2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Dương Đình Lôi & Xuân Vũ): Q. I

Chương 3

Sáng hôm sau, má Hai đi móc gia đình cho tôi. Tôi muốn biết thêm một ít sinh hoạt vùng giải phóng 3/4 đất đai và 4/5 dân chúng của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (thực tình hồi ở Hà Nội, tôi có hơi tin nhưng về đây tôi ngã ngữa ra) nên tôi đi theo Má đến Bến Dược, còn Là thì có công tác xã hội, nên cả ba cùng đi. Lụa ở nhà coi quán với bé Rớt.

Đi ngang một lạch nước, Là bảo:

– Đây là Rạch Thai Thai, nhưng ở đầu rạch người ta gọi là suối Lộc Thuận. Nó phân chia hai quận Trảng Bàng và Củ Chi. Qua khỏi rạch này mình sẽ đi trên một con đường đất đỏ vừa đủ xe bò đi, phóng thẳng lên bờ sông Sàigòn đụng đường số 15, chỗ đó gọi là Ngã Ba Dược. Đường 15 chạy cặp sông Sàigòn xuống tận xã Tân Thạnh Đông. Bây giờ con đường đó đã bị B52 cắt ở khúc An Nhơn Tây. Thời ông Diệm xe hơi chạy vô tới đó.

Tôi cười:

– Lâu đi xe hơi quá! Nếu có điều kiện bây giờ tôi làm thử một cuốc chơi.

Là nghênh mặt:

– Anh có gan không?

– Có dư.

– Anh dám đi tàu không?

– Tàu đi đâu?

– Tàu từ Dầu Tiếng xuống, lát nữa nó sẽ ghé Bến Dược rước khách, anh xuống tàu nghe!

– Tôi đâu có ngán chút nào!

Tôi vừa đối đáp với Là vừa ngó quanh hai bên con đường đất đỏ. Còn khá nhiều vườn cây xanh tươi lúp xúp những nóc nhà ngói nhà lá. Những ngọn cau xanh thẳm in trên nền trời trắng trong. Vài làn khói lên trên mái tranh như hơi thở mỏi mòn của thôn xóm sau những năm chiến tranh dằng dặc. Hòa bình 54 xong, dân Miền Nam được xả hơi chưa được mười năm lại bày ra ba cái thứ giải phóng rởm – chẳng ai cần mày – khiến cho nhân dân tan nhà nát cửa lần nữa. Ở đây đã khởi sự chiến tranh 45 với bài thơ bất hủ của Xuân Miễn đến nay tôi còn nhớ như bài thơ hay nhất của Nam Bộ kháng chiến mà tôi đã chép trong quyển sổ nhỏ của tôi.

An Phú Đông, đây An Phú Đông.
Một làng nho nhỏ ở bên sông.
Một năm chinh chiến, ôi chinh chiến.
Sóng nước Sài Côn nhuộm máu hồng.
Làng ấy như bao làng nước Việt.
Cày sâu cuốc bẩm gái trai lành.
Chiều chiều tiếng hát vương theo gió.
Quyện tóc dừa cau vạn thuở xanh.

Bỗng nghe tiếng gọi từ xa thẳm.
Non nước tan tành ngủ mãi sao.
….
(quên một câu)
Trong lòng đã rộn bóng gươm đao
Làng mạc tan tành thành chiến địa.
Hàng dừa rủ tóc khóc bên mồ.
U hoài gió vỡ trên sông rộng.
Thây dạt vào đây sóng nhấp nhô.
……………………….
An Phú Đông, đây An Phú Đông.
Trả lời tiếng gọi của non sông.
Trẻ già đều biết hi sinh hết.
Biết rửa thù chung đổ máu hồng (*)

Xuân Miễn (1945)

(*) Xin độc giả nào còn nhớ bài thơ An Phú Đông xin vui lòng chép gởi về cho chúng tôi xin để bổ túc. Rất cám ơn (Dương Đình Lôi & Xuân Vũ)

Sông Sàigòn cách đây không xa. Đó một vùng tiếp cận Sàigòn. Đêm An Phú Đông vùng lên chiến đấu dân tự tiêu khổ kháng chiến. Quân Pháp đã đến đây tàn sát triệt để. Ngọn cau phất phơ trước mặt tôi gợi lại cả một trời tang tóc.

Là trỏ tay qua phía bên kia sông Sàigòn và nói:

– Bến Súc ở chỗ đó, má nói hồi mấy ảnh đánh thì đổn còn nhỏ lắm. Sau tụi lính Lê Dương mặt gạch tới đóng nhiều hơn. Còn lính đạo qua đóng đồn gần nhà thờ Rạch Kiến. Nay bên đó cũng như bên mình không còn đồn bót nào nhưng vùng giải phóng mà dân đâu dám qua lại tự do. Lơ mơ thì trực thăng Mỹ đổ trên đầu.

Chập sau đến bìa rừng cao su, Là bảo:

-Chỗ này là ấp Lò Than. Hậu Cần U60 có nhiều kho tàng trong khu rừng này.

Tôi giật mình.

– Sao biết rõ vậy, cô xã đội?

– Mấy ổng làm lộ mặt quá hà! Ai cũng biết chứ đâu phải riêng em. Mấy ông hậu cần đâu có giữ bí mật chút nào. Mấy ổng mua gạo và các thứ thực phẩm khác từ Bến Tranh chở bằng xe bò xuống tới Bến Súc bằng đường số 14, dùng ghe máy chở qua sông Sàigòn cất giấu ở đây, rồi từ đây kéo về Bời Lời bằng đường số 6. Xe đò đi cả bầy suốt đêm, không lõi đêm nào. Người nào mà không biết. Để vài bữa nữa anh lên ở trên này mà nghe nhạc đờn cò và em chỉ cho anh xem những con “đường dứa” nhẩm dấu xe bò.

Là nói một hơi dài như trả bài thuộc lòng rồi dừng lại cười hắc-hắc …. Tôi hỏi:

– Nhạc đờn cò gì lúc này?

– Nhạc phát ra từ bánh xe bò ấy mà! Cò ke cót két như là đờn cò đám ma. Con buôn vùng này mập lắm anh ạ! Bất cứ thứ gì chúng nó cũng bán được. Còn các ổng thì thứ gì cũng quơ mua hết sạch. Anh có biết ông Bảy Hốt không?

– Bảy Hốt nào?

– Cũng ở U60 đó mà! Ổng là thổ địa ở vùng này. Tên thiệt của ổng là gì không ai rõ nhưng trước kia dân Xóm Dược gọi ổng là ông Bảy Hốt, còn bây giờ không gọi Bảy Hốt mà Bảy Hít! Anh biết tại sao không?

– Không. Bí danh của ổng biết sao được!

– Hốt là vì tôi nói đó. Đụng thứ gì ổng cũng mua! Tàu về là ổng đã có sẳn người chuyển hàng vô thẳng địa điểm cho ổng. Các món hàng thường dùng lắm khi cũng ón ngang vì ông Bảy Hốt. Do đó người dân rất sợ ông Bảy Hốt, hễ con nít thấy mặt ổng là con nít chạy dong về nhà lấy chai đi mua nước mắm dầu lửa. Còn Bảy Hít….

– …. là ổng hay thổi tu hít?

– Không có tu hít đâu mà thổi mà bởi vì ổng “hít” dữ lắm!

– Hít cái gì?

– Hít cái gì thì anh biết! Anh coi chừng người ta cũng kêu anh là ông “Hai Hít” thì khốn.

– Bậy nào!

– Ừ, để rồi coi!

Đi ra gần tới mé sông, Là bảo:

– Anh đứng đây nghe. Chốc nữa em trở vào!

– Em đi đâu bỏ anh một mình ở giữa chỗ lạ hoắc này? Rủi có “đổ chụp” anh chạy đâu?

– Em đưa má xuống bến rồi trở lên. Gì mà mặt mũi dớn dác vậy? Đứng lại đây em vẽ cái vòng phép, anh đừng có bước ra ngoài nghe.

Vừa nói Là vạch một cái vòng tròn chung quanh tôi.

– Đi mau mau đi! Anh đứng đây chờ.

Tôi ngó theo Má Hai và Là đi thẳng ra Bến Dược. Chỉ chờ một lúc thôi, nhưng không có người quen bên cạnh tôi đã thấy lạnh xương sống rồi. Là và má vừa đi thì tôi chạy theo. Là xô tôi lại:

– Anh không ra bến tàu được! Ngoài đó có nhiều tên lem nhem lắm.

– Che mặt lại.

Là khoát tay, trỏ vào một ngôi nhà đứng sau khóm cau, và nói:

– Anh ở đây chờ … Nhớ đừng có mua gì hết nghe!

– Sao vậy?

– Ông Bảy Hốt đã mảo hết rồi!

Nói vậy rồi Là vội chạy theo má. Còn tôi thì đi men theo con đường mòn vào ngôi nhà Là vừa chỉ. Ngôi nhà lá, ba căn, cửa ván, nền nhà cao cẩn bằng những tảng đá ong. Cửa trước mở toang, mấy người đàn ông mặc áo bà ba đen hoặc quân phục giải phóng, sơ mi có con đỉa, vạt áo bỏ ngoài, ngồi uống trà và nói chuyện rầm ran. Thấy cái cảnh đó tôi ngỡ mình đang ở giữa rừng giải phóng muôn năm, không biết quân địch là gì. Ngó thẳng qua hai phía thì thấy hàng hóa chất đầy trên ván, Tôi nghĩ rằng đây là trạm của ông Bảy Hốt. Tôi bước vào. Tôi lóa mắt trước những đống hàng hóa vun lên … như núi. Bánh kẹo, trà thuốc, đường tán, lọ hũ v.v. … Ở trong góc nhà là những thùng dầu lửa chưa khui.

Một người đàn bà có da thịt, không đẹp cũng không xấu, mặc áo tê-tô-rông màu hột gà, quần lãnh đen đang xách cái ấm nước từ dưới bếp đi lên, thấy tôi bước vào bà ta dừng lại chào rồi hỏi:

– Anh đến chờ móc gia đình hả?

– Dạ!

Tôi đáp một cách tự nhiên và không chút gì ân hận đã thú nhận một việc quan trọng như vậy cho một người không quen biết.

