Kim Vân Kiều tân truyện (Hoàng Thị Bích Ti)

Chương V

Ngay hôm ấy; đùng đùng một xe Liên Xô, một bầy tôi tớ, Hoạn Thư đem ngay Thúy Kiều lên chùa. Chùa nằm trong một vùng quê phong cảnh hữu tình. Trên lối tam cấp dài dẫn lên chánh điện la liệt ăn mày. Người phong cùi lỡ loét có, trẻ nít có. Những người bán nhang đèn nhơn nhỡn khắp nơi. Đám hàng rong nhộn nhịp, người kêu kẻ réo. Những tay thợ chụp hình, đeo máy ảnh, tiú tít chào mời du khách. Bậc thang cuối cùng dẫn vào khoảng sân chùa rộng. Một lư hương khổng lồ, nghi ngút khói đặt dưới chân tượng Quán Âm giữa sân. Một cái bàn gỗ kê dưới bóng cây có mấy người ngồi đó, có cả người mặc quân phục đang thu tiền bán vé. Mỗi vé vào chùa là mười ngàn. Một bầy con nít chín mười tuổi đang bu theo du khách xin tiền. Có tới mấy đứa bồng trên tay một đứa bé khoảng chừng hai, ba tuổi. Đứa nhỏ nằm thiêm thiếp. Tay chân xụi lơ. Mặt mày đỏ au au. Thúy Kiều xót xa, quay đi. Hình ảnh bầy con nít ăn xin này Kiều đã thấy cùng khắp chợ An-Đông, chợ Bến Thành. Báo chí nói đây là một tổ chức của xã hội đen; chuyên thuê, bắt con nít về rãi ra khắp đường phố để ăn xin đem tiền về cho chúng. Những đứa nhỏ được bế trên tay lúc nào cũng ở trong tình trạng hôn mê vì thuốc ngủ. Chúng bị những đứa khác bồng đi dãi nắng, dầm mưa hết ngày này sang ngày khác. Có đứa còn bị bẽ chân tay, trở thành phế nhân, lê lết hết đầu đường xó chợ. Chỉ mấy bầy con nít và một lũ gian manh mà nhà nước bó tay, dẹp không nỗi, giải phóng không nỗi, thì nói chi đến chuyện trên trời dưới biển!

Hoạn Thư cùng đám tùy tùng đưa Thúy Kiều đi vòng phía sau, vào dãy nhà ngang. Một vị sư nữ bước ra chấp tay, chào đón. Hoạn Thư hỏi xổng:

“Ông sư trụ trì đâu, tôi có việc gấp.”

Như đã biết trước Hoạn Thư là ai, vị sư nữ chấp tay, giọng nói nhẹ nhàng thanh thoát:

“Mô phật! Sư phụ của bần ni nhập thất mấy hôm rồi, hiện thời không thể tiếp ai. Mọi chuyện sư phụ đều giao cho bần ni gánh vác.”

Hoạn Thư cau mày, sẵn giọng, làm bộ hỏi:

“Bà nà ai?”

Vị ni cô lại nhỏ nhẹ:

“Mô phật! Bần ni pháp danh là Giác Duyên.”

Hoạn Thư thở hắt:

“Thôi được, tôi đang vội lắm; không thể nhì nhằng được đâu. Đây có ni cô trẻ này từ chùa khác mới đến, pháp danh là Trạc Tuyền. Tôi giao cô ấy cho chùa đây ‘xử ní.’

Ni cô Giác Duyên ấp úng:

“Thưa thí chủ, sư phụ của tôi từ lâu rồi không nhận môn đồ. Chuyện này tôi không thể tự tiện to gan.”

Hoạn Thư gắt:

“Đây là nệnh trên đưa xuống! Nếu không bằng nòng thì nên đó mà thưa!”

Nói rồi cả bầy quày quả quay ra, không thèm nhìn tới Thúy Kiều. Cả bọn người ồn ào bỏ đi khuấy, Giác Duyên thoắt ngắm Thúy Kiều, rõ ràng là người thanh thoát. Dáng dấp đoan trang ví như cánh hoa vương giả lạc vào giữa chợ. Như ngọc quý bị vùi trong đất cát. Gíac Duyên liền ôn tồn hỏi:

“Chẳng hay ni-cô tu ở chùa nào?”

