THÉP ĐEN IV: 11-20 (Đặng Chí Bình)

bia_TDIV

-11-

CŨNG MỘT KIẾP NGƯỜI

Sau mấy ngày, tôi đã biết phân trại A này có khoảng 7, 8 trăm tù, hầu hết là hình sự: tham ô, trộm cắp, giết người. Chỉ có một toán tù chính trị địa phương, duy nhất hơn 4 chục người, làm mộc và làm nhà do tên cán bộ Tý phụ trách, anh Ngô Đạo làm toán trưởng.

Lán mộc cũng là tre nứa, gỗ trống trếnh 4 gian ở ngay cạnh đường cái. Gọi là đường cái chứ cũng là đất, đôi khi có một vài chiếc xe cổ lỗ hoặc là xe bò của trại đi qua. Hàng ngày toán tù chính trị chúng tôi xuất trại ra khỏi cổng, rẽ tay phải theo đường cái chừng 200m, là đến lán mộc thủ công. Ở lán mộc tôi được phân công trong tổ làm cửa và một vài ngày lại đóng quan tài, gọi là quan tài cho nó sang, vì bên hình sự này chết hơi nhiều (chết đói và kiết lỵ). Chúng tôi được lệnh chỉ cần rọc 4 tấm ván thô (không bào), rồi đóng đinh là xong.

Từ lán mộc, sáng, trưa, chiều, tôi vẫn nhìn thấy những toán hình sự rách rưới, gầy yếu, ghẻ lở đi qua lại. Có hôm anh Ngô Đạo toán trưởng, nhìn những đoàn tù hình sự đi qua nói chuyện với tôi. Anh chỉ tay xa xa, phía trước mặt :

– Anh Bình có biết không? Chúng nó đói quá, trên đường đi lao động về mấy cái nhà tư của cán bộ có mấy giậu dâm bụt và thài lài phía sát đường. Họ vặt sạch, đút ngay vào miệng nhai ngấu nghiến, về sau trên đường đi về, hai bên đường, bất cứ cành cây rừng nào chĩa ra, họ cũng vặt lá đút vào mồm, dù bị công an võ trang dùng báng súng thúc, đánh, đá tơi bời.

Nghe anh Đạo nói chuyện, lòng tôi vặn vò như xát muối. Tôi thầm nhủ trong lòng, nỗi thương đau này của họ, có một phần do tôi gây ra!

Một sự việc buổi chiều hôm qua, vẫn còn chèn ứ chật cứng lòng tôi: Tôi đang làm việc với tổ mộc làm cửa ở lán, một số người láo nháo, rầm rì chỗ căn nhà con của cán bộ Tý, mé sau của lán mộc. Căn nhà con này trên một khu đất cao. Tò mò, tôi lách lên nhìn vào chiếc sân con, trước mặt căn nhà: à, anh Lộc Mù, đang nằm xấp dưới đất, tay chân đều xuôi thẳng! Tên cán bộ Tý đang trợn mắt nhìn anh Tuấn Nguyệt, cầm một chiếc roi tre, quát :

– Đánh mạnh vào, đúng 10 roi! Cho chừa tội ăn cắp sắn!

Trước 7, 8 người trong tổ làm nhà, anh Lộc Mù, mọi người gọi anh như thế. Mắt anh bị bệnh mắt đỏ, nên không mở to được. Anh Lộc chừng 45 tuổi, người Hà Nội cùng quen biết với ban nhạc vàng của Toán Xồm. Sau 10 roi, anh Lộc lồm cồm bò dậy. Đến lượt anh Tuấn Nguyệt, lại nằm xuống và anh Lộc lại cầm roi. Tên Tý mắt gườm gườm, gằn giọng :

– Trước mặt tôi, các anh không đánh thật, đánh mạnh, tôi sẽ ngồi đây, bắt các anh thay nhau đánh tới khi trại về.

Tôi bàng hoàng, ngẩn người ra! Tôi nhẹ nhàng lủi xuống chỗ làm. Tôi ngồi nhắm mắt lại cho hồn lẩn trốn vào mây đen, của cuộc đời. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cảnh này trong tù! Phải rồi, trước đây còn miền Nam, còn một nửa nước nữa VC chưa chiếm được, chúng còn che giấu để bịp bợm tuyên truyền. Bây giờ, chúng đã nuốt xong miền Nam rồi, không cần phải che đậy nữa.