– Phải anh lên sớm sớm thì tôi cho anh “ké” để đỡ tốn tiền xe.

– Cám ơn chị.

– Mà anh tìm người được chưa?

– Dạ được rồi!

– Dạ gì mà dạ! Trả dạ lại anh đó, anh đáng tuổi anh của tôi.

Người đàn bà bước lại bộ ván đưa chiếc ấm nước cho đám bợm trà rồi quay lại mời tôi:

– Anh uống miếng nước đi. Anh chờ tàu Dầu Tiếng xuống hay Bình Dương lên?

– Dạ chờ tàu Dầu Tiếng.

– Vậy móc mới đi bữa nay. Gần thì mốt về tới. Xa thì bốn năm ngày.

– Dạ chắc đâu đó.

Mấy ông uống trà ngồi vẹt ra chừa chỗ cho tôi chớ không thốt tiếng nào. Đó là điệu mời của nhà binh. Tôi xề xuống ngồi vào. Một người rót một chén lớn:

– Úp một gàu đi rồi hảy tính gì thì tính!

Tôi cầm chén trà uống ngay rồi mốc gói Capstan còn đầy để ra giữa ván gọi là lễ “nhập tiệc”. Một người hỏi.

– Coi có “dèm” nào so với Hoa Nhài Chính Xuân Hà Nội không?

– Cũng gần gần vậy thôi!

– Đồng chí ở “U” nào?

Tôi mới đến chưa quen với ám hiệu ký danh vùng này nên ngớ ngẩn không đáp được. Một người sồn sồn, răng hô có vài chiếc bịt vàng nói ồm ồm:

– U nào cũng nặng cả chẳng có u nào nhẹ. Đứa nào lấy trà Thiết Quan Âm Kỳ Chưởng ra làm một bình coi. Uống ba cái “Con Khỉ Hộc Máu” này gắt cổ quá, ho hoài.

Tuy là trà quý nhưng vẫn bỏ trong bình toong Mỹ vặn nắp rồi nắm cổ rót ra chứ không có bình tích, bình gan gà Thái Đức Mạnh Thần gì cả? Ngoài ra “đồng ca trà” còn được “đệm đàn” bằng “nhạc cụ” đường tán.

Xem những cử chỉ và lời nói của người bịt răng vàng tôi đoán là Bảy Hốt.

Đang uống và nói chuyện ngon lành thì bỗng Bảy Hốt (đúng Bảy Hốt) bảo:

– Tư Thêu ra ngó máy bay chút!

Một người bận áo bà ba quần tiều vừa nói vừa thọc chân xuống đất.

– Đầm già Dầu Tiếng bữa nay xuống sớm! Để tôi ra coi chừng cho. Bà con mình cứ việc “nhậu” đi!

Tôi hơi ngán ngồi trong nhà nên bước ra ngoài đi theo Tư Thêu và hỏi:

– Sao anh biết nó ở Dầu Tiếng xuống?

– Cái mững của mình quá rành! Ông “về nước” bao lâu rồi?

Tôi suýt bật cười, cố nín. Hồi ở Trường Sơn, tôi cũng từng nghe nhà lính mĩa danh từ “về nước” này.

– Còn cha về nước bao lâu rồi?

Tư Thêu xòe tay:

– Tôi đã trải ba Xuân, hai Xuân ở R, một Xuân ở đây. Vùng này ác liệt lắm nhưng bom pháo qua rồi thì khỏe re. Còn ở R mệt cầm canh. Nhất là cái mục kia, thấy khỉ cũng đẹp! Bộ móc hả?

– Ừ, móc!

– Móc chuyên nghiệp hay móc tài tử. Móc chuyên nghiệp mới chắc ăn, còn móc tài tử hay quác lắm.

– Tôi nhờ Má Hai ở Xã.

– Tôi biết rồi. Bà Má của nữ xã đội Là.

Cùng là Thu Vàng nên dể làm thân, hai bên kéo nhau đến ngồi ở gốc cau. Trời đã trưa nhưng chưa nóng nực. Anh bạn tự giới thiệu:

– Tôi ở trạm này với ông Bảy Hốt. Cái ông … đại úy răng vàng…

– Tôi biết rồi. Nội đó ổng gìa nhất chớ ai.

– Gia đình đó tốt lắm. Con trai chết trận hồi 46. Con gái út làm Xã đội phó. Nó gan lỳ. Tụi con Nê, con Mô, con Gừng có ăn thua chi, nhưng nó không chịu chụp hình quay phim.

– Tại sao vậy?

– Chuyện của người ta nên tôi không điều nghiên làm gì! nhưng tôi nghe đồn tụi kia được đề cao rồi lên chưn lên cẳng nên nó không thích. Nó bảo ai “dũng sĩ” ai “dũng khỉ” thì nhân dân sẽ biết, không cần khoe.

Chiếc L19 bay rà trên dòng sông. Tôi quay lại và ngó theo rồi nói với Tư Thêu:

– Coi bộ nó liếc vùng mình quá cha nội.

– Nó sắp đánh đến nơi rồi, chớ còn liếc gì nữa!

– Sao cha nói chắc vậy?

– Đồng Dù vừa nơ vô cả chục cà-nông. Nó sẽ bắn không còn một cục đất nguyên mà. Con đầm già này chỉ làm lính canh cho tàu chạy thôi chứ không ăn thua gì đâu.

– Tàu đò chạy sao lính phải canh?

– Nó canh có hai tác dụng: một là nó xem tàu có liên lạc bốc hàng cho mình không, hai là là nó xem có bộ đội mình dùng tàu hành quân trên sông không?

– Làm gì có cái vụ tàu hành quân trên sông?

Tư Thêu cười:

– Có một lần rồi cha non ơi!

Tư Thêu móc thuốc rê và mỗi đứa quấn một điếu to như con cúi ung trâu, vừa bập vừa tri kỷ nói tiếp.

– Ông nội biết không? Trong hành khách có mật thám lẩn lộn. Mình có răng nó cũng có cựa chớ bộ nó chân suông sao? Thằng L19 bay bọc dọc theo sông liếc cái nào cái nấy bén ngót thấy chưa? Hôm qua nó làm một chầu bom gần nhà mũ (mũ cao su). Mấy lúc gần đây không ngày nào vùng này ngơi xơi bom. Phải chi ông về mấy năm trước thì còn ăn hút được. Hồi đó khúc sông này đồn bót rút hết, giải phóng từ Phú Hòa Đông lên tới Bến Củi. Mấy ông nhà mình không chịu lội bộ mõi chân nên đi tàu từ Bến Đình lên Bùng Binh, Thanh An. Đi ẩu vậy cũng đã làm cho chủ đò teo ruột lắm rồi, mấy ổng còn để nguyên quân phục, mang trường bá đỏ, “oảnh tằm sào” xuống đò luôn.

Tôi hỏi:

– Oảnh tằm sào là súng gì?

– Ông không nhớ loại mút Lơ Ben để phóng lựu của thời Pê-tanh làm trùm à?

– Ờ! ờ!.. nhớ rồi! Nhưng ở đâu mà bây giờ còn những thứ đó?

– Còn chớ!.. khi đồng khởi thì đào mồ cuốc mả lấy bửu bối lên để xài. Nhờ ba cái thứ đó, nếu không có, súng bập lá đánh ai? Để tôi nói tiếp cho nghe mà thương thằng cha chủ đò. Thằng chả như con nhái bị kẹp giữa gọng kềm. Ở trên trời thì thằng Quận trưởng quận Dầu Tiếng ngồi trên máy bay ngó xuống, còn trên sông thì mấy ông giải phóng nhà mình hầm hè. Nhích phía bên nào cũng đụng hết cả. Chỉ còn có một cách là lạy mấy ông giải phóng lui vô mui cho kín!

– Tư Thêu tiếp – Sau lần đó chủ đò không chịu chở hàng cho mình nữa. Bảy Hốt hỏng giò cả tháng, chạy tới chạy lui như đạp lửa. Khu phải ra lịnh cấm lính nhà ta làm cái kiểu đó. Bây giờ chỉ còn gánh tụi nầy được lai vãng ở Bến Dược thôi. Ông có muốn xem tàu không?

– Thôi thì cũng tàu bè chớ có gì mà coi.

– Úy, đừng nói vậy, con gái cạo mũ đẹp như tiên đó nghe. Ra một chuyến mà coi. Có thua gái Hà Nội tôi chết liền!

– Ông đóng đô ở đây lâu chưa?

– Không lâu mà cũng không mau! Tôi ở bên Thanh An thuộc tỉnh Bình Dương tức là Thủ Dầu Một. Đáng lẽ tôi làm thổ địa bên đó hay hơn nhưng vì U60 cần nên bắt tôi ở bên này mua lương thực cho R, nên tôi phải ở Củ Chi này. Ở đâu thì cũng thế thôi. Nhưng năm ngoái thì còn dễ thở, từ ngày Mỹ nhảy vô tối ngày ngồi ở miệng hầm, chiều tối xong công chuyện thì đã mệt nhừ rồi, tiên có gọi cũng lắc đầu.

Vừa đến đó thì nghe tiếng tàu chạy xình xịch. Thêu nhích ra khỏi mé vườn che tay nhìn về phía sông. Thêu nhổ bãi nước miếng rồi nói.

– Tàu tới rồi kìa! Ông coi đó, khu giải phóng con cầy gì, nó chạy giữa ruột mình mà đành đứng trơ mắt ếch ngó! Kìa ông nhìn thử chiếc L19 dưới bụng vẽ cờ ba que, còn mũi tàu thì cũng cờ ba que. Đó, nó chạy qua mấy khúc trống, cây cờ đó thấy rõ ràng chưa?

Tôi gật đầu.

– Thấy rồi!

– Mình làm gì nó?

– Không đánh được à?

– Đánh tàu đò như đàn ông đánh đàn bà còn danh dự gì mấy ông giải phóng, cha nội? Nhưng đánh nó là mình tự vận.

Hồi chin năm mình đánh đoàn công voa dân sự ở La Ngà cũng oai… chớ.

– Ờ, hồi đó dân thành nghe trận đó sợ té đái!

– Mấy cô nữ sinh mần thơ hay ra phết, “Em tủi nhục trong vòng bị chiếm, biết bao giờ nguôi hận chiến khu xanh “.

