bỏ được đối thủ cuối cùng về chính trị, nhưng không phải vì vậy mà các cuộc truy lùng các phần tử Trotsky chấm dứt. Gương mẫu của cộng sản Pháp đã biểu lộ tâm tính trong những phản ứng mà các người lãnh tụ cộng sản Pháp đã hấp thụ được để đối phó với các người lãnh tụ của các nhóm nhỏ người Trotsky. Trong khi nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng, có nhiều người Trotsky Pháp đã bị tố cáo cho công an Pháp hay là cơ quan Gestapo bắt giam họ, việc này là việc có thể xảy ra. Ở trong các khám đường của Pháp và ở trong các trại tập trung thời Vichy, các người Trotsky đều bị biệt giam riêng biệt. Tại Nontron thuộc vùng Dordogne, Gérard Bloch đã chịu sự ngược đãi bằng cách biệt đãi (ostracimes) trong tổng số các người cộng sản Pháp cùng bị giam do sự mưu đồ của Michel Bloch (con của nhà văn Jean Richard Bloch. Sau đó, Gérard Bloch đã được dời qua khám đường ở Eysses, có một thầy giáo phe kháng chiến người Công Giáo bị bắt giam chung đã báo trước cho Gérard Bloch.

Nằm trong bối cảnh hận thù mù quán này, vụ mất tích của bốn người Trotsky trong số này có Pietro Tresso, sáng lập viên đảng cộng sản Italie xảy ra trong khu rừng kháng chiến (maquis) FTP ‘’wodli’’ thuộc vùng Haute Loire đã nói lên tất cả ý nghĩa. Họ cùng vượt ngục Puy en Velay ngày 1 tháng 2 năm 1943 cùng với các người bạn cộng sản, năm người đấu tranh Trotsky đã được sự bao quản (pris en charge) của các người kháng chiến (maquis) cộng sản. Một trong 5 người này, vì sự tình cờ đã được tách rời ra khỏi nhóm Trotsky. Tên người này là Albert Demazière và là người may mắn được sống sót: Tresso, Pierre Salini, Jean Reboul, Abraham Sadek đều đã bị các người FTP hành quyết vào tháng 10, sau một vụ giả dạng (simulacre) tòa xử đáng chú ý. Các người nhân chứng và các người diễn viên còn sống sót đã thuật lại là 4 người đấu tranh này đã bị buột tội là ‘’toan tính bỏ thuốc độc vào nước uống’’, một lối tố cáo của thời trung cổ ‘’moyen âge’’ và đưa trở lại nguồn gốc Do Thái của Trotski. (Con của Trotski tên là Serguei còn ở lại nước Nga cũng bị tố cáo giống như 4 người đấu tranh Trotsky ), và hơn nửa cũng có thêm một người tù của các người kháng chiến gốc Do Thái tên là Abraham Sadeck. Như vậy, phong trào cộng sản đã chứng tỏ họ đã không tránh khỏi việc bài Do Thái một cách vụng về. Trước khi họ bị ám sát, bốn người đấu tranh Trotsky đã được chụp hình, có lẽ để cho các tổ chức cao cấp của đảng cộng sản Pháp nhận diện và họ bị bắt buộc phải viết bản mô tả tiểu sử của họ cùng các hoạt động đấu tranh.

Trong các trại tập trung, (camp de concentration) ở Đức, những người cộng sản tìm cách tiêu diệt các đối thủ chính trị ở gần họ bằng cách lợi dụng các địa vị mà họ đã đạt được trong hệ thống các nấc thang quản trị (échelle de gestion) của các trại giam. Ông Marcel Beaufrère người có trách nhiệm tại vùng Bretagne của đảng thợ thuyền quốc tế bị bắt giam vào tháng 10 năm 1943 và đưa đi qua trại Buchenwald vào tháng giêng năm 1944, đã bị nghi ngờ là người của phe Trotsky bởi một người cộng sản làm xếp của các liên trại (interblocs) Mười ngày sau, một người bạn báo cho anh biết là tổ cộng sản của trại 39, nơi anh đang ở đã lên án tử hình anh và muốn đưa anh qua trại của các người sẽ được làm vật thử nghiệm về y khoa, nơi đây họ sẽ chích vào người anh các vi trùng của bệnh chí rận (typhus). Ông Marcel Beaufrère vào giờ chót đã được các người đấu tranh người Đức cứu sống? Họ chỉ cần sử dụng phương pháp tập trung của người Đức để trừ bỏ (débarrasser) các đối thủ chính trị, dù là các người này cũng là những nạn nhân của cơ quan Gestapo hay bọn SS, bằng cách gởi các người này đi vào các toán ‘’lao động nguy hiểm nhứt’’ (commando). Hai người Marcel Hic và Roland Filatre, cả hai đều bị đưa đi trại Buchenwald và đã bị chuyển qua trại ‘khủng khiếp Dora’, với sự ưng thuận của các cán bộ KPD, các cán bộ này đang làm các việc hành chánh ở trong trại. Marcel Hic đã chết tại trại này. Tài liệu của Rodslphe Prager viết trong bài: Các người Trotsky ở trại Buchenwald in trên nguyệt san ‘’phê bình cộng sản’’ số 25 tháng 11 năm 1978. Còn về phần Roland Filatre sống sót và được giải phóng đã trở về đời sống dân sự sau chiến tranh, nhưng ông vẫn bị theo dõi và năm 1948 đã thoát được một cuộc mưu sát tại nơi ông làm việc.

Nhiều vụ thủ tiêu các người đấu tranh Trotsky khác đã diễn ra sau khi nước Pháp được giải phóng. Là một người công nhân trẻ tuổi thuộc nhóm ‘’đấu tranh giai cấp’’ ở vùng Paris, Mathieu Bucholz đã ‘’biệt tích’’ ngày 11 tháng 9 năm 1947, tờ báo của nhóm ông đã nêu lên thủ phạm của cuộc ‘’biệt tích’’ này là các người cộng sản thân Staline.

Ở Hy Lạp (Grece) phong trào Trotsky không có thể nói là không đáng kể. Một người thư ký của đảng cộng sản Hy Lạp viết tắt là KKE tên Pandelis Pouliopoulis, đã bị các người lính Italie xử bắn. Ông này đã gia nhập đảng cộng sản trước khi xảy ra chiến tranh. Khi xảy ra chiến tranh, các người Trotsky với tư cách cá nhân, họ đã gia nhập vào hàng ngũ của ‘’mặt trận giải phóng quốc gia’’ (EAM) thành lập vào năm 1941 bởi các người cộng sản. Tướng Aris Velouchiotis chỉ huy quân đội nhân dân giải phóng quốc gia (ELAS) đã ra lịnh xử bắn lối 20 người lãnh đạo Trotsky. Sau ngày giải phóng việc bắt cóc các người đấu tranh Trotsky vẫn được tiếp diễn. Thường thường họ bị tra tấn để phải khai báo và cho địa chỉ của các đồng chí của họ. Năm 1946, trong bản phúc trình cho ủy ban trung ương đảng cộng sản Vassilis Bartzistas đã nêu lên con số 600 người Trotsky đã bị tổ chức OPLA (tổ chức bảo vệ các cuộc đấu tranh bình dân) hạ sát. Trong con số 600 người này có thể gồm có người vô chính phủ (anarchistes) hay là các người xã hội ly khai (các người Archéomarxistes, các người đấu tranh được tổ chức ngoái vòng lệ thuộc của đảng cộng sản Hy Lạp và được thành lập từ năm 1924, các người này cũng bị lùng bắt và ám sát.

Các người cộng sản của nước Albanie cũng không bị bỏ sót. Sau khi đã được thống nhất vào năm 1941, các nhóm tả huynh đã tụ tập chung quanhAnastaste Loula, các nguồn bất đồng chính kiến đã diễn ra giữa các người Trotsky với các người chính thống (Enver Hoxha, Memet Chehu) được sự cố vấn của các người cộng sản Yougoslaves. Trong năm 1943, Loula, đã bị hành quyết đơn giản. Sau nhiều cuộc toan tính mưu sát, Sadik Premtag, và các người lãnh đạo Trotsky khác được sự ủng hộ của dân chúng đã trốn thoát qua nước Pháp, tháng 5 năm 1951, ông là nạn nhân của một cuộc mưu sát khác do Djemal Chami tự ra tay, y là một cựu chiến binh của trung đoàn quốc tế và là người của Sứ Quán Albanie tại Pháp.

Bên Trung Quốc, một phôi phai (embryon) của phong trào Trotsky được thành lập vào năm 1928 dưới quyền của Chen Duxiu, một người sáng lập và là thư ký của đảng cộng sản Trung Quốc (viết tắt là PCC) và cùng với các người khác thi hành chung lý tưởng cộng sản. Trong lúc xảy ra chiến tranh với nước Nhật, một phần các người Trotsky đã gia nhập vào đội ngũ của bát lộ quân của quân đội nhân dân (viết tắt là APL). Chính Mao trạch Đông đã ra lịnh hành quyết các người theo phong trào Trotsky và thanh toán các tiểu đoàn do các người Trotsky chỉ huy. Sau khi cuộc nội chiến chấm dứt các người Trotsky đã bị săn đuổi và giết chết. Số phận của những người này đến nay vẫn không được biết.

Ở Đông Dương tình thế vào giai đoạn đầu lại khác. Các người Trotsky thuộc nhóm tranh đấu và các người cộng sản cùng có đường lối chung, khởi đầu từ năm 1933. Ảnh hưởng của riêng nhóm Trotsky ở về phía Nam nói riêng là mạnh. Năm 1937, theo một chỉ thị của Jacque Duclos cấm đảng cộng sản Đông Dương tiếp tục cuộc hợp tác với các người Trotsky thuộc nhóm tranh đấu. Trong những tháng sau cuộc đầu hàng của nước Nhật, một chi nhánh của nhóm Trotsky ‘’liên đoàn cộng sản quốc tế’’ đã tạo được một ảnh hưởng khá đủ để làm các người lãnh đạo cộng sản lo ngại. Tháng 9 năm 1945, khi quân đội Anh đến Sài Gòn, liên đoàn cộng sản quốc tế (tên viết tắc là LCJ) đã kích mặt trận Việt Minh (mặt trận dân chủ tranh đấu cho độc lập) về việc đón tiếp ôn hòa đối với quân đội Anh. Ngày 14 tháng 9, Việt Minh mở cuộc tấn công rộng lớn chống lại các cán bộ Trotsky, nhưng những người này không trả đũa lại. Bị bắt giam, và phần lớn đã bị giết sau đó. Các toán võ trang của các người yêu nước trong số này có các người Trotsky, sau khi đã chiến đấu chống lại quân đội Anh, Pháp, họ đã rút vào Đồng Tháp Mười và bị các toán võ trang của Việt Minh ‘’đè nát’’. Qua đến giai đoạn hai: Việt Minh quay trở lại chống các người Trotsky, thuộc nhóm tranh đấu, những người bị bắt giam ở gần Bến Súc đã bị giết khi quân đội Pháp tiến đến gần nơi đây. Bị bắt sau đó, ông Tạ Thu Thâu, người lãnh đạo lịch sử của phong trào đã bị giết vào tháng 2 năm 1946. Chính Hồ chí Minh đã viết: ‘’Các người Trotsky là các người phản bội, và là các tên gián điệp đê hèn’’.

Ở nước Tiệp Khắc (Tchécoslavaquie), định mệnh của Zavis Kalandra đã tượng trưng riêng cho ông số phận của tất cả các đồng chí của ông. Năm 1936, Kalandra đã bị trục xuất ra khỏi đảng cộng sản Tiệp (PCT , vì ông đã viết một cuốn sách tố cáo các vụ xử án ở Moscow. Tham gia vào kháng chiến ông đã bị quân đội Đức bắt giam và đưa đi ở trại Oranienbourg. Ông sống sót và khi chiến tranh chấm dứt, ông được hồi hương. Tháng 11 năm 1949 ông bị bắt và bị buộc tội đã lãnh đạo một cuộc âm mưu lật đổ nền Cộng Hòa. Ông đã bị tra tấn. Phiên tòa xử ông được diễn ra vào tháng 6 năm 1950, tại phiên tòa này, ông đã làm bản tự kiểm thảo (autocritique). Ngày 8 tháng 6 năm 1950 ông bị tuyên án tử hình. Trong nhật báo Trận chiến (Le Combat) số ra ngày 14 tháng 6 năm 1950, André Breton, đã nói với Paul Eluard can thiệp cho một người mà cả hai đều biết từ trước chiến tranh. Eluard đã trả lời: ‘’Tôi làm đã quá nhiều cho các người vô tội, các người vô tội này đã kêu gào sự vô tội của mình và trước các người thủ phạm họ đã kêu gào sự phạm tội của họ. Zavis Kalandra đã bị hành quyết ngày 27 tháng 6 cùng với 3 đồng chí của ông’’.

Các người chống phát xít và các người cách mạng ngoại quốc, nạn nhân của các cuộc khủng bố ở Liên bang Sô Viết

Tổ chức Komintern, với việc tàn sát các người Trotsky cùng với các người cộng sản ly khai không phải là việc duy nhứt mà tổ chức này đã hành động. Vào các năm của thập niên 1930, ở trên lãnh thổ Liên Bang Sô Viết có một số đông người ngoại quốc đã sinh sống ở đây dù họ không phải là cộng sản, nhưng đã bị lôi cuốn vào ‘’ảo ảnh Sô Viết’’. Rất nhiều người ngoại quốc này đã trả giá quá cao về việc mất tự do và thường bị mất mạng vì việc đam mê của họ đối với đất nước của người Sô Viết.