Kiều cúi đầu thưa:

“Dạ, lúc trước theo học ở chùa Phúc-Kiến trong Chợ Lớn. Chỉ mới có pháp danh, chưa kịp qui y thì chẳng may, chùa bị phong toả. Vì ngài trụ trì là thành viên của PGVNTN lại thêm gốc gác ba tàu cho nên bị đuổi về nước, giờ chúng tăng cùng đệ tử phải lưu lạc khắp nơi.”

Giác Duyên trầm ngâm:

“Mô phật! Phải duyên thì ở lại đây mà tu học, chờ khi nào gặp sư phụ thì qui y cũng không muộn. Chỉ có điều, chùa bị nhà nước quản chế mấy năm nay cho nên tất cả tăng ni đều cuốc đất trồng rau để sống qua ngày. Mọi sự đi lại rất khó khăn, muốn ra khỏi khuôn viên nhà chùa đều phải có giấy phép của công an.”

Thúy Kiều vâng dạ. Thế là từ đó, Thúy Kiều nương náu cửa chùa. Ngày ngày tưới nước trồng rau. Khoai sắn độn cơm cứ thế cũng quen dần. Gần mực thì đen, gần đèn thì…chói; lại thêm sẵn được ăn học đàng hoàng trước ngày giải phóng cho nên chẳng bao lâu Thúy Kiều tu học rất tấn tới. Mỗi tháng, sau ngày rằm; Hoạn Thư cho người lân la tìm Kiều lấy báo cáo. Báo cáo nào cũng không khiến cho người của Hoạn Thư vừa lòng. Hắn luôn miệng cầu nhầu:

“‘Hòm công đức’ lâu nay lưng quá, trong khi tiền bán vé lại nhiều. Điều ấy chứng tỏ là người ta vẫn đi chùa. Nhưng lại không cúng tiền là làm sao? Có phải họ đưa riêng cho bọn sư vãi trong chùa? Đồng chí có theo dõi bọn họ không? Có ‘vấn đề’ * không?

Kiều cứng rắn trả lời:

“Thưa đồng chí, các sư vãi trong chùa cuốc đất trồng rau, làm tương, làm đậu hủ bán lấy tiền mua hương đèn và sống qua ngày. Họ bỏ tiền ra thì có chứ lấy vô đồng nào đâu. Hơn nữa, bá tánh bây giờ gạo còn không có mà ăn. Mỗi lần đến viếng chùa đều phải nộp mười ngàn vô cửa. Họ đâu còn tiền nữa mà cúng!”

Tên công an gắt:

“Chuyện này không đơn giản! Hay là đồng chí mưu toan với bọn nhà chùa, muốn qua mặt nhà nước? Còn ông sư trụ trì già kia sao còn chưa ra khỏi thất? Hắn đang toan tính chuyện gì? Bà vãi Giác Duyên có nói gì với đồng chí không?”

Thúy Kiều ngao ngán lắc đầu. Chưa đầy nửa tháng, có thư mời Thượng Tọa Trụ Trì đi dự buổi lễ ra mắt thành lập Giáo Hội Phật Giáo Của Nhà Nước. Sư cô Giác Duyên lựa lời từ chối. Tức thì trong vòng một tuần, cả chùa bị phong tỏa. Thượng tọa trụ trì bị đòi lên phường làm việc hết cả mấy tháng mà chưa thấy về. Sư cô Giác Duyên ngồi đứng không yên. Đêm khuya, kêu Trạc Tuyền đến:

“Nay chuyện đã đến nước này, tình cảnh của chùa thật vô cùng bi đát. Người ta đã buộc vô sư phụ bao nhiêu là thứ tội, lại còn tuyên án tử hình. Oan này sao gỡ cho ra! Chi bằng bây giờ cô hãy trốn đi, để khỏi bị liên lụy.”

Trạc Tuyền thưa:

“Tôi đâu phải là kẻ bất nghì, bất nghĩa. Nay nhờ ơn cứu độ mà học thêm chút kinh điển, hiểu thế nào là hiếu đạo làm người. Tôi đâu nỡ bỏ đi trong hoàn cảnh này, tìm nơi an trú một mình. Dù gì đi nữa, sống chết có nhau.”