– Bây giờ mình đánh chim chiếc tàu này thì hận chiến khu càng sâu hơn nữa đó.

Khói đen bay lên đầu ngọn cây ở bờ sông rồi tiếng tu hít từ lòng sông vang lên văng vẳng.

– Tàu đậu vô Bến Dược rồi đó ông!

– Khách đông không?

– Đông chứ.

– Đồng bào mình tiếng là sống trong khu giải phóng nhưng sự thực là như con heo bú vú nhờ. Nó ngưng một chuyến thì ở trong này mình ngáp, ngưng hai chuyến thì mếu, ngưng một tuần thì mình ngất ngư, ngưng một tháng thì mình thành khỉ hết ráo. – Thêu ném cái tàn thuốc, phẹc nước miếng và tiếp – Kìa người ở dưới tàu lên đó. Người của mình.

– Vậy nữa sao?

– Có chứ, ra vô như đi chợ mà! Chủ tàu ớn mình lắm. Sau cái cú “quá giang” của mấy ông “oảnh tầm sào”, mấy ông mình lại làm một phát nữa.

– Sao cấm rồi còn làm “phát” gì nữa?

– Phát này do cấp trên chỉ huy! Ông Tám Quang, biết không?

– Nghe nói nhưng chưa gặp.

– Sẵn dịp có thằng cha “Buột Sét Buốt Sệt” gì đó xuống đây. Ổng định cho treo cờ đỏ sao vàng ở mũi chiếc đò chạy trên sông.

– Sao mấy ổng biết?

– Kế hoạch của mấy ổng là do tụi tôi thực hiện mà.

– Chừng nào?

– Chắc cũng gần. Ông có rảnh giúp ý kiến chút, chứ ông đại úy của tôi coi bộ hơi lúng túng.

– Tôi có biết tình hình ở đây đâu mà giúp.

– Để bữa nào thi hành tôi sẽ đề nghị ông Bảy Hốt bàn với ông. Ông là cán bộ tham mưu tôi biết mà.

– Giởn hoài cha!

– Một Sơn nói với tôi chớ ai. Phải ông ở ngoài trạm cô Lụa không?

– Phải!

– “Chỗ” đó tốt lắm.

– Người ta có chồng có con rồi! Làm bậy mất đạo đức hết.

– Sợ người ta gọi là “thầy hít” hả?

– “Thầy hít” là thầy gì?

– Là thầy hít chớ còn thầy hít gì nữa. Cái vó của cha còn tốt lắm! Mùa Thu mà như ông là ăn trùm phé thôi!

– Con nhà pháo không xông xáo bằng bộ binh.

– Chắc không phải thiếu úy chăn bò như tôi. Nè, cô chị đã một lửa rồi. Còn cô em khớ lắm. Ngặt nó hay gác máy bay. Hồi tôi mới về tôi cũng cà rà mấy ngày, sau hỏi ra mới biết cô Lụa đã có chồng. Tôi bèn cưới vợ cấp tốc bên Thanh An. Còn cô Là xã đội phó phải thế lắm, nhung các ông nhà mình toàn là chưn xanh mắt ếch không rớ được. Ông vô đi.

– Để thong thả!……… Chưa lấy “độ” mà bắn “cấp tập” thì sợ uổng đạn.

– Ông “rùa” thì người ta quơ mất.

Tôi quay lại vấn đề cờ quạt.

– Vụ treo cờ ra sao?

Bỗng có tiếng gọi từ trong nhà, Thêu bảo:

– Ông thầy… gọi đấy. Ổng là Thầy Hít số một vùng này.

Tôi và Thêu vào nhà thì thấy người đàn bà đem treo một sào “chiến lợi phẩm” Mỹ ở trước cửa. Bình toong nhôm chen với dây dù, dây nịt, thi sắc đẹp cùng vải dù toàn made in USA, thứ hàng chiến lược mà ở chiến khu, cán bộ gặp thì giá mấy cũng mua.

Tư Thêu vô nhà còn tôi đứng lại ngoài thềm ba lựa chọn để mua vài món. Trước nhất là bình toong và dây nịt mà tôi mới vừa cho Tuyết Trinh, và một miếng vải dù. Miếng vải của tôi đã tặng cho Thu Hà làm kỷ niệm hồi đi ngang qua Phước Long.

Người đàn bà thấy tôi đang ngắm nghía các món hàng thì bước ra đon đả:

– Anh lấy món gì thì lấy liền đi, để chốc nữa đội nữ du kích đi R sẽ hốt hết đó!

– Bao nhiêu một sợi dây nịt?

– Đồng giá, món nào cũng một ngàn, dây dù cũng vậy, hai lọn một ngàn. mỗi lọn hai chục thước. Hai lọn trở thành hai bộ đủ giăng hai cái võng.

Thêu ở trong nhà nói vọng ra:

– Nhận nó làm em nuôi đi chị Sáu! Bán rẻ rẻ để đức lại cho con cháu nhờ, bán mắc quá mai mốt không có bắt được em nuôi nữa đó!

Thêu lại rủ tôi trở ra bờ cau ngồi dồm tàu chơi, nên chuyện mua bán hoản lại. Thấy hắn vui chuyện tôi mua gói Ruby Queen đi ra, khui mời điếu đầu tiên. Thêu vừa phà khói vừa phàn nàn.

– Tôi không tránh khỏi cái kiếp chăn bò!

– Về đây bò đâu mà chăn?

– Để mặt trời sụp rồi bò vàng bò đen ra chật đường cho mà coi!

– Ông ở ngoải ở Nông Trường Lam Sơn hay Xuân Mai?

– Tập kết mười mùa Xuân chăn bò mất sáu! Suýt nữa lấy vợ Mường rồi!

– Đi đâu trên núi à?

– Không! Có thằng bạn ở Ngọc Lặc Thanh Hóa lấy con vợ Mường. Nó còn con em vợ mười sáu tuổi. Nó muốn gả cho tôi nhưng may quá tôi bị “kêu” đi . Nếu không, ở ngoải giờ này đã cạo đầu làm ma Mường rồi. Thoát cái cảnh đó, bây giờ về đây lại chăn bò. Ông thấy tụi uống trà một ván đó không? Toàn là chăn bò cách mạng! Ban ngày thì ăn hút tối lại mới ra nghề. Xe bò hoạt động cũng có chiến lược lắm. Nếu lơ mơ bị nó nhai đầu. Dân chuyên nghiệp ở đây tản cư vô ấp chiến lược hết rồi. Họ không dám ở đây nữa. Chánh quyền và mặt trận, xì, chỉ còn có ông Tư Thiên đó thôi chớ chẳng có ai khác, bắt họ phải bán bò lại cho xã, không cho họ đem đi để sinh sống.

– Sao kỳ cục vậy?

– Kỳ gì mà kỳ. Nhà cửa của người ta, nhảy vô ăn cướp rồi hô chủ nhà là gián điệp, địa chủ v.v… có gì mà kỳ. Không thấy ở ngoài Bắc đó sao? Ăn cướp có pa-tăng!

– Rồi họ có bán không?

– Dám cải lệnh ông “Trời” à?

– Nhiều Trời quá! Đi đâu cũng gặp, nhất đội nhì trời, nhất trạm nhì trời. Vô đây lại gặp ông Tư Thiên. Ai cũng muốn làm trời cả.

– Trời nhớn trời bé! Tư Thiên cũng là trời ở đâu đó. Dân xe bò ngày trước mần ăn được lắm. Chuyên chở hàng hóa từ đây lên Sóc Lào Bà Nhả mỗi ngày được một ngàn, tệ lắm cũng tám trăm. Mình tới cái là sung công chở đêm. Ban ngày bò nằm ì, chớ có sức đâu mà lôi kéo nữa. Vã lại tình hình này có mình đồng xương sắt cũng không dám cho bò ra đường vào ban ngày. Tụi này bây giờ “quản lý” năm con bò vừa mới mua. Một cổ xe, hai con bò giá cả trăm ngàn, nhưng họ phải gạt nước mắt để giá ủng hộ giải phóng năm chục. Chán lắm ông bạn ơi, dân bây giờ họ hổng có mê giải phóng như Vệ Quốc Đoàn thời kháng chiến đâu. Ông ở đây ít bữa rồi cũng biết. Cái bà Sáu Tiệm chủ nhà này sở dĩ niềm nở với bọn tôi là vì bả là cơ sở của ông Thầy Hít. Ổng hít thì bả cũng hít. Ổng càng bỏ tiền ra xây dựng cơ sở thì bả càng cho hít mạnh. Bình toong Mỹ giá năm, sáu trăm thôi, bả hô một ngàn, các ông nhà mình cũng ngữa cổ cho chém! Cỡ Thầy Bảy thì bả xưng “em”, cỡ ông thì bả xưng “chị” , dù em hay chị bả cũng hốt hồn như thường.

– Còn cỡ như ông bả gọi là gì?

– Cỡ như tôi bả nói trỏng,! – Thêu hỏi tiếp – Ở đây chờ gia đình vô chớ?

– Chưa biết!

– Phải có kế hoạch, dù chỉ đi hay ở đâu một buổi. Nó đổ nó chụp bất ngờ lắm. Không có chạy kịp đâu. Ở đây rừng chồi và hẹp chớ không như trên R. Một cuộc hội nghị gì đó ở bên Bến Cát bị nhảy chụp nguyên con đó nghe cha non. Con nhỏ xã đội phó có hầm. Đeo nó cho chắc mới sống. Thằng Một Sơn phải xin hầm của nó để giấu khách đấy! Đường dây đâu có hầm hố gì. Ông Thầy Hít nhà tôi hỏi xin hầm của nó không cho. Lần vừa rồi, Mỹ nhảy, thầy trò chạy như vịt.

– Sao nó không giúp mấy cha?

– Nó ghét Mùa Thu. Hì hì, hổng biết tại sao nó bảo Má Hai đi móc gia đình cho ông?

– Hổng chừng tôi lại bị ghét.

– Ma bắt coi mặt người ta! Con nhỏ này ba gai lắm. Nhưng chắc nó coi chưn coi cẳng ông được rồi đó! Mà nè, tôi hỏi thiệt ông, ông thích nó chưa? Thích mê rồi chứ gì? Mình don don, bụng eo eo, đít nún trái quit, gò má no nê, còn đòi voi đòi tiên gì nữa? Chả bằng mấy chị hĩm à? Có quịt nợ ai ngoài đó không?