Vào đầu các năm 1930, các người Sô Viết đã mở một cuộc tuyên truyền ở trong vùng Carélie, vùng này nằm trong vùng cận biên giới Phần Lan và Liên Bang Sô Viết, một sự tuyên truyền cho sự ‘’xây dựng chủ nghĩa xã hội’’ để lôi cuốn các người dân. Đã có 12000 người dân Phần Lan cộng thêm với 5000 người dân Phần Lan sống trên đất Hoa Kỳ, phần đông là hội viên (ở Hoa Kỳ), vì họ gặp quá nhiều khó khăn trong cuộc khủng hoảng kinh tế vào năm 1930 như thất nghiệp, không nhà ở v.v… ‘’Cơn sốt Carelie’’ đã mạnh hơn khi các nhân viên của tổ chức thương mãi Sô Viết tên là Amtorg đã hứa với họ là họ sẽ có việc làm với đòng lương cao, nhà ở và các cuộc du lịch không tốn tiền từ New York về Léningrad. Họ được nhắn nhũ là hãy đem tất cả những gỉ họ có.

Cuộc ‘’đua nhau đi về ảo tưởng’’ (ruée vers l’utopie), theo định nghĩa của Ains Kusinen, đã biến thành cơn ác mộng. Khi họ đi đến nơi, các máy móc công nghệ của họ cùng với các tài sản, các tiền để tiết kiệm của các người dân di cư này đều bị tịch thu (việc như vậy đã tái diễn đối với các Việt kiều từ Thái Lan và Tân Calédonie, hồi hương về miền Bắc vào các năm đầu của thập niên 1960). Các giấy thông hành của họ đều bị giữ lại và họ bị đưa về các vùng kém mở mang và bị giữ lại như các người tù sống ở các vùng mà chung quanh toàn là rừng và các điều kiện sinh sống rất là cực khổ (lời người dịch: Hình thức Kinh Tế Mới mà cộng sản Việt Nam đã áp dụng cho dân tộc Việt Nam sau 30 tháng 4 năm 1975). Theo sự nhận định của Arvo Tuominen người lãnh đạo đảng cộng sản Phần Lan và được bầu vào thành viên dự khuyết của chủ tịch đoàn ủy ban hành pháp của tổ chức Komintern cho đến cuối năm 1939, sau bị kết án tử hình và y đã xin xét lại án, còn giảm xuống 10 năm tù giam, hơn nữa đã có trên hai chục ngàn người dân Phần Lan đã bị giam cầm trong các trại tập trung.

Bị cưỡng bách phải sống ở vùng Kirovakan, Aino Kuusinen đã chứng kiến sau Đệ Nhị Thế Chiến, lúc các người Amnien, nạn nhân của các cuộc tuyên truyền khéo léo của các cơ quan tuyên truyền Sô Viết, các người này đã chấp nhận đến định cư ở Cộng Hòa Sô Viết Aménie. Đáp lời kêu gọi của Staline, kêu gọi các người dân gốc Nga đang sống ở ngoại quốc hãy trở về Liên Bang Sô Viết. Các người Aménien, dù là họ đã di cư sống trên đất của Turquie, họ được động viên để trở về vùng đất của Cộng Hòa Arménie mà trong trí tưởng tượng của họ là vùng đất của tổ tiên của họ. Tháng 9 năm 1947, nhiều ngàn người đã tụ họp ở Marseille và chiếc tàu Rossia đã chở 3500 người về Liên Bang Sô Viết. Khi ấy đã có nhiều người hiểu ngày này là một chiếc bẫy ghê tởm (piège odieux) đã khép chặt vào họ và khi chiếc tàu này đã đi vào hải phận Nga, thái độ của các người cầm quyền Sô Viết thay đổi hoàn toàn. Vào năm 1948, hai trăm người Arménien đã biểu tình ở Thủ Đô Erevan khi vị ngoại trưởng Pháp tên Christian Pineau thăm viếng nơi đây. Chỉ có 60 gia đình được phép đi khỏi lãnh thổ Liên Bang Sô Viết, trong khi ấy cuộc đàn áp đã diễn ra vào những người còn bị ở lại.

Cuộc khủng hoảng không những áp đặt lên các người tự nguyện đến Liên Bang Sô Viết mà luôn cả các người đã phải đến đây để tìm chỗ ‘’dung thân’’ vì bị cưỡng bách bởi các chế độ độc tài tại đất nước của họ. Theo điều 129 của bản hiến pháp Sô Viết: ‘’Liên Bang Sô Viết ban cho quyền ‘ẩn náo’ (droit d’asile) cho tất cả các người công dân ngoại quốc đã bị truy tố vì đã bảo vệ quyền lợi của các công nhân, hay là vì các hoạt động của họ về lĩnh vực khoa học, hoặc vì do cuộc đấu tranh của họ cho nền độc lập quốc gia’’. Trong cuốn tiểu thuyết của Vassili Grossman tựa đề là: ‘’Cuộc sống và định mệnh’’, ông đã đưa ra một hài kịch về sự ‘’đối đầu’’ giữa một quân nhân SS của Hitler và một người đấu tranh bolshevik là tù nhân của tên lính SS. Trong một cuộc độc thoại (monologue) dài, tên lính SS đã phát biểu một bản án của định mệnh cho hàng chục ngàn người gồm đàn ông, đàn bà, lão ông, lão bà và các thiếu nhi họ đã đến Liên Bang Sô Viết để tìm chỗ ‘’trú ẩn’’, và sau đây là bản án: ‘’Ai đã ở trong các trại trong thời gian hòa bình, khi không có các tù nhân vì chiến tranh. Tại các trại này người ta đã gặp các người được gọi là kẻ thù của đảng, kẻ thù của nhân dân. Đây là một loại mà anh được biết rõ, đó là các người trong trại của anh. Và nếu trong thời gian hòa bình, các trại của anh nằm trong chế độ SS, chúng tôi sẽ không để các tù nhân này ra đi. Các người tù nhân của các anh là các người tù nhân của chúng tôi’’.

Dù họ từ ngoại quốc đến theo lời kêu gọi của chính phủ của các người Sô Viết, hay là họ tìm nơi an toàn mà họ đã không tìm được ở đất nước của họ vì các việc tham gia vào chính trị, tất cả các người di cư này vẫn bị coi là có thể trở thành một lực lượng gián điệp (potentiels espions) Đó là lý do thường được ghi trên các bản xử án.

Một trong những cuộc di cư quá sớm của các người chống phát xít gốc Italie, diễn ra vào các năm giữa thập niên 1920. Một số trong những người này họ tưởng rằng đã tìm thấy ‘’xứ sở của xã hội chủ nghĩa xã hội’’ là nơi ẩn náo các giấc mộng của họ. Họ đã bị thất vọng chua cay, và họ đã bị khủng bố. Các người cộng sản Italie và các người cảm tình của Liên Bang Sô Viết vào giữa các năm của thập niên 1930, lên đến khoảng 600 người: ‘’…khoảng 250 người là cán bộ chính trị di cư và 350 người là các học viên theo học trong 3 trường đào tạo về chính trị. Rất nhiều học viên này đã rời Liên Bang Sô Viết sau khi đã thụ huấn xong và 100 người đấu tranh đã tham gia chiến đấu ở Espagne trong cuộc nội chiến 1936-1937, cuộc đại khủng bố đã giáng xuống các người còn ở lại. Khoảng 200 người Italie đã bị bắt giam và bị khép vào tội ‘’làm gián điệp’’, khoảng 40 người đã bị xử bắn và người ta biết rõ lý lịch của các người này, các người khác bị gởi đi các Goulog hoặc là các mỏ khai thác vàng ở Kolyma hay ở vùng Kazahstan. Romols Caccavale đã viết một quyển sách rất cảm động, đã kể lại hành trình và định mệnh thê thảm của cả chục người đấu tranh. Một ví dụ trong các ví dụ: Nazareno Scarioli, một người chống Phát-xít đã trốn ra khỏi nước Italie vào năm 1923, và từ đó anh đã đi Berlin rồi qua Moscow. Được phân bộ của Cứu tế đỏ-secours rouge đón tiếp, anh kiếm được việc làm ở một tổ hợp canh nông ở vùng Moscow trong vòng một năm. Sau anh được thuyên chuyển đi Yalta và làm việc trong một tổ hợp có 20 người Italie thuộc nhóm vô chính phủ dưới sự hướng dẫn của Tito Scarselli. Đến năm 1933 tổ hợp này bị giải tán, anh Scarioli trở về Moscow và tìm được việc làm ở trong một xưởng sản xuất bánh biscuit. Anh đã tham gia các hoạt động của cộng đồng người Italie… Ròi đến các năm xảy ra cuộc đại thanh trừng (a grande Purge), sự sợ hãi và sự khủng bố đã làm tan rã Cộng Đồng người Italie, mỗi người đều có sự nghi ngờ đối với các đồng hương (compariote). Người cộng sản chịu trách nhiệm tên Paolo Robotti đã thông báo cho câu lạc bộ việc bắt giam 36 người di cư bị coi là ‘’’kẻ thù’’ của nhân dân, các người này làm việc trong một xưởng chế tạo ổ bi (roulements à billes). Robotti đã bắt buộc cử tọa phải chấp nhận việc này đối với các người thợ mà y đã biết rõ. Lúc dơ tay lên để tán thành, Scarioli đã không đòng ý. Ngày hôm sau anh đã bị bắt giam. Ở trong nhà tù Lioubianca y đã bị tra tấn và đã ký một bản thú tội. Bị đưa đi đày ở Kolyma, anh ta đã làm việc trong mỏ khai thác vàng. Nhiều người Italie khác cũng đồng chung một số phận như anh và có nhiều người đã chết. ‘’…Nhà Điêu Khắc Arnoldo Silva, Kỹ Sư Cerquetti, người lãnh đạo cộng sản Aldo Gorellimà người em gái là vợ của… về sau này là dân biểu công sản Siloto, cựu thư ký chi bộ cộng sản Thành Phố Rome, tên là Vincenzo Bazala, người ở Toseau tên Otello Gaggi đang làm người gác cửa ở Moscow, người thành viên nghiệp đoàn ở Venise tên Carlo Costa làm thợ ở Odessa và Edmundo Peluzo đã từng quen biết Lenine khi ông này còn ở Zurich. Năm 1950 Scarioli, lúc ấy chỉ còn 36 kilo được phép rời khỏi Kolyma nhưng vẫn còn là người nô lệ của chế độ Sô Viết, bị bắt buộc làm việc ở Sibérie. Chỉ đến năm 1954 anh mới được ân xá và phục hồi danh dự, và anh phải đợi hơn 6 năm nữa mới được cấp chiếu kháng để trở về Italie với một hưu bổng nhỏ nhoi.

Tất cả các người tị nạn không phải là người cộng sản hay là các cảm tình viên, cùng với các người vô chính phủ, họ bị tìm bắt và đã chọn Liên Bang Sô Viết làm nơi tị nạn. Trường hợp mà nhiều người biết đến là của Francesco Gezzi, một người thuộc nghiệp đoàn tự do, anh đã đến Nga vào năm 1921, để đại diện cho Liên Hiệp Nghiệp Đoàn Italie bên cạnh tổ chức nghiệp đoàn quốc tế đỏ. Năm 1922, anh đã đi sang nước Đức và chính phủ Italie đã xin trục xuất anh vì tội khủng bố. Một cuộc vận động dư luận của dân chúng đã giúp anh tránh khỏi phải nếm mùi của nhà tù Italie nhưng anh phải bắt buộc trở lại nước Nga, vào mùa Thu năm 1924, vì đã dính líu với Pièrre Pascal và Nicolas Lazarévitch khiến anh đã có lôi thôi với cơ quan Guépou. Năm 1929 anh đã bị bắt giam và bị kết án 3 năm tù giam tại khám đường ở Souzdal, trong nhà ngục dành cho các tội đại hình mặc dầu anh đã bị bịnh ho lao! Các bạn của anh và người thông tin đã tổ chức một cuộc vận động dư luận để giúp anh tại Pháp và Thụy Sĩ. Trong lúc ban đầu Romain Rolland và các người khác đã gởi một bản thỉnh nguyện thư, chính quyền Sô Viết liền tung ra tin đòn anh là một người gián điệp của một ‘’tòa đại sứ phát xít’’. Được trả tự do vào năm 1931, anh Gezzi đi làm công nhân cho một xưởng máy, sang đến năm 1937 anh lại bị bắt lại. Lần này các người bạn của anh ở ngoại quốc không thể nào biết được tin tức và số phận của anh. Anh đã bị coi như bị giết chết vào cuối tháng 8 năm 1941 ở Vorkouta.

Vào ngày 11 tháng 2 năm 1934 ở Linz, các người trách nhiệm của Schutzbund, liên minh (ligue) để bảo vệ chế độ cộng hòa của đảng xã hội Áo-Autriche, đã quyết định chống lại mọi cuộc tấn công của Heimwehren. Vệ binh ái quốc, nhằm cấm đảng xã hội hoạt động, có ai có thể tưởng tượng được số phận của các đồng bạn của họ.

Việc gây sự của các vệ binh ái quốc Heimwehren ở Linz đã buộc các người xã hội dân chủ phát động một cuộc tổng đình công rồi đưa đến một cuộc dấy loạn. Lãnh tụ Dollfus của đảng Thiên Chúa Xã Hội và đồng thời là chưởng ấn (chancelier) hay là Thủ Tướng ở Áo và Đức, sau 4 ngày chiến đấu đẫm máu đã nắm lại được tình thế, các người xã hội người nào chạy thoát không bị vào các khám đường hay các trại tập trung thì đã trở thành hoạt động bí mật hay trốn qua nước Tiệp Khắc và sau đó tiếp tục đi chiến đấu ở Espagne trong cuộc nội chiến. Một số người đã quyết định tị nạn ở Liên Bang Sô Viết và bị lôi cuốn bởi một cuộc tuyên truyền liên tục, từ đó khiến họ đã chống lại các người lãnh đạo xã hội dân chủ. Ngày 23 tháng 4 năm 1934, ba trăm người đã đến đất Nga và liên tục kéo thêm một số người nữa cho đến tháng 12 năm 1934. Tòa Đại Sứ Đức Quốc đã biết được con số là 807 người Schutzbündler đã di cư qua Liên Bang Sô Viết cùng với gia đình đã lên đến gần 1400 người đều xin tị nạn tại Liên Bang Sô Viết.