Tên Tý chừng 30 tuổi, anh Lộc 45 tuổi, anh Tuấn Nguyệt khoảng 40 tuổi đều là dân ăn chơi, của đất ngàn năm văn vật. Tôi đã quen biết các anh hơn một năm trước trong trại B, ở những buổi nhạc vàng bỏ túi, lén lút cuối tuần. Tuy đánh không đau lắm, vì có quần áo, nhưng mà nhục. Có lẽ tên cán bộ Tý mục đích, cũng chỉ muốn làm nhục là chính. Tất nhiên tôi hiểu, phải có chủ trương từ trên, thì tên Tý mới dám làm như vậy.

Ít ngày sau, một buổi tối cán bộ trực trại vừa vào điểm xong ra khóa cửa buồng, lại thấy mở khóa nữa. Tên trực trại, tên Tý cán bộ toán nói gì với anh Đạo toán trưởng. Anh Đạo quay lên sàn trên nói to :

– Anh Bình và anh Tuấn Nguyệt khẩn trương theo cán bộ ra lán, đóng 2 chiếc quan tài có bồi dưỡng 1 kí sắn luộc, cho 2 anh.

Tôi và anh Tuấn Nguyệt đều vội vàng leo xuống, theo một tên công an võ trang ra lán thủ công. Trời đã tối đen, chỉ có một ngọn điện 40 Watts treo giữa lán. Ít khi nào tù làm đêm, vì thế bóng đêm phủ căn lán gần hết. Trên đường vào lán mộc, trong bóng tối mập mờ, tôi thấy một chiếc xe ba gác trên có 2 xác người, với 4 anh tù hình sự đang ngồi gục đầu ở mé đường. Một tên công an võ trang đeo súng, miệng lập lòe điếu thuốc đứng bên cạnh, với tên Thông y tá hình sự của trại. Như vậy gồm có mười người: Hai tên công an võ trang, tên cán bộ trực trại, Tuấn Nguyệt và tôi, y tá với 4 anh hình sự, không kể 2 cái xác.

Trong bóng đêm rừng, ngọn điện chỉ khoét ra một lỗ sáng méo mó, còn đều đen ngòm. Phần vì gió lộng thêm, sương núi lại tỏa ra nhiều như mưa phùn, nên cả 4 anh hình sự và 3 tên cán bộ, đều vào trong chỗ chúng tôi làm. Tiếng rọc cưa xoèn xoẹt rù rì, vài tiếng cú rừng the thé vọng về, càng khoét sâu lòng mọi người, ai cũng câm nín. Bỗng tên trực trại ghé về phía anh y tá hình sự, giọng thắc mắc :

– Làm sao, chúng chết nhanh như thế?

Dưới ánh đèn, hai con mắt tên y tá trắng dã như mắt cú mèo, lấm lét nhìn mấy tên áo vàng, rồi lắc đầu chậm chạp :

– Thưa cán bộ, cháu cũng không biết, khi khênh ra khỏi buồng, thì chúng đã chết rồi!

Tên trực trại, thái độ có vẻ ấm ức, tò mò. Y dõng dạc ra lệnh cho 4 tên hình sự, đang ngồi như 4 con gà rù, ở mé cầu bào bên kia :

– Bốn anh ra mang một cái, vào đây cho tôi!

Nói xong, y quay lại tên y tá hình sự, nhưng nói với tôi :

– Anh hãy cho anh y tá mượn cái chàng, hay cái bướm một tí!

Tôi và Tuấn Nguyệt cũng muốn biết ra sao, nên đã đưa một cái chàng, tôi mới mài.

Tên Thông y tá đã chỉ một cái cầu bào trống bên cạnh, cho 4 tên hình sự đặt cái xác lên. Dưới ánh đèn mập mờ, tôi thấy cái xác chừng 20 tuổi quần áo rách tả tơi. Cái mặt xám đen, đặc biệt là cái bụng phình to tướng. Tên Thông cầm cái chàng, rạch mạnh cái bụng to ấy, nó phì ra thành tiếng, như chiếc lốp xe đạp bị xì hơi. Tên trực trại ra hiệu tay, cho tên Thông :

– Rạch nữa, cho rộng ra! Rạch cả cái bọc dạ dầy kia kìa!

Tôi chạy sang liếc nhìn, chỉ có một tí máu đen bên ngoài, trong dạ dầy, chỉ có vỏ sắn và lá cây, thành một màu xam xám xanh xanh.