– Không. Còn nguyên chất!

– Băm mấy rồi?

– Băm ba.

– Còn trai nheo nhẻo lại thứ thiệt thì có lo gì! Cứng cạy như tui mà cũng chưa phải “hốt ổ” của người ta, ông coi còn khớ khũm mà. Con nhỏ mới mười tám thôi. Tôi biết con chị nó chừng hăm ba. Chịp, nếu tôi về sớm chút nữa thì tôi quơ con chị, thì bây giờ tôi gả cô em cho ông liền da. – Thêu vui miệng nói liên miên – Nè, ông đừng nghĩ rằng Mùa Thu tụi mình là ưu thế nghe! Con gái không mê Mùa Thu một chút nào!

Tôi cười:

– Vậy hồi ở ngoải tôi nghe Ban Thống Nhất nói là con con gái trong mình trừ cho “anh đội tập kết mười tuổi”. Như tôi vầy thì chỉ còn có hai mươi ba tuổi thôi, tôi mừng quá nên bương riết về…

Thêu cười:

– Họ gạt mình đó cha! Chẳng có con gái nào nói vậy hết. Cũng như hồi ở ngoải tôi nghe đài Giải phóng nói, đã giải phóng 3/4, 4/5 gì đó, bộ đội giải phóng toàn là đi đò máy, tôi nôn ruột, đi về riết để trong này người ta “nơ” nguyên mâm mình không có phần ăn!

– Chịp. Thì cũng như hai năm tập kết vậy cha nội ơi.

– Ra ngoài đó, đứa nào đứa nấy “ôm ống” kêu trời. Mười năm con chim không biết gáy. Hì hì… – Tư Thêu trở lại vụ cô xã đội – Tôi làm thổ địa ở đây, tôi biết rõ. Dư luận ở đây chỉ phục có cái gia đình Má Hai. Biết sao không? Con Lụa được một ông Kẹ hỏi ý kiến. Má không gả mà lại gả cho một thằng đánh xe bò. Vợ chồng nó vẫn đầm ấm. Nè, chỗ anh em tôi thương tôi bảo trước. Nó đối xử với ai cũng thân mật hết, do đó có nhiều ông Mùa Thu tưởng bở, bị phỏng tay đó! – Tư Thêu tiếp luôn – Các cha mình chán lắm. Không có ai còn uy tín ở vùng này. Nếu ông về sớm sớm ông sẽ thấy mấy con sâu Mùa Thu làm sầu nồi canh giải phóng như thế nào. Mấy ông nội mình mới về đây phùng sè dữ lắm ông ơi! Có ông xin dừa của người ta không cần móc trèo gì hết, cứ dưới đất móc K54 bắn.

– Bể hết lấy gì uống?

– Bể không có gì cho ông ta uống đã đành, lại còn bể luôn đạo đức, bể luôn công tác dân vận nữa chớ. Bà con người ta bảo chẳng khác gì bọn pạc-ti-dăng thời Pháp. Nói câu đó còn nặng hơn vác tạ gạo.

– Lính mình bị dồn ép lâu quá rồi nổi khùng vậy thôi. Bắn bậy ít phát thì hết khùng chớ gì mà lo!

– Không phải chỉ bắn dừa thôi ông ơi! Phải có ông bữa đó coi! Tôi thật tình muốn độn thổ, mà dọn đi đâu cho được? Con nít, người lớn nghe súng nổ chạy trốn. Chập sau không thấy lính, lóp ngóp đến. Mấy đứa con nít cười: “Bắn dở hơn Mỹ”. Còn người lớn thì nhìn nước dừa chảy ròng ròng mà cười: “Mấy ông bắn cũng hay đấy chớ! Dừa non nhỏ vậy mà bắn cũng trúng. Nhưng uổng mấy viên đạn, không biết nước nào viện trợ?” Nghe câu đó thấm hơn bài học hả?

Tôi làm thinh. Một hồi mới đỡ gạt:

– Mấy ổng ngứa tay thử súng vậy thôi!

Tư Thêu nói như tố khổ.

– Nhưng chưa hết. Còn nhiều vụ lắm. Ông Ba Kính lùn, nhỏ con nhưng cà xấc lắm, quân hàm thiếu tá. Không biết dẫm vô cái ô nào mà bị hạ từng công tác rồi bị trả về I2 đi ngang qua sông Vàm Cỏ bị tàu bắn chìm ghe. Nhưng cũng không danh tiếng bằng Bảy Huyền. Ông ta đúng là Thầy Hít có hạng ở vùng này. Ông ta có vợ có con ngoài thành. Cứ lâu lâu bà ta vô thăm ở chơi cả tuần lễ. Vậy mà hể vắng vợ là ổng quơ bạc mạng cô hồn. Ổng ngủ toàn lựa nhà có đàn bà con gái. Đêm nào cũng mò người ta! Không ai dám báo cáo vì sợ ổng mất uy tín. Đúng ra người ta ngán ổng vì cây súng với chiếc xe Bờ-Rô mới toanh của vợ mua cho. Nhờ chiếc xe đó ổng ông quơ được bà Hai Mẫn, chủ quán dưới chợ An Nhơn Tây. Bà này thuộc loại đệ nhất hạm đội, hơn bà Sáu Tiệm này xa. Tiếng tăm đồn quá xá, ở trên phải thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi đảng, hạ hai cấp. Ông ta bất mãn hẹn hò với bà kia, hai người dông ra thành. Thế!

Tôi giật mình:

– Có chuyện động trời đó nữa sao?

– Thượng vàng hạ cám, chuyện gì mà không có? Dũng sỉ cũng dông như thường. Nhưng để đó, hạ hồi phân giải. Bây giờ để nói vài trường hợp dẫm vô cái ô thứ hai cho ông bạn nghe mát lổ tai chơi. Mới vừa đây có ông Năm Tiều làm một cú cũng nổi đình nổi đám lắm. Ông ta có vợ có con hồi chin năm Thằng con trai mười ba tuổi. Cơ quan đóng ở nhà bà má có đứa con gái. Ông ta bắt chuỗi rể sao đó mà cô ta mang bầu. Ông ta chịu thiệt. Cơ quan phải tuyên bố. Ở vùng này có câu ca dao:

 

Tháng này ở dưới Gót Chàng.
Tháng sau thì đến với nàng Hòa Đông.

Cũng chưa hết. Xong vụ Năm Tiền tới vụ Hai Giả. Ông này cũng có vợ con đùm đề ở trên Hóc Môn. Vợ vô thăm mua đài, xe đạp đủ các thứ, toàn thượng hảo hạng, ai trông thấy cũng lé mắt, cứ vài tháng bà vượt Cầu Bông lên đây “dưng dưa” cho bệ hạ vài ngày, nhưng ăn quen nhịn không quen, hễ bả về thì ông ở trên này xả cảng hoạt động. Ổng có tật “súc miệng” bằng Ba Xị Đế. Cho nên ông ta quơ bà Chín Kiểu nấu rượu ở Bến Mương. Nhờ đó ông ta tha hồ “súc miệng”. Rồi bà cũng có thai và phá thai. Hiện ổng đang bị đình chỉ công tác chờ kỹ luật. Nói lằng nhằng mãi cũng không có hết đâu. Nhưng đó chỉ là chuyện mấy ông nhỏ. Còn mấy ông lớn cũng chẳng có thua gì, nhưng phải giữ gìn uy tín cho mấy ổng.

Đến đó thì có hai người đàn bà rẽ vào mối đường. Tư Thêu nói nhỏ:

– Người của mình ở dưới tàu lên! Để tôi tiếp chuyện.

Tôi trở vào nhà đứng trước thềm ba săm soi mấy món chiến lợi phẩm của chị Sáu Tiệm. Chị vồn vả:

– Cậu mua đi, tôi để vốn cho. Ở vùng này cần các thứ đó lắm. Nhất là cái bi-đông. Rủi gặp lúc tụi nó “khui”, ở dưới âm phủ hai ba ngày lấy gì uống?

Quả thật, đồ tốt quá. Thứ nào cũng “ô-rin” cả. Lương thực vũ khí của nómình mua dùng đánh lại nó khoẻ re. Đánh bao lâu mà không được?

– Cậu nhờ người móc gia đình hả?

– Dạ.

– Ở đâu?

– Dạ ở Sàigòn.

– Vậy thì dễ lắm. Ngày đi ngày về. Rước mợ hả?

– Dạ tôi đâu có mợ miết gì.

– Ở ngoài Bắc cả chục năm mà ở vậy được à? Nge mấy ông nhà mình nói con gái Bắc đẹp lắm!

– Đẹp thì cũng có đẹp nhưng ta về ta tắm ao ta vẫn hơn.

– Ao ta có người tắm hết rồi.

– Chị làm mai được không?

– Tôi đâu có biết ai mà mai mối. Ở đây chỉ có một chỗ thôi. Nhưng con nhỏ này gác máy bay dữ lắm. Cỡ cậu chắc…

Vừa đến đó thì y như kịch diển trên sân khấu, nhân vật bước ra.

– Anh Hai ơi! Đi về!

Nghe tiếng quen tôi ngó lại. Thì ra Là. Tôi hỏi:

– Má xuống tàu rồi hả em?

– Xuống rồi. Thôi đi về. Em còn nhiều công chuyện lắm.

– Em coi dùm mấy món này chút để anh mua.

– Tiền đâu mà mua! Ai biểu đang đeo trong mình thấy mấy cô đi R xin là cho ngay.

– Ừ! thì người ta cần mà em!

– Cho người ta nên bây giờ phải mua với giá siết họng!

Thấy Là có vẻ phật ý tôi chỉ mua hai lọn dây dù với lý do là đem về giăng võng cho bé Rớt ngủ. Bị Là phản đối tôi không dám mó món gì khác. Tôi là một người khách vô kỷ luật mất rồi. Từ R xuống trạm, đáng lẽ phải ở tại trạm chờ chuyến đi về cơ quan, đàng này lại bỏ trạm cà nhỏng ra “vùng meo” thế này rủi có chuyện gì ắt bị kỷ luật. Bây giờ sinh mạng tôi nằm trong tay của cô xã đội phó này. Cho nên tôi không dám cãi lời cô. Cô bảo đi là đi, cô bảo chạy là chạy, cô bảo chui là chui mà. Ngoài cái quyền xã đội kia, cô còn có cái quyền em nuôi nữa. Mà là em gái.