Đoàn người đầu tiên đến Moscow đã được các người có trách nhiệm của đảng cộng sản Áo (PKO) đón tiếp và các người chiến sĩ này đã tuần hành trên đường phố ở Moscow. Họ được ủy ban trung ương các nghiệp đoàn đảm nhiệm việc ăn ở. Một trăm hai chục các em thiếu nhi mà người cha đã chết hay bị kết án tử hình được gởi đi Crimée, sau được đưa về nhà số 6, cho các trẻ em được thành lập riêng cho các em.

Sau vài tuần lễ nghỉ ngơi, các người thợ được phân phối đi làm ở các công xưỡng tại Moscow, Kharkov, Leningrad, Gorki hay Rostov. Chẳng bao lâu họ bị thất vọng (déchanter) về các điều kiện sinh sống mà họ đã phải bị cưỡng bách chịu đựng, các người cộng sản Áo phải can thiệp. Chính quyền làm áp lực với họ để họ phải xin vào quốc tịch Sô Viết. Ba trăm người trong số người làm việc này đã xin vào quốc tịch Sô Viết. Ngược lại, nhiều nhóm người toàn diện đã liên lạc với Tòa Đại Sứ Áo với hy vọng là sẽ được hồi hương về Áo. Theo tin tức của Tòa Đại Sứ Đức Quốc thì có một số là 400 người đã được trở về nước họ cho đến mùa Xuân 1938. (Sau biến cố Anschluss vào tháng 3 năm 1938, người dân Áo trở thành thuộc dân (sujet) của Reich Đức. Một trăm sáu chục người còn ở lại nước Nga đã đi qua nước Espagne để tham gia vào cuộc nội chiến trong hàng ngũ cộng hòa.

Rất nhiều người đã không có cái may mắn để rời khỏi Liên Bang Sô Viết. Người ta đã được biết con số 278 người Áo đã bị bắt giam trong khoảng thời gian từ năm 1934 cho đến năm 1938. Vào năm 1938, Karls Stajner đã gặp ở Norilsk một người dân của Thành Phố Vienna tên là Fritz Koppensteiner và từ đó về sau không còn ai biết đến tin tức của người này nữa. Có người bị hành quyết như Gustl Deutch, đã từng chiến đấu ở Quận Floridsdorf và cựu chỉ huy trung đoàn ‘Karl-Marx’’ mà các người Sô Viết đã cho xuất bản một cuốn sách: Các trận đánh ở Floridsdorf (sách xuất bản năm 1934). Còn về số phận của nhà trẻ em số 6 cũng không được chừa ra. Mùa Thu năm 1936, việc bắt giam các người hay cha mẹ còn sống sót, đã bắt đầu diễn ra. Các người con của họ được đưa qua sống dưới quyền kiểm soát của cơ quan NKVD, và cơ quan này phân phối các trẻ em đi các viện cô nhi. Ba Mẹ của cậu Wolfgang Leonhart đã bị bắt giam và biệt tích vào tháng 10 năm 1936, mãi đến mùa Hè năm 1937, cậu này mới nhận được một bưu thiếp từ Cộng Hòa Komis của mẹ cậu gởi cho cậu. Bà này đã bị kết án 5 năm giam ở trại vì các ‘’hoạt động phản cách mạng Trotsky’’.

Cuộc phiêu lưu bi thảm của gia đình Sladek

Tờ báo xã hội Arberter Zeitung số ra ngày 10 tháng 2 năm 1963 đã đăng truyện của gia đình Sladek. Vào trung tuần tháng 9 năm 1934, bà Sladek cùng với 2 người con đã đi Kharkov để gặp lại người chồng là Josef Sladek, một cựu Schutzbündler là một nhân viên hỏa xa ở Semmering sang Liên Bang Sô Viết xin tị nạn. Bắt đầu từ năm 1937, cơ quan NKVD khởi sự các cuộc bắt giam trong cộng đồng các người dân Áo ở Kharkov, rồi sau đó đến Moscow và Léningrad. đến lượt Josef Sladek bị bắt giam ngày 15 tháng 2 năm 1938. Đến năm 1941 trước khi quân đội Đức xâm lăng vào nước Nga, bà Slaked đã đến sứ quán Đức Quốc để xin được hồi hương. Ngày 26 tháng 7, cơ quan NKVD đã bắt giam bà và người con trai lúc ấy đã được 16 tuổi còn đùa con trai 8 tuổi tên Victor thì được gởi đi vào một trại cô nhi thuộc cơ quan NKVD. Các nhân viên NKVD đã đánh đập Alfred và để khủng bố tinh thần cậu này đã nói là mẹ của cậu đã bị xử bắn hầu đạt được một bản cung khai thú tội. Họ được di tản vì cuộc tiến công của quân đội Đức Quốc Xã, và một sự tình cờ hai mẹ con đã gặp lại nhau ở trại Ivdel trong vùng Dural. Bà Sladek đã bị kết án 5 năm giam ở trại vì tội làm gián điệp và Alfred cũng bị kết án 10 năm tù giam vì tội làm gián điệp và khuấy rối chống lại Sô Viết. Được chuyển qua trại Ở Sarma, họ đã gặp lại Josef Sladek đã bị kết án 5 năm tù giam lúc còn ở Kharkov. Và chả bao lâu, họ lại bị chia rẽ. Được phóng thích vào năm 1946, bà Sladek đã bị cưỡng bách cư trú tại Solikansk ở trong vùng Dural và một năm sau chồng của bà đã được phép đến ở cùng bà. Ông này đã bị bịnh ho lao và tim suy nên không thể làm việc được. Ông phải ‘’đi ăn xin’’ để sống và đã chết ngày ngày 31 tháng 5 năm 1948. Đến năm 1951 Alferd được phóng thích và gặp lại mẹ của cậu. Đến năm 1954, sau nhiều lần chạy chọt (démarche) khó khăn, cả hai mẹ con mới trở về được Simmening Áo Quốc. Hai mẹ con đã gặp lại cậu Victor một lần vào 7 năm về trước. Các tin tức cuối cùng mà họ nhận được về cậu Victor là vào năm 1946.

Vào năm 1917, các người Yougoslave sống ở Nga là 2600 và họ lựa chọn ở lại đây và sang đến năm 1924 con số các người này đã lên đến 3750 người. Họ được tăng thêm một số người đồng hương di cư sang từ Canada và Mỹ Quốc đã theo lời kêu gọi của cơ quan tuyên truyền Sô Viết, lần này lại di cư sang Liên Bang Sô Viết với tất cả dụng cụ nghề nghiệp ‘’để xây dựng chủ nghĩa xã hội’’. Cộng đồng người Yougoslave đã ở rải rác khắp vùng đất từ Léninsk ở Magnitsgorsk và đi qua vùng Saratov. Một số người lối từ 50 đến 100 người đã tham gia vào việc xây dựng đường hầm cho xe métro ở Moscow. Giống như các sắc dân khác, các người công nhân Yougoslave cũng bị đàn áp. Anh Bozidor đã nói là ‘’anh đã chịu một số phận tàn ác’’ và thêm vào: ‘’Phần lớn các người công nhân đồng hương với anh đã bị bắt giam vào các năm 1937-1938 và số phận họ đã không biết ra sao…? Một sự nhận định chủ quan (subjective) đã được nuôi dưỡng bởi việc đã có nhiều trăm người di cư đã ‘’biến mất’’. Đến ngày hôm nay chưa có được các con số chính xác liên quan đến các người Yougoslave lao động ở Liên Bang Sô Viết và riêng về các người đã lao động ở đường hầm xe métro ở Moscow vì họ đã phản đối các việc làm quá cực nhọc và họ bị đàn áp quá cứng rắn (durement réprimés).

Cuối năm 1939, cuộc phân chia nước Ba Lan bị chiếm đóng, đã diễn ra giữa nước Đức Quốc Xã và nước Nga Sô Viết đã được bí mật thỏa thuận trước vào ngày 23 tháng 8 năm 1939, đã trở nên thực thụ. Hai nước xâm lăng này đã phối hợp hành động của hai bên để thực hiện việc kiểm soát tình hình và dân chúng. Hai cơ quan Gestapo và NKVD hợp tác với nhau. Cộng đồng người Do Thái cũng bị phân chia: Trên số 3.300.000 người thì có 2.000.000 người sống ở những vùng quân Đức chiếm đóng và 1.300.000 người sống ở vùng Hồng quân. Các vụ ngược đãi người gốc Do Thái xảy ra liên tục, các giáo đường bị đốt cháy, các vụ tàn sát diễn ra, tiếp theo liên tục là việc giam nhốt vào các khu vực dành riêng cho người gốc Do Thái (ghetto). Khu vực Ghetto ở Lodz được thành lập ngày 30 tháng 4 năm 1940 và khu vực Varsovie tổ chức vào tháng 10 và đóng cửa ngày 15 tháng 11 năm 1940.

Trước sự tiến quân của Đức Quốc Xã đã có nhiều dân Ba Lan gốc Do Thái chạy trốn về hướng Đông. Trong mùa Đông 1939-1940, quân đội Đức Quốc Xã đã không tìm cách ngăn cản việc vượt biên mới. đó là các lính biên phòng Sô Viết với ‘’huyền thoại’’ giai cấp, họ trang phục với các áo choàng bằng lông và đội nón kết (casquette) súng có gài lưỡi lê (baissnnette), đã đón các người du mục đi về miền đất hứa này, với con mắt chó săn của cảnh sát cùng với các tràng đạn súng tiểu liên. Từ tháng 12 năm 1939 đến tháng 3 năm 1940 các người Do Thái này sông ở trong một vùng mà người ta gọi là ‘’vùng không có người ở’’ (no man’sland), rộng từ 1000 đến 1500 thước dài theo con sông Bug, ở về hướng Đông và họ đã phải ngủ ngoài trời. Một phần lớn các người này đành phải trở về vùng quân đội Đức Quốc Xã chiếm đóng.

Một người lính của đạo quân do Tướng Anders tên L.C số quân 15015 đã là nhân chứng và đã tiết lộ về tình cảnh không thể tưởng tượng được: Vùng đất này có diện tích lối 600 mét và 700 mét và tại đây đã có từ 700 đến 800 người tụ họp từ vài tuần lễ, 90 phần trăm là người gốc Do Thái họ đã vượt thoát được sự kiểm soát của người Đức. Vì bị ướt do các cơn mưa của mùa Thu, không nơi trú ẩn chúng tôi tất cả đều đau ốm. Chúng tôi đã ôm lấy nhau để cho đỡ lạnh, các người Sô Viết ‘’nhân đạo’’ không đoái hoài gì đến chúng tôi và không hề cho chúng tôi một mẫu bánh ḿ hay một ít nước nóng. Họ cũng cấm các người nông dân ở trong vùng này, đến gần chúng tôi vì các người nông dân này xót thương chúng tôi, họ muốn làm một ‘’cái gì’’ để chúng tôi còn được sống còn. Kết quả chúng tôi để lại một ‘’số mã’’ trên khoảng đất này. Tôi quả quyết là các người đã trở về vùng của Đức Quốc Xã chiếm đóng là họ có lý, vì cơ quan NKVD (với một cái nhìn không ở một khía cạnh nào) đã giỏi hơn cơ quan Gestapo vì cơ quan này đã thâu ngắn thời gian dể giết người. Ngược lại cơ quan NKVD giết người và tra tấn một cách còn ác độc hơn cái chết và đưa đến việc là người nào thoát khỏi nanh vuốt của cơ quan này là một phép lạ, nhưng nếu còn sống sót thì đều trở thành phế nhân. Được tượng trưng Israel Joshua Singer đã đặt người ‘’anh hùng’’ của ông, trở nên ‘’một kẻ thù của nhân dân’’ và đã chết ở tại vùng đất ‘’không người ở’’ (no man’sland) này khi tìm cách trốn khỏi lãnh thổ Liên Bang Sô Viết. Vào tháng 3 năm 1940, nhiều trăm ngàn người tị nạn, có một người nào đó đã nói ra con số là sáu trăm ngàn người, đã bị bắt buộc phải nhận một giấy thông hành của Sô Viết. Các thỏa hiệp Đức-Nga đã dự phòng việc trao đổi các người tị nạn. Các gia đình bị ly tán, sự thiếu hụt lương thực công với các việc khủng bố của cơ quan NKVD, càng ngày càng nặng nề hơn, một số người đã quyết định trở về vùng người Đức chiếm đóng của nước Ba Lan. Ông Jules Margo line, vào mùa Xuân năm 1940, đã hiện diện tại Tỉnh LVDV thuộc vùng phía Tây Ukraine đã nói: ‘’Các người gốc Do Thái thích các khu vực Ghetto của Đức hơn sự ‘’bình đẳng của Sô Viết’’. Họ tưởng tượng là có thể rời khỏi vùng cai trị của chính quyền Đức Quốc Xã được dễ dàng hơn là trốn tránh qua ngã của Liên Bang Sô Viết để đến một nước Trung Lập.