Giác Duyên thở dài:

“Trạc Tuyền ơi! Phải chi cô là đệ tử của chùa thì sư cô không lấy làm khó xử. Xin đừng để cho lòng này phải bất an, áy náy. Hãy nghe lời tôi mà mau rời khỏi chốn này. Dưới xóm kia có một bà phật tử tên Bạc Bà, thường hay đến lễ chùa. Sư cô có nhờ bà ra tay cứu giúp cho Trạc Tuyền tá túc qua ngày. Ở nơi đó, ít bị người ta dòm ngó, truy nã. Mọi chuyện đã sắp đặt cả rồi, xin hãy đi mau.”

Thúy Kiều dùng dằng không muốn đi. Nửa đêm, đành phải vâng lời Giác Duyên; đạp bừa lên mấy luống rau sau chùa, leo rào mà thoát thân. Băng hết mấy cánh đồng thì gặp bà Bạc Bà đang ngồi chờ sẵn sau bụi cây. Bạc Bà đon đã, tíu tít đưa về nhà. Ở được vài hôm, Bạc Bà nói:

“Nơi này không an toàn. Mấy hôm nay công an ruồng bố khắp nơi, sớm muộn gì sẽ kéo đến đây. Mụ đây sẽ đưa cô qua nhà thằng cháu trai tên Bạc Hạnh. Nó là một chàng trai vô duyên, bạc phước, tới giờ này vẫn là thành viên của hội trai già chưa vợ. Về với nó, cô mượn danh nghĩa vợ chồng mà ở tạm.”

Không có sự chọn lựa nào hơn, Thúy Kiều đành phải tuân theo. Nào ngờ chưa được nửa tháng, Bạc Hạnh lừa Kiều đến một động điếm trá hình, bán tuốt cho bà chủ động.

Ổ điếm hoạt động nửa hé, nửa mở dưới hình thức quán karaoke, quán nhậu. Đêm đêm khách khứa dập dìu. Quán có nhiều phòng nhỏ, trang bị dàn máy, ti- vi, nệm ghế. Các cô ‘phục vụ’* dập dìu, chỉ cần một cái búng tay là có ngay. Lúc bấy giờ, nhà nước đã mở cửa he hé để cạnh tranh với Thái Lan. Tây ba-lô, Liên-Sô, Đài Loan bắt đầu tìm tới mua hàng, mua người. Và người Việt Kiều gửi tiền về cho thân nhân rầm rộ. Những dịch vụ chuyển tiền mọc lên như nấm. Tiền đô nghiểm nhiên là ‘động cơ’ * hàng đầu trên con đường ‘cải tiến’, ‘mở cửa’ * kinh tế. Chất lượng* nghèo nàn, lại thiếu kinh nghiệm nên hàng hoá xuất khẩu không đủ tiêu chuẩn trên thị trường quốc tế, cuộc cải tiến èo uột, khó khăn. Trên mọi mặt hàng, khâu buôn người là dễ dàng hơn cả. Công nhân được tiếng cần cù, chăm chỉ. Xuất khẩu lao động ra nước ngoài làm nô lệ vài năm là chuyện ‘đời thường’*, là truyền thống lao động là vinh quang! Người đăng ký hoan hỉ chạy tiền, chờ ngày xuất ngoại, không hề biết gông cùm nô lệ đang chờ đón bên đất nước đàn anh. Những cô gái mới lớn trở thành món hàng béo bở cho những tay buôn người chuyên bán gái trinh cho những ông già Đài Loan ma chê, quỷ hờn đem về Tàu làm vợ kiêm tôi tớ cho cả đại gia đình từ già đến trẻ. Không giống chợ heo, chợ gà; chợ người bày ra dưới nhiều hình thức qui mô hơn. Nhiều cô bị đem đến tận khách sạn để chào hàng. Trên thị trường, gái Việt qua mặt luôn cả gái Thái Lan vì rẻ, đẹp, bền. Các cô nào không nằm vào khâu xuất khẩu thì tuôn ra kiếm ăn ở các quán ôm. Cà phê ôm. Karaoke ôm. Vọng cổ ôm. Ngủ trưa ôm. Câu cá ôm và bao nhiêu thứ ôm khác chưa được nhà nước công khai hoá….