Nhưng bà chủ tiệm cứ xơn xớt cái miệng, kéo níu:

– Anh Hai, ủa cậu Hai có chê thì tôi tìm thứ “cước cạnh” hơn cho. Cái bình toong này có móp một chỗ. Móp thì móp, có sao đâu mà! Đựng nước không chảy thì thôi phải không cô xã đội. Thiếu gì cái tốt mã, tròn trịa không móp méo mà đựng nước chảy re. Cậu Hai muốn thứ nào?

Là cười khảy, nói trỏng trơ:

– Ở nhà có rồi còn mang chi thứ đó nữa! Thôi đi về anh Hai!

Sáu Tiệm cười thơn thớt.

– Coi chừng cái ở nhà lâu quá không xài nó thủng rồi mà không hay! Ủa, cô xã đội quen với cậu hồi nào vậy cậu?

– Ảnh là con của má tôi, là anh của tôi.

– À, vậy hả? Cơ khổ, vậy mà tôi đâu có biết! Bị má có nhiều con quá mà! Con mùa Thu, con mùa Đông, con đại tá, con đại úy, còn cô cũng có nhiều anh quá… nên tôi không biết hết. Xin lỗi nghen.

– Con đâu mà nhiều. Má tôi chỉ nhận ảnh là con thay cho anh Hai tôi hi sinh năm 1946 ở trận Bến Súc.

– Vậy nữa, tôi đâu có biết!

– Hồi đó chị chưa ra đời, biết sao được.

– Tôi không biết mà cô xã đội biết, thiệt là tài! Cho nên gọi bằng anh, sợ còn hơn ru…ột đó!

Tôi thấy cuộc đối thoại có mầm bùng nổ to hơn nên can gián, cố ý bênh vực cho cô em gái của mình:

– Tôi được má nhận làm con nuôi đó chị Sáu.

Chị Sáu nhìn chằm chặp vào Là:

– Vậy tốt lắm! Chuột sa hủ nếp rồi đó! Hì hì… thôi đi về đi để cô em hờn mét má đánh đòn! Mai mốt có đi ngang đây thì ghé uống trà. Tôi có rượu nếp than nữa! Cô xã đội bữa nay ăn mặc đẹp quá. Quần áo này chui xuống hầm hỏng hết!

– Nè, cậu hai muốn bình toong không chảy, tôi kiếm dùm cho. Mai mốt ghé lại thì có.

Là đi vun vút như gió bỏ tôi một khoảng xa, tôi kêu hai ba lần mới đứng lại. Thấy nét mặt Là vẩn hầm hầm, tôi kiếm chuyện dã lã:

– Tàu chở đông người không em?

– Đông lắm!

– Bao nhiêu một cái “vé” (Tôi phát âm theo tiếng Bắc)

– “Dé” gi?

– Vé đi tàu!

– Giấy mà nói “óe óe”.

– Ừ thì “dé”, ủa “giấy”.

– Ai có đi tàu mà biết.

Thấy cô em giận dỗi, tôi suýt bật cười. Nếu tôi không vào cái quán này thì mọi sự êm rơ. Đàn bà con gái có những cái giận như vậy đó. Đàn ông phải hiểu. Tôi bèn đánh trống lãng:

– Bữa nào em cho anh xem hầm được không?

– Cũng vậy thôi, có gì mà xem!

– Anh đâu đã xuống lần nào mà “cũng vậy”.

– Để hôm nào tiện.

– Em có bao nhiêu thước hầm?

– Chục rưỡi gì đó!

– Trời đất! Sao anh nghe đài nói là du kích mỗi xã có vài cây số hầm.

– Đài nào?

– Đài nào em biết mà!

– Mấy ông đó biết cái hầm ra sao mà cứ nói. Đào một thước hầm đã gãy tay rồi nữa là mấy cây số!

Đang đi bỗng Là đứng lại nhìn tôi với cặp mắt rực lửa. Tôi khựng lại, nghe như một loạt “tiểu liên” ria ngay vào ngực một cách êm ái:

– Bả mời anh mai mốt tới uống trà, uống rượu nếp than, hút thuốc thơm.

– Người ta mời xã giao mà … em!

– Anh có định tới không, sao không trà lời để bả chờ?

– Chậc! Anh gặp thằng bạn quen về hồi 62 mà. Nó thấy anh đứng xớ rớ ngoài đường nó lôi vô nhà đó chớ, đâu phải tự nhiên mà anh dám bước ra khỏi vòng phép của em.

– Anh quen ông nào?

– Tư Thêu.

Tôi thấy nét mặt Là hơi giản ra nên lại tiếp tục đi tới.

– Ai chớ ông đó thì được. Ổng có vợ con đàng hoàng. Từ đầu Đồng Khởi tới giờ không mang tiếng.

– Ảnh giới thiệu cho anh một người.

– Người gì?

– Người con gái.

– Xí!

Là đang đi bỗng quay lại “xi” một tiếng rồi ngoe ngoải bỏ đi, vượt tới trước! Tôi cười và đi nhanh theo, trêu tiếp:

– Em biết người con gái đó không?

– Hết con gái tới đàn bà, hết đàn bà tới con gái. Các ông thì vậy thôi. Văng râu rớt mão cũng vì ba cái đó.

– Mía sâu có đốt nhà dột có nơi nghe cưng!

– Thì em có quơ đủa cả nắm đâu. Em chỉ nói mấy ông đó thôi.

Là dịu dàng trở lại. Tôi cũng tìm cách bao che cho mấy đồng chí nhà mình và vớt vát cho cái mặt mình bị đen lây.

Tôi nói:

– Em phải thông cảm cho họ. Bốn mươi ngoài cả, xa vợ chin mười năm rồi.

– Xa thì về gặp rồi. Gặp rồi mà còn vậy. Xa thì bậc nào?

Tôi đành lặng im.

Trời mưa nắng gắt. Nắng chớp sao trên cánh đồng còn lởm chởm những mô rạ cùn. Đất cát pha đất đỏ nâu nhạt, khô cứng. Không giống như đất đầy phân lá nâu đen miền Tây hoặc đất màu mở Tây Đô ở những nơi mà tôi đã đi qua. Đất Củ Chi hơi giống đất Bắc Giang Bắc Ninh. Tôi đi theo chân cô du kích mà lòng miên man nghĩ ngợi nôn nao, nhớ nhung, nhưng không biết nghĩ ngợi nhớ nhung ông bà ông vải gỉ mà thấy mình lâng lâng như mây gió bay đi bốn phương vô định.

Nhìn cánh đồng rộng trải ra trước mắt tôi lại thấy tôi trôi ngược về Xuân Mai, Ba Vì, Lam Sơn là những vùng rừng núi chập chùng. Ở đó những người lính Nam Bộ thay vì ở cơ binh quân ngũ, lại đi đón gỗ, chăn bò, nuôi heo, trồng cao su, trồng mía còn hơn tù khổ sai hơn hồi chín năm! Bây giờ ở trên đang cần ngực Nam Kỳ đở đạn, xương Nam Kỳ bắc cầu, da Nam Kỳ bọc ghế để bọn chúa đất Bắc Kỳ ngồi thì dân Nam Kỳ mới được vinh quang rời chuồng bò cũi lợn, rời rừng hoang, vượt núi về quê để đưa ngực ra…

Tư Thêu, tên thiếu úy chăn bò chỉ là một trong cái đội quân Nam Kỳ lốc nhốc đó. Gần bốn mươi tuổi mới được cưới vợ và lại chăn bò. Nhưng chăn bò ở đây dù sao cũng khỏe hơn. Tôi đã từng thấy những chú bò xe đứng trong bóng mát thầm lặng nhơi cỏ. Những con bò béo tốt và khỏe mạnh với “cục cổ” có thể kéo cả quả núi Ba Vì. Khi leo thang ra miền Bắc bằng Không Lực, Tổng Thống Mỹ đã tuyên bố sẽ cho Hà Nội trở lại thời kỳ gổ đá. Thì rõ thật! Ở đây “Ngụy” đi máy bay tàu thủy xe hơi còn mình thì đi xe bò. Nhưng rồi đây xe bò cũng không được tự do thênh thang. Chúng nó đi guốc trong bụng mình. Chúng nó đâu có để bò tải gạo cho giải phóng ăn no rồi đánh lại chúng . Một đồng một cốt như nhau. Mỹ cũng theo chánh sách của Pháp.

Hồi kháng chiến trước, Pháp nó bảo: Bắn chết một con trâu bằng cắt đầu mười tên Vệ Quốc Đoàn. Hồi 1948, tôi ở vùng Rừng Sát xã Lý Nhơn, chúng nhảy dù xuống bao vây Trung Đoàn 300 của Dương Văn Dương, và Tiểu Đoàn 305 của tỉnh Gò Công thuộc chiến khu 8. Hai đơn vị này phải mở đường máu rút chạy, Tây gom tất cả trâu vùng này có đến trên hai trăm con rồi xã súng bắn chết sạch hết. Xác trâu nằm đầy ruộng. Dân chúng lẫn lính Vệ Quốc Đoàn tha hồ mà xẻ khô. Nhiều quá lấy không xuể, thối oăng, lớp thì chất rơm đốt, lớp thì lôi bỏ xuống hố, gọi là Mã Trâu.

Bỗng nhiên tôi hỏi Là:

– Tại sao gọi là Hố Bò hả em?

– Em không biết gì đâu. cũng như Củ Chi, Bến Dược, Sóc Lào vậy thôi.

– Không phải đâu! – Tôi đặt chuyện để xóa đi nét cau có trên gương mặt hồng tươi xinh xinh của cô gái. – Người ta gọi Hố Bò là vì hồi sau khi mình thua trận Bến Súc, Tây nó gom bò lại rồi bắn hết. Chỗ đó là một cánh đồng. Nên người ta gọi là Đồng Bò rồi sau này mưa trủng xuống sâu, ta gọi là Hố Bò.

Là tưởng thật, hỏi:

– Còn Bến Dược?