Đầu năm 1940, việc đưa đi lưu đày các người công nhân Ba Lan khởi đầu (xin tham khảo các đóng góp của Andrzej Packowski) và tiếp tục đến tháng sáu. Tất cả các người dân Ba Lan của mọi khuynh hướng tôn giáo đều bị đưa lên vùng Bắc bao la và vùng Kazakhstan bằng các đoàn xe hỏa. Đoàn xe của Jules Margolin phải chạy 10 ngày mới đến vùng Mourmansk. Là một nhà quan sát tỉ mỷ kỹ lưỡng về ‘’xã hội tập trung’’ Ông đã viết: ‘’Việc khác biệt với các trại Sô Viết ở tất cả mọi nơi giam cầm trên thế giới, đó không phải riêng về tầm rộng bao la, không thể tưởng tượng được cùng các điều kiện sinh sống chết người. Đó là nhu cầu ‘’nói láo’’ không ngừng để tự bảo vệ lấy sự sống còn của mình, nói láo luôn luôn, đeo một cái ‘’mặt nạ’’ (masque) trong nhiều năm và không bao giờ có thể nói ra các tư tưởng của mình. Vì vậy việc nói láo và việc tự giấu diếm hay giả vờ đã trở thành cách thức duy nhất để tự bảo vệ. Các cuộc mít ting, các cuộc gặp gỡ, các tờ báo dán ở trên các bức tường đều dùng các câu chính thức êm dịu và không một câu nào về sự thật. Tại nước Nga Sô Viết, người công nhân ‘’tự do’’ cũng bị bắt buộc phải nói láo. Con người ở phương Tây khó có thể hiểu được ý nghĩa của sự cấm đoán các quyền và trong hoàn cảnh không thể được. Trong 5 hay 10 năm, có thể nói ra tự do, cho đến ‘’tận cùng’’ ( jusqu’au bout) của sự bắt buộc phải đè nén các tư tưởng ‘’bất hợp pháp’’ (pensée illégale) và phải câm như nằm ở trong một cái mã (tombe). Dưới sức ép không thể tưởng tượng được, tất cả đều bị biến dạng, méo mó và làm tan rã thể chất của con người.

Cái chết của các người tù nhân số 41 và 42. Là thành viên của văn phòng công nhân xã hội quốc tế, Victor Alter sanh năm 1890, là Thẩm phán phó thị xã trưởng ở Varsovie, ông đã từng giữ chức chủ tịch của Liên đoàn các nghiệp đoàn Do Thái. Ông Henryk Erlich là nhân viên của hội đồng xã ở Varsovie và là chủ nhiệm của nhật báo tiếng Yçish Folkstaytung. Cả hai đều là đảng viên của đảng Xã hội Do Thái của Ba Lan. Tên đảng gọi là Bund. Năm 1939 họ dều tị nạn qua vùng Hồng quân Sô Viết chiếm đóng. Alter bị bắt giam vào ngày 26 tháng 9 tại Kowel, còn về phần Erlich đã bị bắt giam vào ngày ngày 4 tháng 10 tại Brest Litovsk. Được giải về nhà giam Loubianha ở Moscow, ông alter đã bị kết án tử hình ngày 20 tháng 7 năm 1941 với tội danh là đã có các hoạt động ‘’chống Sô Viết’’ (ông đã bị tố cáo là đã điều khiển các hành động bất hợp pháp của đảng Bund ở Liên Bang Sô Viết và đã liên lạcvới an ninh Ba Lan. Bản án này đã do tập đoàn quân sự của tòa án tối cao của Liên Bang Sô Viết tuyên án và sau khi xét lại ông bị án 10 năm giam cầm ở các trại tập trung. Ngày 2 tháng 8, Erlich bị tòa án quân sự của các lực lượng võ trang của cơ quan NKVD ở Saratov tuyên án tử hình, ngày 27 tháng 8, án này được giảm xuống còn 10 năm giam cầm ở các trại tập trung. Được phóng thích vào tháng 9 năm 1941 theo thỏa ước của Sikorski-Maiski, Alter và Erlich đã được Béria đòi đến trình diện, và đề nghị hai người này cổ võ cho ủy ban Do Thái chống lại các người Quốc Xã (nazis) và hai người này đồng chấp thuận. Trước sự tiến quân của Đức, hai người này rút lui về Kouibychev và lại bị bắt giam trở lại vào ngày 4 tháng 12 và bị buộc tội đã liên lạc với các người Nazi!

Béria ra lịnh giam họ dưới bí số 41 (Alter) và 42 (Erlich) và không ai được biết căn cước của hai người này. Ngày 23 tháng 12 năm 1941, hai người này bị coi như là công dân Sô Viết, họ bị kết án tử hình vì đã phạm tội phản bội. Trong những tuần lễ sau đó, họ đã gởi nhiều đơn xin lên các người có quyền, nhưng vô hiệu quả và hai người này cũng không được biết là mình đã bị án xử tử. Ngày 15 tháng 5 năm 1942, Erlich đã tự treo cổ mình lên các cây song sắt ở trong xà lim nhà giam. Đến khi mở hồ sơ của ông, người ta vẫn tưởng là ông bị hành quyết.

Victor Alter đe dọa sẽ tự sát. Bérin ra lịnh tăng cường việc kiểm soát. Victor Alter đã bị hành quyết ngày 17 tháng 2 năm 1943. Bản án ngày 23 tháng 12 năm 1941đã được Staline đích thân duyệt y. Đáng chú ý là việc hành quyết ông này đã diễn ra vào một thời gian ngắn sau cuộc thắng trận ở Stalingrad. Cộng thêm với việc ám sát ông Victor-Alter còn thêm sự vu khống: Alter và Erlich đã tuyên truyền cho việc ký kết một hòa ước với nước Đức Quốc Xã.
(Tài liệu trích từ văn khố của cơ quan NKVD đăng trên nguyệt san East European-Jewish Affairs số 2 – mùa Đông năm 1992)

Vào mùa Đông 1945-1946, Bác Sĩ Jacques Pat, thư ký của ủy ban các công nhân gốc Do Thái ở Mỹ Quốc đã nhận nhiệm vụ đi sang nước Ba Lan để mở một cuộc điều tra về các tội ác của các người Nazi. Khi trở về Mỹ, ông đã cho đăng một loạt bài trên tờ báo Jewish Daily Forward viết về số phận các người Do Thái tị nạn ở Liên Bang Sô Viết. Ông đã ước lượng là đã có 400 000 người đã chết vì bị đưa đi lưu đày, ở trong các trại cưỡng bách lao động hay là ở các tổ lao động. Vào lúc chiến tranh chấm dứt, 150 000 người này khi đã được đi vượt qua khỏi biên giới Ba Lan-Sô Viết không bao giờ nói đến nữa tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Bang Sô Viết, chế độ độc tài và dân chủ nơi này. Đối với họ các cuộc tranh luận đã chấm dứt và câu nói chót của họ: ‘’là chạy trốn khỏi nơi này’’, Bác Sĩ Jacques Pat đã hỏi hàng trăm người này.

Các người tù binh Sô Viết bị cưỡng bách trở về nước

Nếu ai có liên lạc với người nước ngoài, hay là vì nhu cầu gì cần phải liên lạc với các người của nước ngoài hay là một ai từ nước ngoài đến URSS là trở thành một người đến chế độ. Bị bắt làm tù binh và đã sống 4 năm khỏi lãnh thổ quốc gia đã khiến cho các người quân nhân Nga bị lính Đức bắt làm tù binh lại trở thành một con người đáng chịu một hình phạt. Đạo luật số 270 của năm 1942 đã thay đổi điều 193 của bộ hình luật, được coi là một người tù binh bị quân thù bắt được là (ipro facto) là một người phản bội. Không đếm xỉa gì đến hoàn cảnh bị bắt và việc bị giam cầm đã diễn ra, việc bị giam cầm đối với các tù binh Nga thật là đáng ghê sợ. Các người Slaves bị coi là hạng người thấp kém (sous-homme) và số phận của họ đã được quyết định là họ sẽ phải ‘’biến mất’’ (disparaitre) theo như Weltans Chaung của chủ nghĩa quốc Xã-Nazi, vì vậy trong số 5.700.000 tù binh Nga bị bắt vì chiến tranh, đã có 3.300.000 người đã chết vì bị ngược đãi và chết đói, cùng với các chứng bịnh mà không được săn sóc.

Vì vậy theo lời yêu cầu rất sớm của các đồng minh, mà Staline đã quyết định cho hồi hương tất cả các người Nga đang ở trên các phần đất ở về phía Tây. Các nước đồng minh rất lấy làm bối rối về vấn đề nuôi ăn số quá đông tù binh Nga bị quân đội Đức Wehmacht bắt. Việc này được giải quyết rất mau. Cuối tháng 10 năm 1944 cho đến tháng Giêng năm 1945 đã có 332.000 tù binh người Nga (trong số này có 1.179 người từ San Francisco) đã được đưa trả trở về dù chưa có sự chấp thuận của URSS. Không những các nhà ngoại giao Anh và Mỹ đã vô tình (aucun état d’âme) mà đề cập đến vấn đề này với một lượng tính vô liêm sĩ mà họ không biết, như Ngoại Trưởng Anthony Eden đã nói phải dùng đến sức mạnh để giải quyết vấn đề này.

Trong lúc diễn ra các cuộc thương nghị ở Yalta từ ngày 5 đến 12 tháng 2 năm 1945, cả ba thủ lãnh (Sô Viết-Anh-Mỹ) đã ký kết các thỏa ước bí mật bao gồm các quân nhân cùng các người thường dân đã bị di chuyển vì chiến tranh. Churchill và Eden đã chấp nhận để Staline quyết định số phận các người tù binh đã chịu gia nhập và chiến đấu trong hàng ngũ của đạo quân Nga giải phóng ROA do Tướng Vlassov chỉ huy và mong là các người này sẽ được hưởng một sự xử án công bằng và được bảo đảm.

Staline biết rõ là một phần các người bị bắt làm tù binh là do sự rối loạn về tổ chức trong lúc mới xảy ra chiến tranh, xảy ra trong lúc các đội ngũ của Hồng quân mà Staline là người đầu tiên phải chịu trách nhiệm, về sự thiếu khả năng của các vị tướng và của chính Staline. Và có một điều là các người quân nhân này đã không muốn chiến đấu để bảo vệ một chế độ ghê tởm (exécré) này và đã nhắc lại một câu diễn tả của Lénine: ‘’đã bầu với đôi chân’’ (a voté avec leurs pieds).

Sau khi hiệp địnhYalta được ký kết, không có một tuần nào mà lại không có các đoàn tàu, rời các đảo của Anh Quốc để chở trả về nước Nga các người tù vì chiến tranh. Trong hai tháng 5 và 6 năm 1945, có tất cả là 1.300.000 người đã được đưa hồi hương luôn cả các người thường dân đang cư ngụ trong các vùng chiếm đóng mà Moscow coi là các công dân Sô Viết, gồm luôn các người Ukraine và 3 nước ở ven biển Baltique. Cuối tháng 8 năm 1945 đã giải giao 2 triệu người cho các người Sô Viết, và đã có rất nhiều trường hợp dữ tợn thường xảy ra: Các việc tự sát cá nhân và nhiều khi có các vụ tự sát tập thể (toàn thể một gia đình) và luôn cả việc tự hủy hoại thân thể để trở nên tàn phế, các người tù binh kháng cự lại một cách thụ động và các người Anh-Mỹ đã không ngần ngại sử dụng ‘’sức mạnh’’ để đàn áp các người tù binh này hầu để đáp ứng các sự đòi hỏi của các người Sô Viết. Khi đến nơi, các người ‘’hồi hương’’ được đặt dưới sự canh gác của các toán công an chính trị. Trong ngày chiếc tàu Almanzora đến bến Odessa, vào ngày 18 tháng 4 đã xảy ra các cuộc hành quyết đơn giản. Và màn ảnh này lại tái diễn khi chiếc tàu Empire Pride cặp bến tàu ở trong biển Hắc Hải (Mer Noire).

Các nước phương Tây lo ngại là URSS sẽ giữ làm con tin các tù binh người Mỹ-Anh-Pháp và dùng các người tù binh này làm món hàng trao đổi, thái độ rất rõ ràng trong các khuynh hướng của họ trước các sự đòi hỏi tuyệt đối (diktat) của các người Sô Viết, bắt buộc phải đưa ‘’hồi hương’’ tất cả các người dân Nga đã di cư sau cuộc cách mạng năm 1917. Chính sách này đã được các người ở phương Tây hiểu rõ, dù có thỏa mãn các sự đòi hỏi tuyệt đối của các người Sô Viết, vẫn không đạt được kết quả để làm dễ giải việc trở về của các người công dân của nước họ. Trái lại, nó còn cho phép một số người cán bộ Sô Viết được đi truy lùng các người ‘’ương ngạnh’’ và các người cán bộ Nga đã hành động coi thường các luật lệ của các nước đồng minh.

Về phần nước Pháp, Bản Thông Báo của Bộ Tư Lịnh Quân Sự Pháp chiếm đóng nước Đức xác nhận là đến ngày 1 tháng 10 năm 1945 đã trả trở về cho các người Sô Viết Nga một số là 101.000 người đã bị chiến tranh ‘’di chuyển’’ họ đi. Và luôn tại nước Pháp, chính quyền đã cho thiết lập 70 trại để tiện việc ‘’tái tập họp lại’’ (regrouper) và được hưởng quyền ‘’bất xâm phạm’’ như trại Beauregard ở tại vùng ngoại ô Paris, và trên các trại này chính quyền đã từ khước làm các việc kiểm soát và đã chấp nhận cho các cán bộ của cơ quan NKVD hoạt động ở Pháp không bị trừng phạt (impunité), đã làm trái lại và mâu thuẫn với chủ quyền tối cao của quốc gia (souveraineté nationale).