Tôi và Tuấn Nguyệt nhìn nhau, rồi đều quay về chỗ đóng đanh ghép cho xong 2 chiếc quan tài. Vừa mệt vừa đói, tôi và Tuấn Nguyệt cũng đều không ăn được kí sắn luộc, cuộn trong chiếc lá đu đủ để đấy. Được sự đồng ý của Tuấn Nguyệt tôi mang cả gói sắn luộc, đưa cho 4 cậu hình sự, vì họ cứ liếc nhìn trộm, gói sắn từ sớm tới giờ. Chúng tôi cũng là tù đói, vậy mà thấy vậy chẳng muốn ăn. Chỉ trong một phút, cả 1 kí sắn 4 cậu chia nhau, ngốn hết chả, còn tí sơ nào!

Tôi hỏi ra, các cậu đi chôn, mỗi người chỉ có 2 lạng sắn bồi dưỡng, đã ăn ngay hơn một giờ trước rồi. Tôi và Tuấn Nguyệt vội vàng thu dọn dụng cụ, để tên vũ trang dong về trại. Trên đường vào trại tăm tối gập ghềng, tôi liên tưởng cảnh vừa qua. Tôi nhớ đến một ý thơ :

Không kèn, không trống, không ai tiễn
Chẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầu.
Chỉ có bạn tù, khiêng lặng lẽ,
Vùi nông một lỗ, kiếp người ơi!

Chừng hơn 2 tháng sau, được lệnh của tên cán bộ Tý, anh Đạo chuyển tôi sang tổ làm nhà. Tôi ở tổ này khoảng hơn 3 tháng. Tôi nhớ vào đầu 1977, một hôm tên Thành, cán bộ giáo dục của phân trại A, gọi tôi. Gần một năm ra trại này y mới gọi. Y gợi ý và bơm cho tôi như sau: Sớm muộn Đảng và nhà nước sẽ tha cho tôi, về một công nông trường nào đấy. Nhưng có điều, nếu cho tôi ra nông trường, công trường, thì không còn thợ làm nhà, ở trong trại giam. Vì thế tôi phải có ý thức đào tạo, dạy cho các cậu bên khu hình sự án dài, biết làm nhà để thay thế các anh, các bác bên chính trị, chết hoặc được tha v.v…

Tôi hiểu, chẳng qua đây cũng chỉ là một cách khích lệ, dụ tôi dậy hết nghề, cho đám trẻ hình sự mà thôi. Hiểu như vậy, nhưng là tù, thì cứ tà tà mà làm, rồi đến đâu hay đến đó.

Ba ngày sau tên Tý dẫn đến 3 cậu chừng 19 – 20 tuổi. Ngay nơi sân sau của lán mộc, tôi đang chuẩn bị để làm một căn nhà 3 gian. Tôi chỉ biết, chịu trách nhiệm làm theo kích thước đã vẽ sẵn, còn họ dựng ở đâu thì tôi không biết. Ba cậu đều là dân ở khu Hoàn Kiếm Hà Nội. Lúc đầu các cậu tỏ ra thái độ ngang tàng, bất cần đời, nhưng sau những thăm hỏi, trao đổi tâm tình, các cậu lại tỏ ra sốt sắng, ân cần ngoan ngoãn và vui vẻ làm theo, những lời tôi chỉ dậy.

Hơn 10 năm xưa tôi đã có một số kinh nghiệm sống với biết bao nhiêu các cậu “cháu ngoan của bác Hồ” ở Hỏa Lò. Thậm chí, cả những loại là giới anh chị của các cậu nữa, nên điều hành 3 cậu này, chẳng khó khăn gì.

Cậu Nguyễn Đắc Dũng 20 tuổi, cậu Phan Hà 19 tuổi cùng một vụ ở Ngõ Huyện Hà Nội, đầu năm 1976. Cậu thứ 3 là Hoàng Văn Nô ở một vụ khác, các cậu đều mới lên trại được 5 tháng. Về vụ việc của cậu Dũng và Hà, tôi xin sơ lược như sau: Vào cái dịp Tết (âm lịch) của năm 1975 đầu 76. Có lẽ vừa cướp được miền Nam béo bở, VC hơi lơ là vấn đề quản lý xã hội ở miền Bắc nói chung, và Hà Nội nói riêng. Nhóm Ngõ Huyện gồm 5 cậu Dũng, Xuân, Hà, Kỷ, và Thái. Các cậu lêu lổng không chịu học hành, và cũng không theo một cái khuôn khổ của Đảng, là gia nhập đoàn thiếu nhi, hay đoàn thanh niên CS.