– Ban đầu nó là Bến Nược. Vì bờ sông Sàigòn có cái bến cá nược thường đến. Hễ người đứng trên bờ gọi to: “Nược, nược, đua bớ nược!” Thế là cặp cá nược nổi lên bơi đua với mình đi trên bờ. Về sau Bến Nược hóa thành Bến Dược.

– Em đâu có biết cái chuyện đó! Còn Củ Chi?

Tôi bí nên gạt nhẹ.

– Chuyện đó dài lắm. Hôm nào xuống hầm nghỉ ngơi anh sẽ kể cho em nghe!

– Vậy em cho anh xuống hầm bây giờ nè!

– Anh thích xuống hầm cho biết.

– Em sợ anh xuống rồi trồi lên không kịp chớ thích gì.

Đang đi trên đường, Là bỗng rẽ vào một lối mòn dẫn vào một khu rừng chồi. Vừa đi, Là nói:

– Hồi Mỹ mới tới Dĩ An, Đồng Dù em ớn lắm, nhưng sau vài trận bom, em thấy tụi nó dở lắm. Nó bỏ không chết gì ngoài ba con cóc nhái với ểnh ương.

– Giởn hoài em. Khúc đường 15 từ Hố Bò xuống tới An Nhơn Tây tan thành bùn thì sao?

Là nghênh mặt:

– Cái đó là B52 mà anh.

– B52 cũng thả bom chớ thả gì?

– Nhưng mà nó thả hằng loạt, chứ không thả như tụi kia. Em chỉ ngán B52 thôi. Hễ B52 trải thảm thì trời cứu! Còn tụi kia, em nói thiệt, L19 bắn trái điểm rủi có ngay em, em cũng phóng khỏi. Vì phải ít nhất hai phút bom từ phản lực mới rơi tới đất. Em đã tập trận giả với tụi con Mô rồi. Hai phút em chạy ít nhất nhất là một trăm thước, nếu đất bằng em chạy một trăm năm chục thước, bom liệng không kịp.

– Rủi bom rơi ngay thì sao?

– Đó là trường hợp rơi ngay.

– Làm sao em biết bom rơi ngay mà chạy?

– Thấy nó như cái dĩa và to lần bằng miệng thúng. Đó là rơi ngay. Còn thấy nó như khúc mía rời, dài bằng cây gậy đó là rơi xa. – Là liến thoắng trỏ về Hố Bò – Anh trông kìa, cái vệt trắng trắng đó là cái nhà Mủ của đồn điền cao su hồi trước. Máy bay đánh nát hết chung quanh, cả rừng cao su cũng nằm mẹp, nhưng cái nhà mủ còn nguyên.

Tôi cười:

– Không phải nó dở đâu. Nó để cái nhà đó làm điểm chuẩn bỏ bom đó.

Là trố mắt:

– Vậy không phải nó bỏ bom trật á?

– Không đâu em.

– Chuẩn là gì?

– Tức là dùng cái nóc trắng để tìm ra những nơi khác. Cũng như em nói “còn một cây số nữa là tới Hố Bò. Hoặc đi khỏi Hố Bò một cây số thì tới!” Vậy đó.

Là cười khoe hàm răng trắng lấp lánh:

– Vậy mà lâu nay tụi em cứ chê lén mấy thằng Mỹ bỏ bom dở.

– Dở gì mà dở. Cầu Miền Bắc nó đánh còn sập tất cả nữa là một cái nhà con đó.

Sẵn dịp tôi cũng cho cô em biết chút khoa học về xạ kích, bắn pháo của tôi:

– Bây giờ nếu ở trên bảo anh pháo Củ Chi anh bắn nát hết cho coi.

– Thiệt không ?

– Sao không ! Đơn vị của anh đã đánh sân bay Biên Hoà đấy. Nói cho cô em biết.

Là ngó tôi trân trân chân vấp mô đất suýt ngã. Tôi chụp lấy tay kéo nàng lại.

– Thời buổi này cái gì cũng phải dùng khoa học hết em ạ. Về trong này chỉ có những con người được huấn luyện chút ít khoa học còn những phương tiện khoa học thì hoàn toàn không có trong tay. Khác nào gà nòi đem đi đá mà cắt đi cặp cựa, võ sĩ lên đài mà bị trói tay.

– Nhưng cũng còn khá hơn chúng em trong này. Mấy ổng xách đầu muốn bỏ đâu thì bỏ, bảo làm gì thì làm nấy, trong tay chỉ có cây CKC thôi, ngoài ra còn mấy hầm chông nữa là hết.

– Nhưng về tinh thần thì các em hơn các anh xa.

Là cười ré lên hồi lâu. Chúng tôi lủi sâu vô rừng. Đất lòi lên những mô đỏ sậm, rải rác những cành cây gãy cúp trên đầu hoặc lỗ chỗ dấu đạn dưới chân.

– Em sẽ cho anh biết mùi hầm Củ Chi!

Nói xong nàng ngồi xuống một lùm rậm, đưa tay vào cào một mớ lá khô.

– Em tìm cái gì vậy?

Là không trả lời. Nàng cúi đầu vào, bị mấy nhánh gai cản mặt, nàng bảo:

– Anh vén ba cái này dùm chút.

Tôi vừa kéo mấy nhánh cây ra thì Là reo lên:

– À đây rồi!

Tôi nhìn qua vai Là nhưng không thấy gì ngoài mấy ngón tay hoạt động của Là, những ngón tay không đẹp cũng không thô. Bỗng chúng dừng lại, Là ngẫng lên:

– Anh thấy nắp hầm không?

– Không!

Là ngồi nhích qua một bên nhường chỗ cho tôi. Tay vẫn đỡ nhánh gai, tôi ngồi xuống. Là đã cào hết đất bùn trên một diện tích vuông bằng cái khay trầu, để lộ ra một chiếc khung gỗ. Là lại lấy ngón trỏ moi moi và lần lượt lôi lên hai cái khoen sắt. Là quay sang, mặt nàng suýt đụng mặt tôi, hơi thở của nàng nóng hổi:

– Hầm này của xã đội xử dụng chung, nhưng cả năm bỏ phế không ai xuống!

Tôi thọc hai ngón tay trỏ vào khoen và lôi mạnh lên. Nhưng ngón tay bị khuyết đau mà nấp hầm không bật. Là nói:

– Bỏ từ Đồng Khởi tới bây giờ, nắp có lẽ đã mục rồi!

Tôi bảo Là tránh ra rồi đứng dậy lấy hết sức bình sanh kéo phát nữa. Lần này thì nắp hầm bật lên để hở một khoảng trống vuông đen ngòm. Từ đó bốc lên một thứ mùi vừa nóng vừa tanh. Tôi phải quay mặt ra ngoài để tránh.

– Đó, muốn xuống cho xuống?

Là hỏi trỏng chứ không dùng tiếng “em” như trước đây nữa.

– Địa đạo gì giống âm phủ vậy?

– Thì nó vậy đó chớ sao?

Tôi thối chí quá nhưng còn muốn biết thêm. Tôi móc đèn pin trong ba-lô rọi rồi nhìn qua…

– Thì xuống đi cho biết!

– Chỉ có vầy thôi sao?

– Thì nó là cái hầm bí mật thôi, nhưng nếu là của tập thể thì đào dài ra, rộng hơn một chút, chớ có gì lạ đâu.

– Vậy sao đài nói là lùa cả bò heo xuống dưới đó được. Cái miệng hầm này có bằng này thì bò chui thế nào?

– Thì bò giấy heo giấy lọt tuốt chớ sao không?

– Hay là có bí mật gì khác, em không muốn cho anh biết?

– Bí mật gì nữa, ba cái hầm bây giờ ai còn xài nữa mà phải giữ bí mật?

– Vậy sao anh nghe nói xuống hầm như ở trên nhà, mát mẽ, khoảng khoác, ngủ trưa đã lắm.

– Vậy nữa?

– Người ta còn nói là hầm có hai ba tầng như nhà lầu vậy.

– Có hai tầng thôi!

– Đó, em giấu thấy chưa?

– Có hai tầng thiệt, nhưng không có mấy ai đào nổi!

– Sao vậy?

– Đào một tầng đã hộc máu rồi anh ơi! Để khi nào chúng em đào hầm mới hoặc chữa lại hầm củ em sẽ cho anh biết. Anh đào thử năm tấc hầm coi có nổi không? Rồi anh sẽ hiểu muốn đào một cây số hầm thì cần bao nhiêu nhân công. Nhưng anh nên nhớ là đào ban đêm lén lút không được dốt đèn không được nói chuyện chớ không phải như phá hoại đường sá ồn ào đâu nghe.

Viết tới đây thì Bagdah bị ăn bom Mỹ. Những tên ngoan cố, ngu xuẩn xâm lược đều đưa quốc gia dân tộc đến một kết quả giống nhau. Năm chục ngàn thanh niên Việt Nam chết ở Cao Miên, Mười ngàn ở Lào để làm gì? Kuwait đã bị chiếm đóng nhưng sẽ được giải phóng trong vài ngày tới. Với cái giá máu nào Iraq phải trả cho cuộc xâm lăng này? Cũng như VC đã trả ở Miền Nam và Cao Miên!

Tôi lắc đầu không chịu xuống hầm. Từ kháng chiến chống Pháp tới giờ tôi chưa bao giờ nếm mùi địa đạo. Hơn nữa nghe Là nói sơ qua, tôi đã thấy ngột ngạt rồi. Lại còn các thứ rắn rết, muỗi, bọ và đặc biệt là “ghẻ”, cái thứ ghẻ có cái tên là “ghẻ xốn” mà tôi vừa nghe nàng nói lúc đi đường, nên tôi cương quyết rút lui.

Đậy nắp hầm, nghi trang trở lại như cũ, Là dắt tôi trở ra đường. Nàng giải thích:

– Đây là cái hầm mấy ổng định dùng để phục kích đánh lính ruồng. Bắn tỉa xong là chạy thụt xuống hang trốn.

– Có đánh được trận nào kgông?

– Đâu có đánh được.

– Tại sao?

– Vì nó đâu có đi bộ mà đánh.

– Không đi bộ thì đi bằng gì?

– Nó toàn “đổ” bằng trực thăng thôi. Có trực thăng thì kể như mình hết ngo ngoe.

– Tại sao vậy?