Các người Sô Viết đã suy tính kỹ lưỡng và sâu sắc về các hành động đem những người có liên hệ với họ trở về nước, cùng với sự hỗ trợ của đảng cộng sản Pháp, họ phát động một cuộc tuyên truyền khéo léo. Vào tháng 11 năm 1947 trại Beauregard đã xảy ra vụ xì căn đan (scandale) về việc bắt cóc các trẻ em của một gia đình đang ở trong tình trạng ly dị, ông Robert Wybot một công chức Pháp người đã chịu trách nhiệm về việc đóng cửa trại này đã tuyên bố: ‘’Theo các tin tình báo mà tôi có được, các trại ‘’tập họp’’ này, nói nới đúng nghĩa hơn là các trại ‘’bắt cóc trẻ em’’. Các việc phản kháng về chính sách của người Sô Viết đã xảy ra quá trễ và hiếm hoi. Mãi đến mùa Hè (tháng 7 năm 7947) tờ nguyệt san xã hội ‘’Quần chúng’’ (la Masse) mới đăng: Khi Gengis-Khan-Thành Cát Tư Hản đã ra lịnh khép kín các biên giới của nước ông để các người nô lệ không thể chạy trốn được, đây là một chuyện dễ hiểu! nhưng ông ấy lại có thêm một quyền trục xuất ra khỏi lãnh thổ của các nước khác? Việc này nó vượt qua quá nhiều nền luân lý suy đồi của thời hậu chiến. Lấy quyền gì mà người ta bắt buộc con người phải sinh sống trong một nước mà sự ‘’nô lệ’’ bản thân và luân thường được áp đặt? Thế giới đang mong đợi gì ở nơi Staline, để rồi phải lặng câm trước các tiếng kêu than của các người công dân Nga, khi các người công dân này muốn tự sát hơn là bị cưỡng bách trở về đất nước của họ…

Các vị chủ nhiệm của nguyệt san này đã tố cáo các vụ trục xuất sau đây: Trước sự thờ ơ của quảng đại quần chúng đã khuyến khích việc xâm phạm các quyền xin ‘’ẩn trú’’ (droit asile) các vị tư lịnh quân sự người Anh đóng tại nước Italie đã vi phạm một tội ác không thể nói được. Ngày 8 tháng 5, người ta đã đem ra khỏi trại số 7 ở tại Ruccioné 175 người Nga và cho họ biết rằng họ sẽ được đưa sang Tô Cách Lan (Ecosse), và cùng ngày họ cũng đem ra khỏi trại số 6 mười người (trại này chỉ gồm có toàn phần là các gia đình). Khi số 185 người này đã rời xa các trại, những quân nhân người Anh đã lục soát tất cả mọi người và tịch thu tất cả các đồ vật gì có thể dùng để tự sát, và sau đó, họ mới nói ra sự thật là tất cả các người này sẽ được đưa về nước Nga chớ không phải đi sang nước Tô Cách Lan (Ecosse).Cùng ngày này, người ta cũng đã đem đi 80 người thuộc dân gốc vùng Caucuse, lấy ra từ trại ở Pise. Tất cả các người xấu số này đã được đưa đi xang nước Áo, chở trên các toa xe lửa và do những người lính Anh canh giữ. Có một vài người toan tính chạy trốn nhưng đã bị các người lính Anh bắn chết.

Các người Nga ‘’hồi hương’’ này đã bị tập trung vào các trại gọi là ‘’thanh lọc và kiểm soát’’? Các trại này đã được thành lập từ năm 1941 và cũng ở cùng với các trại lao động và đã được sát nhập vào hệ thống các Goulag vào năm 1946. Trong vòng năm 1945 đã có 210.000 người tù bước qua ngưỡng cửa của các trại này và các người tù này đã được hội nhập vào các Goulag vào thời cao-điểm của tổ-chức này, nói tổng quát chiếu theo điều luật số 58-1b, họ đã bị tuyên án tập-thể 6 năm tù giam ở các trại lao động. Trong số các người vô phước này có một số người đã tham gia vào lực lượng quân đội giải phóng người Nga và đã chiến đấu chống lại quân đội SS của Đức Quốc Xã để giải phóng Thành Phố Prague ở Tiệp Khắc (Tchécolovaquie).

Việc đối xử với các tù binh ‘’địch’’

Năm 1929 ? Tại Genève có một cuộc họp và để ký một thỏa ước về các tù binh chiến tranh. Liên Bang Sô Viết URSS không có tham gia ký kết thỏa ước này. Trên lý thuyết thì các tù binh đều được bảo vệ tuy là nước của họ đã không có ký vào thỏa ước này. Nhưng Liên Bang Sô Viết không có ‘’điếm xỉa’’ gì thỏa ước này và đối với họ là vô giá trị. Là nước thắng trận, URSS còn giam giữ từ 3 đến 4 triệu tù binh người Đức. Trong số các tù binh người Đức này, có một số người tù binh được quân đội Mỹ-Anh-Pháp đã phóng thích, họ trở về quê hương của họ trong các vùng do Hồng quân Nga chiếm đóng, họ đã bị bắt trở lại và bị đưa đi lưu đày ở các trại lao động trong nước Nga.

Đến tháng 3 năm 1947, ngoại trưởng Nga Viatcheslav Molstov đã tuyên bố là đã có một triệu người Đức được hồi hương, (đúng số là 1.003.000 người) và còn lại một số là 890.532 người còn bị ‘’quản thúc’’ ở nước Nga. Con số này đã bị bác bỏ. Đến tháng 3 năm 1950 ? Liên Bang Sô Viết tuyên bố là việc hồi hương các tù binh đã hoàn tất. Tuy vậy, các tổ chức nhân đạo đã báo cáo là còn lại một số là 300.000 tù binh còn bị giam giữ lại cùng với 100.000 người thường dân. Ngày 8 tháng 5 năm 1940, chính phủ Lục Xâm Bảo (Luxembourg) phản kháng việc chấm dứt ‘’hồi hương’’ và đóng cửa các trại vì còn có 2000 công dân của họ vẫn còn bị giữ lại trên đất Nga. Việc giữ lại các thông tin về số phận các tù binh đã có dụng ý là che dấu các sự thật đáng buồn về định mệnh của các tù binh? Người ta liền nghĩ đến con số ‘’tử vong’’ của các người ‘’tù binh’’ trong các trại giam.

Một ủy ban đặc biệt, mang tên Machke ước lượng rằng đã có 1.000.000 người tù binh Đức đã bị Hồng quân Nga bắt sau trận chiến thắng ở Stalingrad, chỉ còn có 6000 người sống sót được trả về. Bên cạnh hay là cùng với các người tù binh người Đức cũng có 60000 người tù binh người Italie đã sống sót vào tháng 2 năm 1947 (con số 80000 người cũng được đưa ra. Chính phủ Italie đã công bố là đến ngày tháng kể trên, chỉ có 12513 người tù binh Italie được phóng thích và được đưa trả trở về nước Italie. Và phải tính thêm vào số tù binh người Hongrie và Roumanie, chiến đấu với quân đội Đức Quốc Xã trên mặt trận Nga cũng chịu chung một số phận. Tháng 3 năm 1954, một trăm người tình nguyện Espagne thuộc sư đoàn ‘’AZUL’’ chiến đấu với quân đội Đức Quốc Xã được phóng thích. Và với việc nhìn tổng quát về số tù-binh ‘’địch’’ sẽ còn thiếu sót nếu không nói đến sốphận 900000 tùbinh Nhật trên bị bắt ở các mặt trận ở Mãn Châu-Mandchouric vào những ngày cuối của Đệ Nhị Thế Chiến.

Thảm cảnh của những người ‘’mặc dầu chúng tôi’’ hay ‘’Bất đắc dĩ’’-Malgré nous

Ở trong các trại giam của cộng sản có một câu nói (dicton) đã diễn ra hoàn toàn về đa số các nguồn gốc của các sắc tộc mà trong toàn số dân của chế độ lao tù Sô Viết: ‘’Nếu nước nào không có người đại diện ở trong các Goulog, nước đó không có trên thế giới này’’. Nước Pháp cũng có một số người tù giam mà Bộ Ngoại Giao Pháp đã không tích cực để bảo vệ và phản kháng để hầu cho các người tù binh này được trở về Pháp.

Mùa Xuân năm 1940, quân đội Pháp đã xin ngưng chiến (armistice) ngày 17 tháng 6. Ba Tỉnh Moselle-Thượng và Hạ sông Rhin đã được các người Nazi (Quốc xã) đối xử một cách đặc biệt: Các vùng Alsace-Loraine đã bị xát nhập vào lãnh thổ Đức Quốc, bị Đức hóa và luôn Quốc Xã hóa. Năm 1942, các người Quốc Xã đã quyết định ‘’cưỡng bách’’ các thanh niên ở tuổi quân dịch (sinh từ các năm 1920 đến 1924) phải nhập ngũ vào quân đội Đức. Rất nhiều thanh niên là dân của các vùng Moselle và Alsace, không hề muốn phục vụ dưới lá cờ của Đức Quốc Xã và tìm mọi cách để trốn tránh cái việc này mà người Quốc Xã đã đặt cho cái tên ‘’Đặc quyền’’ (privilège). Cho đến ngày chiến tranh chấm dứt, đã có tất cả 21 tuổi đã bị động viên ở vùng Alsace và 14 lớp tuổi đã bị động viên ở vùng Moselle. Tổng số là 13.0000 thanh niên đã bị cưỡng ép phải đi chiến đấu trên mật trận ở đất Nga. 22.000 thanh niên này đã tử trận. Phong trào ‘’nước Pháp tự do’’ của Tướng De Gaulle đã thông-báo tình trạng của các thanh niên ‘’bất đắc dĩ’’ này (les malgré nous) cho các nhà cầm quyền quân sự Sô Viết để họ hiểu rõ hoàn cảnh của các thanh niên này. Ở tại mật trận Nga, các người Sô Viết đã kêu gọi các thanh niên này hãy đào ngũ, hứa với họ là họ sẽ được đưa trả vào cho phong trào nước Pháp tự do hầu họ có thể chiến đấu chống lại quân đội Đức. Dù vậy và trong mọi trường hợp, đã có 23.000 người lính ‘’bất đắc dĩ’’ này đã bị bắt làm tù binh, đó là con số mà mãi đến năm 1995 cơ quan của nước Nga? đã trao các hồ sơ liên hệ cho chính phủ Pháp. Một số lớn các người lính ‘’bất đắc dĩ’’ này được tập họp tại trại giam số 188 ở Tambov và đặc dưới sự canh gác của cơ quan MVD (cựu NKVD) với sự sống còn rất là kinh hoàng, thiếu ăn vì mỗi ngày được phát có 600 gờ-ram bánh mì đen, lao động khổ sai trong các khu rừng, chỗ ở đơn sơ trong các căn nhà bằng gỗ với phân nửa được chôn dưới đất và không có được hưởng một sự săn sóc y tế nào cả. Các người sống sót ở đây đã ước lượng là đã có 14000 người tử vong vào các năm 1944 và 1945. Ông Pierre Rigoulot đã cho xuất bản cuốn sách, ‘’Thảm kịch của các người Bất Đắc Dĩ’’. ‘’Tambov trại giam người Pháp’’. Nhà xuất bản Denoel-1990, đã đưa ra con số 10.000 người mất tích. Sau nhiều cuộc thương lượng lâu dài, 1500 người tù binh đã được trả tự do vào mùa Hè năm 1944 và được chở trả về Alger. Nếu Tambov là nơi có trại giam là một số lớn người dân Alsace-Lorraine bị giam cầm, còn có nhiều trại giam khác ở nhiều nơi khác đã giam giữ nhiều người Pháp và tạo lên hình ảnh của các tiểu quần đảo đã cản trở các người Pháp này không chiến đấu được để giải phóng tổ quốc của họ.

Nội chiến và chiến tranh giải phóng Quốc gia

Khi hiệp ước Đức Quốc Xã và Liên Bang được ký kết, đó là việc làm và thời điểm mà các đảng cộng sản của các nước đã sụp đổ vì các đảng viên không chấp nhận chính sách chống phát xít bị bỏ rơi nhưng đến ngày 21 tháng 6 năm 1941 khi quân đội Đức Quốc Xã tấn công vào lãnh thổ Nga thì phản ứng chống phát xít được phát động liền trở lại liền. Ngày 23 tháng 6 tổ chức Komintern đã dùng đài phát thanh và đánh các điện tín cho các chi bộ của tổ chức này trên toàn thế giới và giải thích lúc này hãy xếp qua một bên các việc cách mạng xã hội mà là giờ đấu tranh chống lại phát xít và trận chiến để giải phóng quốc gia. Đồng thời, tổ chức Komintern đòi hỏi tất cả các nước cộng sản của các nước bị quân đội Đức chiếm đóng phải lập tức có các hành động võ trang. Chiến tranh là một hình thức giúp cho đảng cộng sản có cơ hội để thử nghiệm một ‘’hành động mới’’, đấu tranh võ trang và phá hoại bộ máy chiến tranh của Hitler và tạo các điều kiện để phát triển chiến tranh du kích. Các bộ máy bán quân sự được tăng cường để tạo thành những người cán bộ của các toán võ trang cộng sản, và tùy theo từng nước hay tùy theo các địa hình (géographie) cùng các hoàn cảnh sẽ trở thành các tổ chức du kích đáng kể như ở Hy Lạp-Grèce và ở Nam Tư-Yougoslavie. Khởi đầu từ năm 1942 và đến năm 1943 ở Albanie và miền Bắc Italie vào cuối năm 1943. Nếu gặp trường hợp thuận lợi, các hoạt động của các tổ chức du kích sẽ cướp lấy chính quyền không từ nan có thể xảy ra cuộc nội chiến.