Hầu hết dân chơi tới quán Thúy Kiều là công an, bộ đội hoặc Liên Sô, Tây, Đài Loan. Rượu ngon. Mỹ nữ. Thứ nào cũng có. Nếu khách cần người đấm bóp thì quán có nguyên một bầy tì nữ sẵn sàng đấm, sẵn sàng bóp. Đàn ca xướng hát thâu đêm. Từ ngày bị bán vào quán, thoáng chốc Vương Thúy Kiều đã trở thành một Diva lừng danh trong phố. Lời ca, giọng hát khiến cho bao người mê đắm. Ngày kia, bỗng đâu có khách Việt Kiều họ Từ tên Hải từ phương xa ghé qua với một đám khách Mỹ. Đi cùng với đám Từ Hải là đại tá công an khét tiếng Hồ Tôn Hiến cùng tùy tùng của hắn. Phòng tiệc đã bày sẵn bên trong, Vương Thúy Kiều phải đích thân ra tiếp khách. Vừa ngồi xuống ghế, Hồ Tôn Hiến quay ra bảo bà chủ quán:

“Hãy mang ra ba chai XO cùng mấy chục con tôm càng ra trước nhé!”

Đám tùy tùng của hắn xầm xì:

“Chà, tôm càng dạo này khan hiếm lắm! Đắt đỏ vô cùng! Bao nhiêu mùa tôm đều chết sạch cả!”

Hồ Tôn Hiến khoát tay:

“Đây là tiệc chiêu đãi của nhà nước dành cho những người bạn mới của chúng ta, nào phải chuyện đùa! “

Bà chủ quán nhanh nhẩu, cười cầu tài:

“Dạ có ngay,..có ngay. Bao nhiêu cũng có hết! Chỉ có điều giá hơi ‘cứng’* một tí thôi ạ!”

Hồ Tôn Hiến gạt phăng:

“Cứng, mềm’* gì..ì thì cứ ghi vào hóa đơn cho tôi mang về. Giá’ hữu nghị’* của tôi là chuyện khác . Đêm nay bà chủ làm cho khéo đấy nhá! Cái gì ngon và đẹp, mang hết ra cả đây.”

Quay sang Thúy Kiều đang lặng lẽ đứng rót rượu, Hồ Tôn Hiến cười vang, chỉ Từ Hải:

“Thúy Kiều ạ, đây là anh Từ Hải, hiện là kỹ sư điện tử ‘phần mềm’* ở nước ngoài. Hôm nay anh và các người bạn Mỹ này được chính phủ ta mời về nước để ‘tham quan’*. Trong tinh thần hữu nghị, hòa hợp hòa giải, em thay anh mà ‘phục vụ’* anh Từ Hải hết mình nhé!”

Liếc nhìn Từ Hải; đường đường là một người học thức, râu quai nón, vóc dáng phương phi; Thúy Kiều vô cùng đẹp dạ, trong bụng đã thầm khen, vội vàng gật chào Từ Hải:

“Em là Vương Thúy Kiều, quý khách cần chi thì cứ kêu em.”

Thấy Kiều yểu điệu, phong cách đoan trang, rõ ràng là tiểu thư con gái nhà lành chứ đâu phải là dân giang hồ tứ xứ; trong bụng thầm ưa, Từ Hải gật đầu lịch sự:

“Vâng, cám ơn cô!”

Nghe Từ Hải nói, Kiều càng thêm bàng hoàng cảm kích. Đã lâu lắm rồi, không có một người khách nào kêu nàng bằng cái tiếng cô lịch sự như thế! Hồ Tôn Hiến giục giã:

“Em hát đi! ‘Phục vụ’* mấy anh đi chứ! “

Thúy Kiều ngoan ngoản ngồi xuống, cất tiếng hát. Giọng hát thật hay! Dìu dặt như suối chảy. Khi cao như oán. Khi trầm như than. Hồ Tôn Hiến thẩn thờ, cau mày:

“Ối chà! Bài hát gì thế kia!”

Từ Hải cười mỉm:

“Đây là bài Dạ Cổ Hoài Lang nổi tiếng ở miền Nam. Đã lâu lắm rồi tôi mới được nghe.”

Nghe Từ Hải nói, Thúy Kiều càng thêm cảm phục. Tri kỷ, tri bỉ. Đêm nay, không như những đêm trước, tiếng hát của Thúy Kiều càng về khuya càng cao vút, dìu dặt. Tiếng hát để lại trong lòng Từ Hải bao nỗi vương vấn, mến yêu….

—->Chương 6

Advertisements
This entry was posted in Vui cười-Phiếm-luận. Bookmark the permalink.