– Nó bắn như mưa trên đầu. Trước khi đổ nó bắn nát. Trong lúc đổ nó bắn vòng quanh bảo vệ. Trước khi rút nó bắn chận hậu. Mình đâu có phục kích được. Mà có phục kích thì chắc đâu nó đã vào đúng ý đồ của mình? Vì nó đổ bãi trống, có khi nó đổ sau lưng hoặc đổ bên hông, mình co giò chạy không kịp. Vậy cho nên hầm phải bỏ trống. Xài gì được mà xài. Vừa rồi chúng em động viên toàn đội đào ở ngoài đường 15 gần Bến Dược, trên đường xuống An Nhơn Tây. Định sẽ chận đánh một trận nho nhỏ để hâm nóng tinh thần đồng bào nhưng lại bị B52 bỏ

– Trúng ngay á?

– Không, chỉ hơi gần thôi anh ạ!

– Rồi sao?

– Nhưng hầm sụp hết.

– Hầm yếu vậy sao?

– Anh nghỉ coi bom tấn, đất gì chịu nổi?

Là lặng thinh một lúc. Tôi mới vỡ nhẽ ra nhiều điều. Các thứ bửu bối xài thời kháng chiến chống Pháp bây giờ vô dụng hết. Như lựu đạn gài hầm chông…

Là nói đúng ngay ý nghĩ của tôi:

– Lúc nãy em quên, để lần sau, em sẽ dẫn cho anh xem khúc đường 15 bị B52 “cày”. Bùn sục lên như cháo.

– Biết rồi. Anh cũng đã thấy nhiều rồi. Đợi phải cô lên lớp cho sao?

– Anh tính coi bom 200 ký, 250 ký dùi sâu mấy thước?

– Từ ba tới bốn thước.

– Bom tấn dùi bao sâu?

– Chín, mười thước.

Là lắc đầu không nói gì. Hồi lâu, bảo:

– Anh thấy chưa?

– Thấy gì? Bộ trực thăng tới hà?

– Không, em nói chuyện địa đạo kia. Bom khoét sâu từ bốn tới chín thước thì em hỏi anh…

– À…

Là hơi to tiếng.

– Hầm nào chịu nổi. Vậy mà chú Tư Thiên cứ bắt tụi em đào hoài. Đào đã mệt nhưng có đứa nào dám chui xuống đâu. Với bom pháo bây giờ, địa đạo trở thành những cái hòm đất sét. Không biết hồi trước mấy ổng dùng địa đạo như thế nào, chớ tụi em bây giờ chỉ làm hầm bí mật để trốn thôi, không cần dùng để chiến đấu nữa.

– Nhưng tại sao, biết vậy mà mấy ổng bắt mấy em đào hoài?

– Để cho ổng báo cáo lên trên.

Tôi nghe như vỡ ra trong đầu tôi một trái phá. Là tiếp:

– Còn ba cái chông tre nữa. Mấy ổng bắt mỗi nhà phải chuốc một, hai trăm mũi nạp cho xã đội. – Là bật cười ha hả rồi cười ngặt nghẹo – Lính nó đâu có đi bộ nữa mà làm hầm chông? Chỗ nào nó nghi ngờ có hầm có lựu đạn gài nó kêu trực thăng tới bắn dọn đường rồi mới đi, hoặc nó “nhảy cóc”. Tội nghiệp mấy ông bà già ngồi còng lưng chuốc chông!

– Bà con vẫn chuốc à?

– Bí thư ra lệnh là phải chuốc chứ! Nhưng mà họ chuốc mỏng như lá lúa vậy. Hì hì. Ông bí thư có muốn báo cáo thì báo cáo vượt chỉ tiêu, nhưng thứ chông đó chỉ dùng để xỉa răng tốt hơn.

– Trời đất!

– Ở dưới này có cái bệnh báo cáo láo anh ạ. Ấp báo cáo chuốc ba chục ngàn mũi chông, bố trí được hai chục hầm chông và đào được hai trăm thước địa đạo nhưng thực ra chông bó chặt quăng xuống ao “ngâm” hết, địa đạo thì đào được vài chục thước còn hầm chông thì chừng hai ba cái mà làm không bảo đảm. Hồi tháng trước chú Tư Thiên cho bố trí một tuyến hầm chông, không cắm bảng tử địa. Một cô rơi xuống bị chông đâm suốt từ đùi đến mông. Chúng em phải khiêng đi lên quân y viện mất một đêm trời để mổ lấy chông ra.

– Sao bảo chông như tăm xỉa răng?

– Nói cho có trời đất chứng minh, một bó chông trăm mủi, chọn ra được năm, sáu mũi kha khá đem đi cắm được. Nhưng lính bận đồ “trây di” thì chắc đâm trầy da thôi.

– Em nói thật chớ Là?

– Em nói láo mà làm gì? Xã nào cũng thi đua báo cáo cho nên trên huyện tổng kết có đến hai, ba chục cây số địa đạo là vậy đó anh ạ. Em biết mà. Kế hoạch xã đào địa đạo là em đặt ra, em chỉ huy đào chớ ai mà em không biết?

– Rồi em cũng thi đua báo cáo?

Là cười ngất.

– Ai sao em vậy chớ sao… o! Nếu không vậy thì xã em cầm đèn đỏ hoài hoài. Làm sao giữ cờ luân lưu của mặt trận được?

Về tới nhà thì trời đã xế dài. Bé Rớt chạy ra mừng cậu và dì “đi chợ về”. Ở nhà bán quán, bánh trái thiếu chi, nên bé không đòi bánh. Tôi lấy hai lọn dây dù ra xỏ vào đầu võng mắc lên rồi bảo bé lên nằm thử.

Bé Rớt đong đưa cái võng, đạp chân vô cạnh ván lia lịa và hát:

Chiến sĩ ta dầm sương dãi gió. Rét run người, nắng đổ mồ hôi.

Là chọc:

– Chớ không phải “Chiến sĩ ta nằm đâu ngủ đó, ngủ quên giăng mùng muỗi cắn rồi la” à?

Là hỏi chị:

– Cơm xong chưa chị?

– Sao đi lâu vậy?

– Tại anh Hai ghé bà Sáu Tiệm mua dây dù.

– Chèn đéc, có vô đó nữa hả?

Là cười với vẻ mặt không hài lòng:

– Có chớ! Ai tới Bến Dược mà khỏi đặt chân vô đó mua đồ Mỹ?

Mấy ông mùa Thu thấy bình toong với dây dù Mỹ là mê thôi. Xà bông thơm, kem đánh răng… Đồ của Trung Quốc xấu quá. Cái bình toong trông như cái muỗng vừa còn xà bông thơm thì không thơm gì hết.

Tôi hơi nhột, vì các thứ xa xí phẩm này là đồ ưu tiên, đi B và phải là sĩ quan thì mới mua được. Lính chỉ mua đồ nội hóa thôi. Tôi gói kỹ cục xà bông trong ba lô để về quê tặng cho em, cho chúng nó gội đầu biết mùi thơm của xã nghĩa. Hôm qua tôi có cho bé Rớt một miếng xà bông Trung Quốc, hôm nay bị Lụa chê. Nhưng không lẽ cãi lại, Lụa lấy trong quán ra một cục xà bông đưa cho tôi. (Tôi nhận rằng nàng thật tình chứ không phải khoe khoang). Nàng nói:

– Trong này thiếu gì xà bông thơm anh! Còn kem đánh răng thì ôi thôi, thích thứ nào thì mua thứ nấy.

Tôi hỏi:

– Cô thích thứ nào?

Vì nàng có chồng có con, nên tôi gọi bằng cô, còn Là thì bằng em cho phân biệt.

– Chà Và Hynos. – Nói xong nàng đi lấy một cây đưa cho tôi, vui vẻ – Đâu anh xài thử coi.

Rồi Lụa và Là lúi húi dọn cơm. Lụa ở nhà bắt con gà giò làm thịt xé phay trộn với chuối cây bóp dấm.

Là hỏi.

– Ở nhà có ai tìm em không chị?

– Mấy đứa nó tìm mầy đục nước chớ sao không?

– Ai?

– Tư Bò.

Là bật che miệng cười và quay mặt:

– Anh Hai mới vừa cho em nghe sự tích Hố Bò, bây giờ về nhà lại nghe chị nhắc Tư Bò.

Tôi hỏi.

– Rồi sao em cười?

– Kỳ đó đang họp bỗng trực thăng tới bắn. Vì là lần đầu chưa ai quen với sự oanh kích của trực thăng, đứa nào cũng bò lăn bò càn. Nhưng chỉ một mình ảnh là bò giỏi hơn cả bọn. Người ta bò trên bờ, vừa bò vừa chạy ra khỏi làn đạn, còn ảnh thì bò xuống mương, bò tới bò lui không đi tới đâu hết! Đến chừng trực thăng đi rồi, thấy mất ảnh, tụi em trở lại tìm thì thấy ảnh vẫn còn bò lỗm ngỗm dưới mương. Tụi em lôi ảnh lên. Từ đó ảnh có biệt danh là Tư Bò.

Cả tôi, Lụa và bé Rớt cùng cười. Là nói:

– Ở đây ít có ai xài tên thật lắm anh ạ. Như em nói đó, chú Bảy Hốt, rồi chú Bảy Hít, anh Tư Bò là do hoàn cảnh tạo nên. Cũng như trong xã nhiều ông khác có tên kiểu đó. Như: Hai Dợm, Ba Phóng, Tư Đeo, Năm Thỏ, Bảy Lủi, Tám Giỏ, Sáu Sảy… mỗi cái tên nói lên một đặc tính của con người. Từ rày, khi anh được xã giới thiệu ai có cái tên lạ lạ thì anh nên phăng ra tánh tình của họ. Thí dụ như trong trường hợp trực thăng sắp đổ chụp mà anh Sáu Thỏ dẩn đường, anh phải chuẩn bị cặp giò thì chạy mới kịp.

– Còn Tư Đeo?

– Là anh ta đeo anh dính như đỉa vậy.

– Chắc anh giống Tư Đeo quá! Anh mới về đường đi nước bước còn lạ thì anh đeo người ta chứ đâu có ai thèm đeo anh!

Lụa cười:

– Có nhiều người sẽ đeo anh cho mà coi!

– Úy trời đất! Đeo anh đặng mà chết chùm.