Điển hình về ‘’Định hướng mới’’ này là các việc đã diễn ra ở Yougoslavie. Từ mùa Xuân năm 1941 Hiler đã phải gởi quân đội qua Hy Lạp-Grèce để cứu đồng minh của mình là Italie đang ‘’xa lầy’’ tại đây vì phải đương đầu với một đạo quân nhỏ bé quyết chiến. Và đến tháng 4 năm 1941, Hitler đã phải gởi quân đội qua Yougoslavie và chính phủ thân Đức ở đây đã bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính của nhóm thân nước Anh. Ở tại hai nước này đã từng có các đảng cộng sản yếu ớt nhưng lại giàu kinh nghiệm, họ đã hoạt động trong vòng bí mật từ nhiều năm qua vì các chế độ độc tài của Stojadinovic và Metaxás đã cấm các đảng cộng sản hoạt động công khai.

Sau khi chính phủ Yougoslavie xin đình chiến, nước Yougoslavie đã bị chia cắt cho các nước Italie, Bulgarie và Đức. Thêm vào đó một cái gọi là ‘’nước Croatie’’ độc lập đã do các người cực hữu nắm chính quyền, các người được gọi là Outachi do Ante Paveclic lãnh đạo và đã thi hành chính sách ‘’kỳ thị’’ đối với các người Serbe, đưa đến các việc tàn sát các người Serbe rồi lan luôn qua các người Do Thái và Tziganes. Chủ trương không chấp nhận một sự đối lập nào đã khiến cho nhiều Croate tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày 18 tháng 4 năm 1941, sau khi quân đội Yougoslavie đã đầu hàng quân đội Đức, các người đầu tiên bỏ trốn vô rừng để tổ chức kháng chiến là các sĩ quan Hoàng Gia tập hợp chung quanh Đại Tá Drazá Mihailovic và chẳng bao lâu sau ông được chỉ định là người chỉ huy kháng chiến Yougoslave, rồi trở thành Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh của Chính Phủ Hoàng Gia Yougoslave lưu vong sang Anh. Chỉ sau khi quân Đức xâm lăng Liên Bang Sô Viết ngày 21 tháng 6 năm 1941, thì các người cộng sản mới quy tụ lại với sứ mạng mới là đấu tranh để giải phóng quốc gia khỏi ách phát xít nhưng chưa phát động cuộc cách mạng xã hội. Về phần Đại Tá vừa được thăng lên Tướng Mihailovic thì lo tổ chức tại vùng Serbie một quân đội toàn người Serbe và họ được đặt tên là Tchetniks. Trong lúc Moscow muốn ‘’vị nể’’ càng lâu càng tốt nơi chính phủ Hoành Gia lưu vong Yougoslave để đừng làm các đồng minh người Anh lo ngại. Lãnh tụ cộng sản Tito cảm thấy mình có đủ sức mạnh để hành động theo ý muốn và đường hướng của mình, từ chối sự đặt mình dưới sự tuân lệnh của chính phủ hợp pháp đang lưu vong. Không đặt vấn đề khác biệt sắc tộc trong việc tuyển mộ các chiến sĩ vì Tito là người thuộc sắc dân Croate, ông thiết lập các căn cứ du kích quân ở Bosnie. Trở thành các đối thủ, hai phong trào đồng phát triển các mục tiêu dối chọi nhau đã quay lại chống nhau. Để đối phó với các kỳ vọng của các người cộng sản, Mihailovic đã nương các người lính Đức và gần như đồng minh với các người Italie. Tình hình đã trở nên một sự hỗn độn thật sự, trộn lẫn một sự chiến tranh giải phóng với một cuộc nội chiến, các sự đối chọi về chính trị cùng với hận thù sắc tộc đã tăng lên vì chịu sự chiếm đóng của một quân đội ngoại quốc. Đã xảy ra biết bao nhiêu cuộc tàn sát lẫn nhau do từ mọi phía, mà nơi đó mọi phiá tìm cách tiêu diệt các đối thủ chính của mình hầu áp đặc được quyền lực lên dân chúng.

Các sử gia đã đưa ra con số một triệu người đã chết trên dân số mười sáu triệu cho toàn quốc. Bị hành quyết, tù binh bị sử bắn, các người bị thương cũng bị giết luôn và sự trả thù dưới mọi hình thức không hề ngưng và chuyện này đã trở nên dễ dàng vì nền văn hóa vùng Ba Lan này là môi trường của sự nuôi dưỡng việc chống đối các bộ lạc hay bè đảng. Nhưng có một sự khác biệt giữa các cuộc tàn sát do phe tchetnik và các cuộc tàn sát do các người cộng sản chủ trương, các người tchetnik họ chỉ chịu lịnh của bộ chỉ huy trung ương một cách lỏng lẽo và đã có nhiều nhóm đã không chịu sự kiểm soát của Tướng Mihailovic đã chủ trương các cuộc tàn sát này trên tiêu chuẩn sắc tộc hơn là chính trị. Về phần các người cộng sản họ hành động theo các tiêu chuẩn quân sự và chính trị, Milovan Djilas, một người phụ tá đắc lực của Tito, về sau đã biểu lộ, Chúng tôi rất lấy làm oán hận về các lý do vì sao các người nông dân đã ủng hộ các người tchetnik, họ nói họ sợ vì các nhà của họ sẽ bị đốt hủy và sẽ phải chịu các sự trả thù khác. Vấn đề này đã được nêu lên trong một buổi họp với Tito, và lý lẽ sau đây đã được đưa ra. Chúng ta phải giải thích cho các người nông dân để họ hiểu là nếu họ ủng hộ các người xâm lăng trong đó có sự chen vào của các người tchetnik, các người kháng chiến thân Hoàng Gia và các người Đức xâm lăng, chúng ta cũng đốt phá các nhà cửa của họ, như vậy họ sẽ đổi lập trường. Sau cùng Tito đã quyết định dứt khoát. ‘’Thôi được thỉnh thoảng chúng ta cũng đốt phá một cái nhà hay một xóm làng’’. Về sau Tito cũng đã ra lịnh nằm trong chiều hướng này các lịnh này quyết định hơn vì nó đã được giải thích rõ ràng hơn.

Tháng chín năm 1943, nước Italie đầu hàng Đồng Minh. Thủ Tướng Churchill quyết định viện trợ quân sự của Đồng Minh cho Tito thay vì cho Mihailovic, rồi đến việc Tito thành lập Hội đồng chống Phát-xít và giải phóng quốc gia Yougoslavie (AVNOJ) vào tháng chạp năm 1943, các người cộng sản đã đạt được một thắng lợi về chính trị trên các đối thủ của họ. Cuối năm 1944 sang đầu năm 1945, các thân binh cộng sản đã sửa soạn để lan tràn và chiếm đóng toàn diện lãnh thổ của Yougoslavie. Khi quân lực Đức Quốc Xã sắp sửa đầu hàng Đồng Minh, Pavelic và quân lực của ông, các người công chức cùng với gia đình, tổng cộng vài chục ngàn người, đã rút chạy về phía biên giới Áo Quốc. Các Bạch quân người slovène và những tchetniks người monténégrins đã cùng với những người lính của Croatie đã họp nhau tại Bleiburg, nơi đó họ đã đầu hàng quân lực Anh Quốc và đồng bị giải giao cho Tito.

Các người lính, các người công an và cảnh sát đủ mọi loại đã bị cưỡng ép ra đi trên một khoảng đường dài vài trăm kí-lô mét xuyên qua hết nước Yougoslavie và cuộc đi này được biết dưới tên là: ‘’hành trình của tử thần’’. Những người tù binh slovènes này được đưa về vùng Slovénie trong địa phận Kocevje và đã có khoảng hai hay ba chục ngàn người đã bị hạ sát. Là kẻ chiến bại, các người Tchetnik đã không tránh được sự trả thù của các thân binh cộng sản vì các người này không bắt tù binh. Milovan Djilas đã nói lên giai đoạn cuối cùng của các người Serbes nhưng không giám tiết lộ các chi tiết thật sự của các hành động rùng rợn nơi cuộc hành quân cuối cùng này: Các người lính của Drazá (Mihailovic) đã bị tiêu diệt một lúc cùng với các người lính Slovénie. Các toán nhỏ người Tchetniks họ chạy thoát được về vùng Monténégro sau cuộc bị đè nát này, đã thuật lại những sự việc rùng rợn đã xảy ra tại nơi đó. Không một ai dám nói lại tất cả các diễn biến đã xảy ra, dù là những người đã từng nêu cao tinh thần cách mạng. Và đó là sự kết thúc của một cơn ác mộng. Bị bắt, bị đem ra xử và bị tuyên án tử hình, Drazá Mihailovic đã bị xử bắn ngày 17 tháng 7 năm 1945. Trong lúc xử án, các vị sĩ quan Đồng Minh đã được biệt phái đến cố vấn ở bộ tham mưu của Tướng Mihailovic và đã từng chiến đấu với vị tướng này chống lại quân đội Đức Quốc Xã, các lời chứng của các vị sĩ quan Đồng Minh để ‘’minh oan’’ cho Tướng Mihailovic đều bị tòa án bác bỏ. Sau chiến tranh trong một cuộc đàm thoại của Staline với Milovan Djilas ông đã bày tỏ căn bản triết lý của ông: Kẻ nào chiếm đoạt được một vùng lãnh thổ có quyền áp đặt chế độ xã hội của họ tại nơi đây.

Với cuộc Đệ Nhị Thế Chiến, các người cộng sản Hy Lạp-Grèce cũng đã ở cùng một trường hợp với các người đồng chí Yougoslave của họ. Ngày 2 tháng 11 năm 1940, sau vài ngày quân đội phát xít Italie đã xâm lăng nước Hy Lạp, ông Nikos Zachariadis, thơ ký của đảng cộng sản Hy Lạp viết tắt là KKE, bị cầm tù từ tháng 9 năm 1936 đã kêu gọi quân dân đứng lên kháng chiến: Quốc gia Hy Lạp ngày hôm nay đã đang chiến đấu trong một cuộc chiến tranh giải phóng quốc gia chống lại phát xít Loussolini.(…) Tất cả mọi người phải chiến đấu, mỗi người ở vị trí của mình. Nhưng qua ngày7 tháng 12, một bản tuyên ngôn của ủy ban trung ương bí mật của đảng cộng sản đã nêu lên vấn đề của sự định hướng trong lời kêu gọi nơi Nikos Zachariadis và KKE vẫn giữ đường lối chính thức của tổ chức Komintern, đường lối chủ bại cách mạng. Ngày 22 tháng 6 năm 1941 diễn ra một cuộc ‘’trở mặt ngoạn mục’’ , ‘’KKE ra lịnh cho tất cả đảng viên tổ chức một cuộc đấu tranh để bảo vệ Liên Bang Sô Viết và lật đổ ách phát xít ngoại quốc’’.

Các kinh nghiệm ‘’đấu tranh và hoạt động’’ trong bóng tối rất là quý cho các người cộng sản cùng các điều kiện thuận lợi… Ngày 16 tháng 7 năm 1941, cũng như các đảng cộng sản của các nước khác, họ đã thành lập mặt trận công nhân giải phóng quốc gia viết tắt là EEAM (Ergatiko Ethniko Apélevthériko Métopo), và tập hợp được 3 tổ chức nghiệp đoàn. Đến ngày 27 tháng 9, được tổ chức thành một tổ chức khác tên là EAM (Ethniko Apélevthériko Métopo). Mặt trận quốc gia là cánh tay chính trị của đảng cộng sản. Đến ngày 10 tháng 2 năm 1942, lại thêm một tổ chức. Quân đội nhân dân giải phóng quốc gia, viết tắt là ELAS (Ellinikos Laikos Apélevthérotikos Métopo) và các tổ chức ở trong bưng đã được thành lập vào tháng 5 năm 1942, theo sáng kiến của Aris Velouchiotis (và còn có tên khác là Thanassis Klaras) một người đấu tranh có nhiều kinh nghiệm và y đã ký một tờ tuyên bố quy thuận để được ra khỏi khám đường. Và từ đó nhân số của ELAS tiếp tục gia tăng.

ELAS không phải là một tổ chức quân sự duy nhứt để kháng chiến. Còn có thêm tổ chức EDES (Ethnikos Démokratikos Ellinikos Syndesmos) tên viết tắt của tổ chức đoàn kết quốc gia dân chủ Hy Lạp đã do các nhân dân và thường dân cộng hòa, được tổ chức từ tháng 9 năm 1941 do một vị Đại Tá hồi hưu tên Napoléon Zervas, chỉ huy một nhóm du kích quân. Một tổ chức thứ ba được thành lập vào tháng 10 năm 1942 do Đại Tá Psarros chỉ huy, tên viết tắt là EKKA (Ethniki Kai Koiniki Apélevthérosis) phong trào giải phóng xã hội và quốc gia. Mỗi một tổ chức đều mưu tính thu nhập các đoàn viên và các người đấu tranh thuộc các tổ chức khác.

Nhưng với các thành công và sức mạnh của tổ chức ELAS đã khiến cho các người cộng sản lạnh lùng mưu toan ép đặt ‘’bá quyền’’ (hégémonie) lên toàn thể các người kháng chiến. Các căn cứ ở trong bưng (maquis) của tổ chức EDES đã bị tấn công nhiều lần cũng như các căn cứ của tổ chức EKKA, đã bắt buộc phải phân tán các lực lượng vũ trang của mình và chờ khi có dịp hành sự sẽ quy tụ lại. Cuối năm 1942, ở vùng phía Tây của Thessalie, dưới chân của các dãi núi Pinde, Thiếu Tá Kostopoulos, một người ly khai của tổ chức EAM và Đại Tá Safaris đã thành lập một đơn vị kháng chiến nằm trong trung tâm của một vùng mà tổ chức EAM đã thiết lập được, tổ chức ELAS liền tung quân bao vây và tàn sát các chiến sĩ thuộc tổ chức EAM, các người chiến sĩ nào không chạy thoát được và từ chối tham gia vào đội ngũ của ELAS. Bị bắt làm tù binh, Đại Tá Safaris sau cũng đã đành chấp nhận trở thành vị tham mưu trưởng của tổ chức ELAS.