Một đêm 2 cậu Dũng và Thái, đi chơi la cà ra khu bờ sông gần nhà Bác Cổ. Trong bóng đêm 2 cậu thoáng thấy một cô gái đang ngồi ủ rủ ở một bậc hè, của một ngôi nhà trên đường phố. Nháy nhau 2 cậu đều quay xe đạp trở lại, vì đoán là “bò lạc” các cậu vẫn thỉnh thoảng vớ được. Được biết cô này tên là Hồng, 16 tuổi lên Hà Nội để chăm sóc bố bị bệnh lao xương, nằm ở Việt Đức.

Thấy Hà Nội phố phường có nhiều cửa hàng, cửa hiệu, cô cứ đi, rồi bị lạc không biết đường về, nhà thương. Cô đã đi mỏi cả chân, lại còn bị đói từ sáng, chưa ăn uống gì.

Hai cậu dụ Hồng đi ăn phở, cô Hồng lên xe cho Dũng đèo đi. Hai cậu đưa Hồng ra phía sau, đầu nhà thờ lớn rồi đè Hồng ra làm bậy, vừa đói, vừa không chăn chiếu, ở ngay sàn gạch. Sau khi 2 cậu làm xong, bỏ mặc Hồng nằm đó khóc, các cậu về nhà vì đã 11 giờ đêm rồi.

Nhưng nằm không yên, nghĩ đến mấy thằng bạn ở Hàng Trống và Hàng Gai, các cậu đã xách xe đến tìm. Cậu này gọi cậu kia thay nhau tất cả 5 cậu. Riêng cậu Dũng và Thái, gần sáng còn trở lại làm thêm lần nữa. Tuy các cậu đã dặn kỹ Hồng, không được nói với ai, nhưng có lẽ phần vì đói, phần vì đau, nhục, nên cô đã bò về phía Hàng Trống, rồi đến được đồn cảnh sát thì bị ngất.

Lần lượt các cậu đều bị bắt, sáu tháng sau đem các cậu ra tòa xử: 3 cậu Dũng, Hà, Thái, mỗi cậu 20 năm; hai cậu Kỷ và Xuân mỗi cậu 18 năm vì các cậu đã từ chối không muốn đi, nhưng Hà, Thái, Dũng cứ lôi kéo. Cái điều đáng trách nhất của các cậu, là cô Hồng đã đói từ sáng, mà không cậu nào kiếm cái gì, cho cô đó ăn. Tôi có hỏi thì Dũng, Hà đều nói trong niềm xúc cảm, đau đớn ra mặt :

– Khi ấy chúng em cũng đói, mà không đứa nào có tiền cả!

Gần một thế kỷ tù, trong một vụ án vẩn vơ không tên tuổi. Năm cuộc đời hay cả sáu cuộc đời sẽ đi vào khổ đau, tàn lụi. Nghe chuyện các cậu tôi hiểu, cái chính là các cậu gặp lúc không may nữa. Chính trị cũng như hình sự, CS hay lấy một sự việc trị đến nơi đến chốn, trị nặng gấp đôi gấp ba. Vì chúng muốn trị người chưa, vi phạm hoặc mới vi phạm, không dám vi phạm nữa. Có thể đám anh chị Ngõ Huyện (khu nhà thờ lớn Hà Nội) làm nhiều chuyện đã từ lâu, nhưng CA không tìm bắt được. Bây giờ vớ được một vố chúng xử làm gương, cho giới bụi đời, anh chị Hà Nội?

Làm nhà với các cậu còn trẻ, cái khó nhất là chữ Nho: Tiền hậu, thượng, hạ v.v… Tôi thay vào bằng chữ in và số La Mã. Các cậu đều học lớp 7, lớp 8 (hệ 10 năm) nên tôi áp dụng công thức, của tam giác vuông góc Pythagore, cho các cậu tìm đường chéo v.v… Có thể do sự thông minh của các cậu, hoặc do sự pha trộn nhuần nhuyễn giữa: nghề nghiệp, kiến thức, lý tình của người hướng dẫn. Chỉ ba tháng sau, các cậu không những đã xàm được các xà thượng, hạ, đúng qui cách kỹ thuật, mà còn có thể đứng làm vì trưởng. Như vậy có thể tạm gọi là một thợ làm nhà, được rồi.