Tôi sực nhớ chập tối ngồi nói chuyện với má ở ván trước, tôi có ngó lên bàn thờ thấy một tấm hình bán thân. Vì ánh đèn lờ mờ tôi không nhận ra đó là người trẻ (Anh Điều) hoặc già (có thể là Ba) nên tôi hỏi Lụa:

– Có cúng trên bàn thờ chưa cô?

– Không, má nói anh Điều còn trẻ không có đám giỗ.

– Ba mất lâu chưa cô?

– Hồi chín năm, ổng làm ban tiếp tế, bị Tây ruồng bắn.

– Phải cúng một mâm chớ. Thịt gà xé phay ngon mà.

– Không, gà vịt ăn hoài đâu có cúng. Chỉ cúng ngày giỗ thôi!

– Vậy để anh cúng phần anh. Con cái gì ăn ngon mà không cúng ông bà? Ít nhất anh cũng phải đốt một cây nhang rót một tách nước cho phải đạo. Đáng lẽ anh phải đặt một cái lễ đối với Ba khi bước vào gia đình này làm con của Ba má và làm anh của hai em như anh Điều vậy.

Lụa lẫn Là đều trố mắt nhìn tôi. Có lẽ hai nàng không ngờ tôi làm, nói những lời như vậy. Tôi cũng không hề tính trước. Nhưng bỗng nhiên tôi bật ra ý kiến đó.

Tôi đi xa nhà hai mươi năm không săn sóc cho cha mẹ, không cúng lạy cho ông bà. Khi ở Miền Tây Nam Bộ thì còn thấy đám giỗ trong nhà dân, tôi cũng có hụ hợ bưng mâm rót nước giúp cho gia đình. Nhưng từ khi ra Bắc tôi xa hẳn cái phong tục cổ truyền quý báu đó, hết ở doanh trại đến ra mậu dịch, tiệm nước không còn nhớ gì nữa. Bây giờ về đây tôi được ngủ đêm trên ván gõ, ngó thấy bàn thờ, có mẹ, có em, có cháu. Có bàn thờ, đốt nhang cặm lên. Sung sướng nồng nàn biết bao. Tôi nhớ cái nhà và gia đình của tôi vô cùng. Tôi thấy Lụa quay mặt vào cây cột chùi nước mắt. Chập sau Là bưng lên cho tôi một bát cháo, một dĩa thịt gà, một dĩa rau răm rau thơm và một dĩa muối ớt đỏ tươi trên một chiếc mâm thau nhỏ chùi rất sáng.

– Nè, anh đem lên bàn thờ Ba đi!

– Cảm ơn em.

Tôi bưng chiếc mâm mà ứa nước mắt. Tôi nhớ lại tôi thuở còn bé, lúc còn ở nhà cũng được giao cho việc bưng mâm lên bàn thờ như hôm nay.

Tôi đặt chiếc mâm lên bàn thờ, không biết van vái thế nào, chỉ lẩm nhẩm mấy tiếng: “Xin vong hồn của Ba và anh Hai phù hộ cho gia đình”. Rồi tôi rót rượu, đốt nhang xá hai xá! Là nhắc tôi.

– Phải xá ba xá mới đủ!

Tôi thấy như tôi đã chuộc xong tội lỗi của thằng con bất hiếu trong mấy chục năm trời tha hương. Ngồi lại bàn ăn, tôi thấy mắt Lụa đỏ hoe, còn Là thì chế diểu tôi:

– Anh xá coi không gọn bằng con Rớt.

Tôi cười:

– Anh quên mất hết rồi!

Lâu quá tôi không hề có một bữa cơm gia đình. Toàn ăn giật ăn chạy, ăn đói ăn kém, toàn nhậu nhẹt phá trời phá đất, không hề có được một bữa cơm ở đó má giẻ trứng cá cho con và vợ chan chén cơm đưa cho chồng.

Cơm ngon không chỉ vì thịt cá.
Râu tôm nấu với ruột bầu.
Chồng chang vợ húp gật đầu khen ngon.

Cái triết lý bình dân đó vô cùng vĩ đại.

Lụa gợi chuyện trước:

– Anh là Mùa Thu sao anh không giống mấy anh Mùa Thu khác vậy?

– Ai biết đâu!

– Cái chòi của tôi có cả trăm anh tới lui ăn ở trong nhà, nhưng thấy anh khác hết.

– Khác sao?

– Anh biết lấy. Tôi không nói được, nhưng thấy anh thương con Rớt. Mà nó cũng mến anh. Má cũng thương anh. Hồi nào tới giờ má không có bỏ nhà đi đâu cách đêm. Anh là nhứt thứ.

Cơm xong tôi đem trà rót lên bàn thờ rồi ra sân chơi với bé Rớt. Rớt sún răng chưa tới tuổi thay răng, mà vì nó ăn đường, kẹo nhiều quá! – Tôi đoán vậy – nên siếc ăn gần trụi hết hàm trên. Có lẽ thiếu tình cha, nên nó cứ đeo theo tôi. Nhờ nó tôi biết thêm mấy anh bạn mùa Thu nữa vẫn thường đến đây mua hàng và nhiều chuyện vặt giúp cho tôi hiểu ra những vấn đề lớn. Tội nghiệp, ba nó đi Thanh Niên Xung Phong. Ở trên hứa sáu tháng sẽ về, nhưng đã trên một năm. Xe bò ở nhà không ai đánh phải cho mướn rẻ. Đó là nguồn sống của gia đình của Lụa. Thơm (ba Rớt) đi, nhà cửa bỏ phế, vàch phên trống lổng, cái nhà hóa thành trạm thường trực của đường dây khu IV. Lụa phải đi đốn cao su trong vườn cao su bỏ hoang ở Hố Bò đem hầm than để bán cũng tạm sống được, nhưng từ ngày B52 cày nát đoạn đường 15 gần đó thì việc hầm than bị ngưng, Lụa không có việc làm nên sống đắp đỗi nhờ sự giúp đở của má.

Đang đứng trước sân, bỗng nghe “cụp, cụp” Tôi nghểnh cổ ra nghe để đánh hướng đạn đi. Rớt mau miệng nói ngay.

– Pháo Trung Hòa bắn đó cậu!

– Sao cháu biết?

– Nghe “cụp, cụp” là pháo Trung Hòa. Nó bắn không tới đây.

– Vậy xa tới đâu?

– Dạ tới Rừng Làng, còn pháo Đồng Dù thì mới đi xa và nhiều.

– Làm sao cháu biết pháo Đồng Dù?

– Dạ, nó bắn nghe lụp bụp liền liền chớ không có từng tiếng, hai ba tiếng là hết.

– Nó bắn xa tới đâu?

– Dạ, nó bắn tùm lum, đâu cũng tới hết á!

– Có gần nhà mình không?

– Có chớ, ở sau vườn, đằng góc sân nữa kìa!

Bé Rớt vừa nói vừa lôi tay tôi đến cuối sân. Gần gốc vú sữa có một cái hố con cỏ đã mọc phủ. Thân vú sữa có một vết thương to. Võ cây bay mất lòi xương nhưng cũng đã lành. Một bên tàng lá bị xén ngang như một mái tóc cắt ẩu. Tôi cảm thấy đau. Quê hương là cái gì cụ thể. Là không khí là đất là sông rạch, bờ dừa, hàng cau, mái nhà. Ai có thể hiểu được nghĩa của hai tiếng Quê Hương mà không qua những hình tượng đó.

Khi tôi ra đi sân sau nhà của tôi có hai cây vú sữa trắng do chính tay ba tôi trồng. Nhà tôi có những hàng cam mật vừa đơm trái chiến oằn cành, nhưng tôi không để ý, thậm chí cũng không hề hái một trái cam ăn. Mà chỉ mê đi theo bộ đội. Vì ham hai tiếng Độc Lập Tự Do thiêng liêng.

Một thế hệ đã ngã gục xuống đất, hai tiếng ấy vẩn còn chập chờn trước mặt tôi. Từ xa tới xa. Tôi hỏi Rớt:

– Vú sữa chừng nào chín, cháu?

– Con không biết. Má nói gần Tết hái chưng trên bàn thờ ông ngoại.

– Vú sữa này là vú sữa trắng hay vú sữa tím vậy cháu?

– Dạ cháu quên rồi.

– Cháu có thích ăn không?

Bé Rớt lắc đầu. Tôi hỏi tại sao? Bé nói ăn vú sữa miệng dính mủ má bắt rửa xà bông đau quá hà.

– Vậy cháu thích ăn trái gì?

– Cháu hổng thích ăn trái gì hết, cháu thích ăn kẹo, bánh, kem …

– Gì nữa?

– Nước đá, xá xị.

– Thích gì nữa?

– Cháu thích cái hộp sữa con chim đâm thủng rồi kê lên miệng hút.

– Trường cháu đông học trò không?

– Dạ đông mà bây giờ ra ấp chiến lược hết rồi.

– Sao cháu biết?

– Dạ, lâu lâu mấy đứa về đây rồi trở ra liền.

– Sao vậy?

– Nó nói ở trong này bom pháo chết, còn ở ngoài đó học không phải ngồi dưới hầm.

Trời chiều bảng lảng buồn tênh. Cảnh vật màu chì. Dăm chiếc trực thăng hiện trên nền trời. Đèn chóp của nó tựa hồ những con mắt nheo như chế diễu gã pháo binh: “Ê, muốn chơi thì lên tiếng nhé. Sẽ biết tay nhau!” Vài ba ngọn hỏa châu vụt lên nền trời đứng sửng và tua ra những tia sáng li ti như những mặt trời đêm mọc loạn xạ cùng khắp.

Bé Rớt giơ cánh tay nhỏ xíu trỏ các điểm sáng giáp một nửa vòng tròn:

– Đó là Bến Súc, Bến Cát, Trung Hòa, Trảng Bàng. Chỗ sáng nhất là Đồng Dù.

Vâng, đó là tử thủ của tôi trong vòng năm năm, 1965-1970. Ở nơi cái quận có cái tên là Củ Chi này tôi đã từng sống từng chết, từng thắng, từng bại, từng vui từng buồn, nhưng tất cả đều vô nghĩa lý đối với cái thằng Lôi.

—->Chương 4

Advertisements
This entry was posted in Dương Đình Lôi & Xuân Vũ, Hồi-ký - Bút-ký. Bookmark the permalink.