Sự hiện diện của các sĩ quan người Anh được phái đến để giúp đỡ các người kháng chiến đã làm cho các người chỉ huy tổ chức ELAS lo ngại, các người cộng sản lo ngại là các người Anh sẽ bắt buộc họ phải phục hồi chế độ quân chủ. Trong khi ấy đã có hai thái độ khác nhau giữa ngành quân sự do Velouchiotis và KKE chính thống do Giorgos Siantos những người này tuân theo các chỉ thị của Moscow. Một chính sách liên minh chống phát xít. Ac cuộc hành động của các quân nhân người Anh vào tháng 7 năm 1943, đạt được việc ba tổ chức kháng chiến ký với nhau một thỏa hiệp, vào lúc đó lực lượng ELAS có lối 18 ngàn người lính, lự lượng EDES có 5 ngàn lính và lực lượng có khoảng 1000 lính. Tình hình ở tại đây thay đổi liền vào ngày 8 tháng 9 năm 1943 khi nước Italie ký giấy đầu hàng. Một trận chiến tranh huynh đệ tương tàn liền diễn ra ngay, trong khi đó quân đội Đức Quốc Xã đóng tại đây tấn công các vị trí của tổ chức EDES và bắt buộc các lực lượng của tổ chức này phải rút lui. Do đó, họ sẽ gặp phía trước mặt trên đường lui quân là các tiểu đoàn của tổ chức ELAS và các tiểu đoàn này tìm cách bao vây họ để tiêu diệt. Quyết định thanh toán các lực lượng võ trang của EDES đã được ban chỉ đạo của đảng cộng sản KKE quyết định và họ mưu toan khai thác tình thế mới này hầu làm thất bại chính sách của người Anh. Sau bốn ngày đánh nhau, các chiến sĩ của Zervas đã phá vỡ vòng vây và tẩu thoát.

Cuộc nội chiến xảy ra trong lòng của cuộc chiến tranh giải phóng đã cho quân đội Đức nhiều cơ hội để hành quân, các quân đội Đức liên tục tấn công khi thì tổ chức kháng chiến này, lúc thì tổ chức các cuộc kháng chiến khác. Các nước đồng minh có sáng kiến quyết định chấm dứt cuộc nội chiến này. Các trận đánh giữa hai tổ chức ELAS và EDES được ngưng vào tháng 2 năm 1944 và một thỏa ước được ký kết ở Plaka, nhưng chỉ phù du (éphémère), vài tuần lễ sau các lực lượng của ELAS lại tấn công các lực lượng của EKKA do Đại Tá Psarroschỉ huy. Ông và các sĩ quan của ông đều bị tàn sát và riêng về phần ông thì bị chặt đầu. Các hành động của các người cộng sản đã đưa đến kết quả là làm mất tinh thần của các tổ kháng chiến và làm mất uy tín của EAM, cánh tay chính trị của đảng cộng sản, trong nhiều vùng toàn thể dân chúng đều oán hận đối với các người cộng sản và thù hận đã đến độ sâu sắc khiến cho nhiều người kháng chiến đã bỏ ngũ, gia nhập vào các tiểu đoàn an ninh do người Đức thành lập. Cuộc nội chiến này chỉ chấm dứt khi tổ chức ELAS chịu tham gia và hợp tác với chính phủ hợp pháp lưu vong của Hy Lạp ở Le Caire (Ai Cập). Tháng 9 năm 1944, sáu người đại diện cho EAM-ELAS trở thành nhân viên của chính phủ đoàn kết quốc gia do ông Georges Papandréous lãnh đạo. Ngày 2 tháng 9 năm 1944, khi quân đội Đức Quốc Xã bắt đầu cuộc rút quân ra khỏi lãnh thổ Hy Lạp, tổ chức ELAS tiến quân để chiếm đóng vùng Péloponnèse nằm ngoài vùng kiểm soát của họ, vì có sự hiện diện của các tiểu đoàn an ninh của quân Đức để lại. Các Thành Phố và các làng mạc đã bị ‘’trừng phạt’’. Tại Meligala, một ngàn bốn trăm người gồm có nam, nữ và trẻ em đã bị tàn sát cùng với lối 50 người sĩ quan và hạ sĩ quan của các tiểu đoàn an ninh.

Hình như không có gì có thể làm chướng ngại vật cho bá quyền của EAM-ELAS. Mặc dù Thủ Đô Athènes đã được giải phóng ngày 12 tháng 10 n nhưng đã thoát khỏi ‘’bá quyền’’ của cộng sản vì quân lực của Hoàng Gia Anh đã đổ bộ lên vùng Pirée. Ban lãnh đạo KKE do dự không dám dùng sức mạnh chống lại Quân Lực Anh Quốc. Họ toan tính chơi trò chính phủ liên hiệp? Chả có gì có thể gọi là chắc chắn? Và họ đã từ chối giải ngũ các lực lượng võ trang thuộc ELAS, theo lời yêu cầu của chính phủ đoàn kết quốc gia, Iannis Zegvos, bộ trưởng bộ canh nông là người cộng sản đã yêu cầu giải tán các đơn vị riêng đã tuân theo lịnh của chính phủ. Ngày 4 tháng 12 các đơn vị tuần tiểu thuộc Elas tiến vào Athènes và đã phải đụng đầu với các đơn vị quân đội của chính phủ. Ngày hôm sau, gần như tất cả Thành Phố Athènes đều nằm dưới sự kiểm soát của các đơn vị võ trang của tổ chức Elas vì họ đã huy động gần 20.000 người, nhưng Quân Đội Hoàng Gia Anh đã chống cự lại mong đợi các viện binh được gởi đến. Ngày 18 tháng 12 các lực lượng Elas tấn công vào các vị trí đóng quân của lực lượng EDES ở vùng Épire. Song song với các trận đánh đang diễn ra các người cộng sản đã phát động một cuộc thanh trừng đẫm máu chống lại phe nhà vua.

Cuộc tấn công của cộng sản đã bị thất bại, và họ đành chịu miễn cưỡng ký kết, trong một cuộc họp được diễn ra ởVarkiza, một thỏa ước ấn định việc giải giới các lực lượng võ trang thuộc tổ chức võ trang ELAS. Nhưng trên thực tế đã có rất nhiều súng và các vũ khí khác đã được bí mật chôn dấu. Aris Velouchiotis, một trong những người lãnh đạo đã từ chối không chấp nhận thỏa ước được ký kết ở Varkiza và đã chạy vào bưng cùng lối 100 người chiến sĩ thân tín của ông, rồi ông chạy sang ẩn náu ở nước Albanie, hy vọng sẽ trở lại chiến đấu vũ trang. Được hỏi ông về các lý do của cuộc thất bại nơi các tổ chức ELAM-ELAS, Vélouchiotis đã thẳng thắng trả lời: Đó là việc chúng tôi đã giết một số ‘’quá ít’’ các người. Các người Anh đã chú ý đến cái ‘’ngã tư’’ này mà người ta gọi là nước Hy Lạp, nếu chúng tôi không để một người bạn nào của người Anh sống sót, các người Anh không thể nào đổ bộ được ở một phần đất nào. Nhưng các người khác gọi tôi là ‘’tên giết người’’, và coi bây giờ tình hình đã đưa đẩy chúng tôi vào tình trạng này. Và ông thêm vào. Các cuộc cách mạng chỉ thành công khi nào các con sông đều nhộm đỏ máu đào và đáng công để làm đổ máu. Đó là phần thưởng cho việc thay đổi hoàn toàn xã hội loài người. Người sáng lập ra ELAS, Aris Velouchiotis đã bị giết chết vào tháng 6 năm 1945 trong một trận chiến đã xảy ra ở vùng Thessalie, vài ngày sau khi ông bị khai trừ ra khỏi tổ chức KKE của đảng cộng sản Hy Lạp. Cuộc thua trận của hai tổ chức ELAM-ELAS đã giải thoát được các phản ứng, các mối oán thù chống lại các người cộng sản và các người đồng minh. Nhiều nhóm bán quân sự đã giết chết nhiều người tranh đấu, các người lãnh đạo thì bị đưa đi lưu đày ra các hòn đảo nhỏ.
Tháng 5 năm 1945, Nikos Zachariadis, tổng thơ ký của đảng cộng sản Hy Lạp KKE từ trại Dachau ở Đức Quốc, được Quân Đội Đồng Minh phóng thích trở về Hy Lạp. Các lời tuyên bố đầu tiên của ông đã phát biểu rỏ ràng đường lối chính trị của KKE. Hoặc là chúng ta sống trở lại dưới chính sách độc tài còn ngặt nghèo hơn cả chế độ độc tài quân chủ phát xít hay là tiếp tục cuộc đấu tranh của EAM để giải phóng quốc gia để đạt được việc hình thành cho nước Hy Lạp một chính thể dân chủ nhân dân. Nước Hy Lạp đã đổ máu và bị tàn phá quá nhiều lại không có hy vọng sẽ được hưởng một cuộc hòa bình dân chính. Vào tháng 10 năm 1945, đại hội 7 của đảng cộng sản Hy Lạp đã chấp thuận các mục tiêu do Zachariadis đề ra. Giai đoạn đầu tiên là vận động để Quân Đội Hoàng Gia Anh Quốc triệt thoái ra khỏi nước Hy Lạp. Tháng Giêng năm 1946, Liên Bang Sô Viết đã biểu lộ về các quyền lợi của họ ở Hy Lạp và đã kêu gọi Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc về các nguy cơ của sự hiện diện đóng quân của Quân Đội Hoàng Gia Anh tại nước này. Ngày 12 tháng 12, khi cuộc tổng tuyển cử để bầu các vị đại biểu thành lập quốc hội và cảm thấy sự thua phiếu và thất cử của đảng cộng sản, họ liền kêu gọi việc ‘’bỏ không tham dự’’ (abstention), đảng KKE quyết định tổ chức một cuộc tổng nổi dậy với sự giúp đở của các người cộng sản Yougoslave.

Vào tháng chạp đã diễn ra một cuộc họp giữa các đảng viên cộng sản, của ủy ban trung ương KKE, với các viên sĩ quan Yougoslave và Bulgare. Các người cộng sản Hy Lạp đã được bảo đảm là họ có thể sử dụng lãnh thổ Albanie, Yougoslavie và Bulgarie làm hậu cứ. Trong 3 năm kế tiếp các chiến sĩ cộng sản đã có thể sử dụng các hậu cứ để ẩn náu, săn sóc các thương binh và dùng các vũ khí mà họ đã dự trữ ở các hậu cứ này. Tất cả các cuộc chuẩn bị này đã bắt đầu vài tháng sau khi tổ chức Kominform (tên viết tắt của Kommunist Information) và sự kiện đã hiện ra rõ ràng là cuộc nổi dậy của các người cộng sản Hy Lạp là nằm trong chính sách mới của Điện Kremlin. Ngày 30 tháng 3 năm 1946, đảng cộng sản Hy Lạp KKE đã đảm nhận trọng trách phát động cuộc nội chiến lần thứ ba. Các cuộc tấn công đầu tiên do các lực lượng võ trang mà họ tự gọi là quân đội dân chủ (viết tắt là AD). Được thành lập từ ngày 28 tháng 10 năm 1946 và do Tướng Markos Vafiadis chỉ huy, đã được diễn ra theo các khuôn mẫu cũ, họ tấn công vào các đồn trại của quân cảnh, các người quân cảnh bị tàn sát cùng các vị thân hào. Suốt cả năm 1946, KKE liên tục hành động công khai!
Trong những tháng đầu năm 1947, Tướng Markos gia tăng các cuộc hành quân, các làng xã bị tấn công đã gia tăng con số lên nhiều chục làng, cùng với hàng trăm người nông dân đã bị hành quyết. Quân sĩ của AD đã gia tăng, nhờ vào các việc cưỡng bách tòng quân xảy ra ở các nông thôn. Nếu có một đơn vị làng nào từ chối, không đáp ứng các đòi hỏi của AD, làng này phải chịu sự ‘’trả thù’’, một ngôi làng ở Macédoine đã bị trả một giá quá cao, 48 ngôi nhà bị đốt, 12 người nam, sáu người nử và 2 em bé bị hành quyết. Khởi đầu từ tháng 3 năm 1947, các vị chủ tịch các hội đồng xã lần lượt bị ám sát cùng với các vị Linh Mục. Và cũng vào tháng này số người tị nạn đã lên đến 400.000 người. Chính sách khủng bố đã khiến diễn ra chính sách chống khủng bố, các người thuộc các nhóm ‘’cực hữu’’ đã giết hại các người tranh đấu cộng sản hay là thuộc tả phái.

Tháng 6 năm 1947, sau một cuộc đi thăm viếng các Thủ Đô Belgrade, Prague và Moscow, Zachariadis đã tuyên bố việc sẽ thành lập một chính phủ ‘’tự do’’. Các người cộng sản Hy Lạp tưởng là họ có thể ‘’tái sử dụng’’ lại đường lối của TiTo đã sử dụng 4 năm về trước. Chính phủ ‘’tự do’’ này được ‘’chính thức’’ thành lập vào tháng 12. Các người Yougoslave đã cung cấp các chiến sĩ ‘’tình nguyện’’, gần 10.000 người! Lấy ra từ quân đội Yougoslave. Nhiều bản phúc trình điều tra Ủy Ban Đặc Biệt của Liên Hiệp Quốc cho các vùng Balkan đã nêu lên tầm quan trọng của cuộc viện trợ này cho Đạo Quân Dân Chủ-AD- Xảy ra việc tuyệt giao giữa Staline và TiTo vào mùa Xuân năm 1948 đã đưa đến các hậu quả chính cho các người cộng sản Hy Lạp. Nếu các nguồn viện trợ vẫn tiếp tục được gởi đến các vùng biên giới cho đến mùa Thu 1948, TiTo bắt đầu ra lịnh cho các người lính tình nguyện Yougoslave rút lui và đóng chặt biên giới. Đến mùa Hè, các lực lượng của chính phủ Hy Lạp khởi sự tấn công rộng lớn, vị lãnh tụ cộng sản Albanie là Enver Hoxha, đã bắt buộc phải đóng chặt biên giới với Hy Lạp. Các người cộng sản Hy Lạp đã bị cô lập và các cuộc tranh chấp nội bộ và các niềm bất hòa bắt đầu diễn ra. Các trận chiến vẫn tiếp diễn cho đến mùa Thu năm 1949. Một số các chiến sĩ cộng sản chạy sang ẩn náu ở Bulgarie và ở các nước Đông Âu, đặc biệt là ở nước Roumanie và tại Liên Bang Sô Viết. Tachkent Thủ Đô của Ouzbékistan đã có cả chục ngàn người tị nạn trong số này có 7.500 người cộng sản. Sau cuộc chiến bại, đảng KKE lưu vong, đã thi hành một loạt ‘’khai trừ’’, đến nỗi vào tháng 9 năm 1955 đã đưa đến một cuộc tranh chấp đã xảy ra giữa hai phe ủng hộ và chống đối Zachariadis và đưa đến các cuộc xung đột dữ dội, quân đội Sô Viết đã phải can thiệp để tái lập lại trật tự và đã có hàng trăm người bị thương.

Cuộc đón tiếp các người chiến bại, của cuộc nội chiến Hy Lạp, ở Liên Bang Sô Viết lại là một việc nghịch lý vì Staline vào thời điểm này đã phá hủy cộng đồng người Hy Lạp sinh sống trên đất Nga từ nhiều thế kỷ, và đến năm 1917, đã được ước lượng khoảng từ 500.000 đến 700.000 người, phần lớn cư ngụ ở vùng Caucase và dọc theo ven bờ Hắc Hải. Đến năm 1939, cộng đồng người Hy Lạp chỉ còn có khoảng 410.000 người và sang đến năm 1960 con số này tuột xuống còn 177.000 người. Bắt đầu từ tháng Chạp năm 1937, Staline đã ra lịnh đưa đi lưu đày 285.000 người Hy Lạp sống ở các Thành Phố lớn đã bị đưa đi về các vùng Arkhangelsk, về vùng thuộc Cộng Hòa Komis và về vùng Tây Bắc Sibérie. Có nhiều người khác đã trở về Hy Lạp. Và đã cùng vào thời điểm này các ông A. Haitas, cựu thơ ký của đảng cộng sản Hy Lạp (KKE) và nhà sư phạm J. Jordinis đã bị ‘’thủ tiêu’’ ở URSS. Năm 1944, mười ngàn người Hy Lạp sinh sống ở vùng Crimée đã bị tố cáo là đã có các hành động ‘’thân người Đức’’ trong thời gian chiến tranh, và là các người sống sót của cộng đồng Hy Lạp ngày xưa, đã bị đưa đi lưu đày ở Cộng Hòa Kazakhstan. Và đến thánh 4 năm 1940 tất cả các người Hy Lạp đang sinh sống ở Batoum cũng phải chịu chung một số phận.

Ở các nước thuộc về phương Tây của Âu Châu (được gọi tắt là Tây Âu), các mưu toan của các đảng cộng sản để cướp lấy chính quyền về tay riêng cho đảng, nhân dịp có các cuộc kháng chiến và giải phóng đã bị mau chóng ‘’phá vỡ’’ vì sự hiện diện của các Quân Đội Anh Mỹ. Và bắt đầu vào cuối năm 1944, các chỉ thị của Staline đã khuyến cáo các lực lượng võ trang của cộng sản và thân cộng sản, ‘’hãy chôn dấu các vũ khí, đạn và chờ đợi một dịp tốt hơn để cướp chính lấy quyền’’. Thẩm quyền này đã được tỏ ra rõ ràng sau cuộc hội kiến giữa Staline và Maurice Thorez, diễn ra tại Điện Kremlin vào ngày 19 tháng 11 năm 1944. Là tổng thư ký của đảng cộng sản Pháp, Thorez đã sống ở Nga, trong suốt thời kỳ xảy ra chiến tranh và sắp sửa lên đường trở về Pháp.

Số phận của các thiếu nhi Hy Lạp và con quái vật Minotaure Sô Viết

(Theo truyện thần thoại của Hy Lạp, Minotaure là một con quái vật, nửa người nửa con bò mộng. Mỗi năm phải tế thần cho Minotaure một thiếu niên để y dùng vào việc riêng)

Trong lúc xảy ra cuộc nội chiến từ năm 1946 cho đến năm 1948, các người cộng sản Hy Lạp đã kiểm kê tất cả các trẻ em nam và nữ từ 3 tuổi đến 14 tuổi, trên toàn thể các vùng mà họ kiểm soát. Tháng 3 năm 1948, tất cả các trẻ này đều được tập họp về các vùng gần các biên giới và cả chục ngàn trẻ em được đưa qua các nước Albanie, Yougoslavie và Bulgarie. Các người dân làng phải đem giấu các trẻ em vào trong các khu rừng. Hội Hồng Thập Tự sau muôn ngàn khó khăn đã kiểm kê được con số 28.296 trẻ em. Mùa Hè năm 1948, với các việc tuyệt giao TiTo-Kominform, một số 11.600 trẻ em đã từ Yougoslavie chuyển qua các nước Tiệp Khắc, Hung, Bảo và Ba Lan, bất chấp các lời kháng cáo của chính phủ Hy Lạp và vào cuộc họp lần thứ 3 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã ra một nghị quyết lên án việc ‘’bắt cóc’’ các trẻ em Hy Lạp. Tháng 11 năm 1949, Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã đòi phải đưa các trẻ em Hy Lạp hồi hương. Tất cả các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc đều không hề được đáp ứng. Các chế độ cộng sản ‘’hàng xóm’’ đều trả lời là các trẻ em này được sống sung túc ở nước họ hơn là ở Hy Lạp, vắn tắt là các cuộc lưu đày những trẻ em này là một hành động ‘’nhân đạo’’.

Vậy mà, cuộc cưỡng bách lưu đày các trẻ em đã diễn ra trong các hoàn cảnh khốn khổ, thiếu ăn và các chứng bịnh thời khí đã khiến nhiều trẻ em đã chết. Được tập họp trong các ‘’làng thiếu nhi’’, các em ngoài các chương trình học tổng quát phải học tập thêm về chính trị, nói đơn giản là ‘’nhồi sọ’’ các em. Và bắt đầu từ 13 tuổi, các em phải lao động như các tiêu chuẩn của người lớn, như việc khẩn hoang các vùng ‘’đầm lầy’’ ở Hung Gia Lợi, tên vùng là Hartchag. Hậu ý của các người lãnh đạo cộng sản là đào tạo một thế hệ mới, tuyệt đối đấu tranh tận tụy cho chủ nghĩa. Việc thất bại đã hiển nhiên xảy ra, vào năm 1956, một người Hy Lạp tên Constantinidès đã chiến đấu chống lại Hồng Quân Sô Viết và đã tử thương cùng các bạn người Hung. Nhiều người Hy Lạp khác đã chạy thoát qua Đông Đức.

Trong các năm 1950 đến năm 1952 chỉ có 684 trẻ em được trả về cho chính phủ Hy Lạp. Đến năm 1963, khoảng 4.000 trẻ em được trả về trong số này có nhiều em đã sinh ra ở các nước cộng sản. Ở nước Ba Lan, cộng đồng người Hy Lạp vào các năm đầu của thập niên 1980, đã được con số là vài chục ngàn người. Có một số người tham gia vào phong trào Solidarnosc và bị cầm tù sau cuộc đảo chánh của Tướng Jaruzelski. Sau năm 1989, với việc dân chủ hóa đang diễn ra, nhiều ngàn người Hy Lạp ở Ba Lan đã trở về nước của họ (Trích từ: Vấn đề Hy Lạp trước Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, bản phúc trình của Ủy Ban Đặc Biệt cho vùng Balkans, 1950 ).

Sau chiến tranh và cho đến ngày Staline qua đời, các đường lối hành động bạo ác cùng với các cuộc khủng bố đã được thiết lập trong lòng tổ chức Komintern từ thời trước khi xảy ra chiến tranh, vẫn được duy trì ở trong phong trào cộng sản quốc tế. Ở Đông Âu, việc đàn áp các người ‘’ly khai’’, các người có tư tưởng này hay là các người bị khép vào cảnh ‘’giả định’’ đã diễn ra gắt gao và riêng các vụ xử án ‘’gian lận’’ đã được dàn cảnh lớn lao. Cao điểm các cuộc khủng bố đã đạt được khi xảy ra vụ khủng hoảng giữa Staline và TiTo vào năm 1948. Vì đã từ chối không chịu tự phục tòng và đã làm tan vỡ quyền uy tối cao của Staline, TiTo đã bị gán cho là một tên ‘’Trotski mới’’. Staline toan tính cho ám sát TiTo, nhưng TiTo là một con người đa nghi và được sự bảo vệ của bộ máy nhà nước do ông thiết lập. Vì không thể ‘’thủ tiêu’’ được TiTo, các đảng cộng sản liên kết trên thế giới đã lần lượt phát động các hành động ‘’phóng đảng’’ (débauche) các vụ giết người vì chính trị với tư các tượng trưng và ‘’khai trừ’’ ra khỏi đảng các phần tử mà họ gán cho là theo ‘’chủ nghĩa TiTo’’. Nạn nhân đầu tiên để ‘’chuộc tội’’ (expiatoires) là vị tổng thư ký của đảng cộng sản Na Uy (Norvege) Peder Furubotn một lão thành viên của tổ chức Komintern, sau một thời gian lưu trú lâu dài ở Moscow và đã trở về nước vào năm 1938, nhờ vậy ông mới cứu được mạng sống của ông. Ngày 20 tháng 20 năm 1949, nhân một cuộc họp của đảng cộng sản Na Uy, một đảng viên cộng sản tay sai của Moscow tên là Strand Johansen đã tố cáo Furubotn là ngã theo chủ nghĩa TiTo. Được sự tín nhiệm của nhiều đảng viên cộng sản, Furubotn liền triệu tập đại hội đảng vào ngày 25 tháng 10 và tuyên bố từ chức cùng với đoàn thể các thành viên của ủy ban trung ương đảng với điều kiện là trong thời gian ngắn phải có một cuộc bầu để có một ủy ban trung ương mới và các lời tố cáo ông phải được một ủy ban quốc tế cộng sản xét xử. Các đối thủ của Furubotn đã bị ‘’hụt giò’’. Ngày hôm sau, dưới sự ngạc nhiên và phẩn uất của toàn thể các đảng viên cộng sản, Johansen và các đảng viên cộng sản thân tín của y, đã xông vào trụ sở của ủy ban trung ương, tay cầm súng đã đuổi tất cả các đảng viên thân Furubotn ra khỏi trụ sở. Và liền sau đó Johansen tổ chức một cuộc họp và bầu cử khai trừ Furubotn và ông này đã từng biết rõ các lối hành động của các người cộng sản Sô Viết, liền ‘’bế môn tỏa cảng’’ ở trong nhà ông cùng với các bạn ông, tất cả đều có vũ khí để chống cự lại nếu bị tấn công. Sau các việc đã xảy ra như một film cinéma trinh thám, đảng cộng sản Na Uy/PCN đã mất các phần tử đấu tranh nồng cốt và sống động. Còn về phần Johansen, bị các nhân viên Sô Viết dùng y thử nghiệm từ mưu toan này đến mưu toan khác đã lần lần mất trí nhớ.

Và màn diễn chót, của các hành động khủng bố trong phong trào cộng sản, đã diễn ra vào năm 1957, Imre Nagy, một người cộng sản Hung Gia Lợi, đã một lúc cầm đầu cuộc nổi loạn vào năm 1956 ở Budapest, (coi lại chương Karel Bartosek) phong trào bị đè nát, ông chạy vào Tòa Đại Sứ Yougoslavie xin tị nạn và không chịu đi ra, e sợ cho tính mạng của mình. Sau các cuộc mưu toan quanh co và mờ ám, các người Nga Sô Viết đã bắt được ông và quyết định đưa ông ra xử tại Hung Gia Lợi. Nhưng không muốn chịu trách nhiệm về việc sát hại này, đảng cộng sản Hung Gia Lợi đã thừa dịp cuộc Hội Thảo lần thứ nhất của đảng cộng sản trên thế giới lần thứ nhất nhóm họp ở Moscow vào tháng 11 năm 1957, để bỏ phiếu lên án tử hình Imre Nagy, có sự hiện diện của các vị lãnh tụ các đảng cộng sản, trong đó có Maurice Thorez người Pháp và Paimiro Togliatti người Italie. Trừ phiếu chống lại của Gomulka, tổng thư ký đảng cộng sản Ba Lan. Imre Nagy bị kết án tử hình và bị treo cổ ngày 16 tháng 6 năm 1958.

—->Chương 18

This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN HỮU SƠN dịch Hắc Thư Chủ Nghĩa Cộng Sản and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s