Một buổi chiều tôi theo toán đi làm về; ra khỏi lán mộc, toán rẽ trái để về trại. Từ xa (200 m) trước cửa căn nhà trực trại, đối diện với cổng trại. Có 6 – 7 cán bộ áo vàng lố nhố, tôi thoáng thấy một bóng người cao cao, đúng là hung thần Hoàng Thanh.

Tôi hơi choáng khi bất chợt nhìn thấy y, nhưng lòng cũng một chút vui vui, gặp lại một người quen biết đã lâu không gặp. Dù sao 7, 8 năm xưa, một lần tôi và y đã có một buổi ở phân trại E phố Lu, đàm đạo về một số loài hoa của quê hương. Có thể y đã quên tôi rồi, một người tù trong hàng chục ngàn người tù khác. Tôi nhìn đi nơi khác, khi toán đi qua mặt y. Nhưng y đã tiến ra sát mé đường, gần hàng toán mộc đang đi. Tôi quay lại nhìn y, và hơi gật đầu miệng nói nho nhỏ: “Chào ông!” Cổ áo y thường không đeo lon, mắt y sáng lên rồi vồn vã :

– Anh có khỏe không? Cắt tóc và cạo cái râu đi! Trông yếm thế quá!

Anh em trong toán và cả tên Tý cán bộ toán, cũng hơi ngạc nhiên. Có thể là một thứ giác quan đặc biệt của một người với một người? Về trại anh em nói Hoàng Thanh hiện nay là cán bộ cao cấp trên bộ nội vụ; ông Thích tổng giám thị vẫn phải nem nép nể vì.

Bốn ngày sau, buổi sáng cán bộ trực trại, đọc tên tôi ở lại trại để gặp cán bộ. Khi trại đã đi lao động hết, tên trực trại sai trật tự vào gọi tôi. Tên trực trại dẫn tôi đến một căn nhà nhỏ, ở trên một khoảnh đồi con, phía trái của trại.

Đến cửa, tiếng nói phía trong rất mềm dịu nhã nhặn :

– Anh mở cửa vào đi!

Một cán bộ lạ cũng không đeo lon, chừng 40 tuổi. Sau khi tôi lễ phép chào theo thủ tục, y chỉ chiếc ghế đối diện :” Anh ngồi đi! Tôi là cán bộ của bộ, hôm nay tôi muốn hỏi lại anh một số sự việc”- trong khi tay y đặt một cái tách trên bàn rồi rót trà. Điều tôi chú ý nhìn là bao thuốc lá Điện Biên giấy bạc thò ra hai, ba, điếu ở góc bàn. Có lẽ y cũng nhìn thấy thái độ của tôi, nên y cầm bao thuốc, rút thò ra một điếu thuốc, rồi giơ về phía tôi :

– Anh có hút thuốc lá không? Mời anh!

Tôi đường hoàng rút một điếu, y còn lịch sự bật quẹt ga cho tôi hút! Tôi vừa cám ơn y, vừa nhìn mấy sợi khói nho nhỏ của tách trà. Chúng đang uốn éo cong queo bỗng duỗi thẳng ra, rồi cùng chui vào đám khói thuốc lá, tôi vừa thở ra. Hồn tôi cũng đê mê, đờ đẫn vì lâu ngày mới được dầm mình, vào cái không khí thuốc thơm, trà ngon.

Hơn một tiếng đồng hồ, y hỏi lại một vài sự việc mà tôi đã khai báo trước đây ở Hỏa Lò. Tôi thận trọng trả lời những câu hỏi của y, lòng cũng hơi lo lắng, vì bây giờ chúng đã chiếm được miền Nam rồi. Có thể một số hồ sơ riêng về vụ án của tôi, chúng phát hiện được, những điều khác thường?

Nhưng qua nghe ngóng từng lời nói, từng hiện tượng, tôi yên lòng, vì y chỉ hỏi lại những điều cũ, trước đây mà thôi. Tuy thế, tôi cũng phải kính nể, cho sự dè dặt thận trọng của chúng. Vụ án của tôi, đã có gần 6 năm khai thác. Đã đem ra tòa xử gần 10 năm xưa, thế mà bây giờ chúng còn hỏi lại sự việc.

Tên cán bộ đột nhiên cúi xuống mở chiếc cặp ở dưới chân, lấy ra một bao thuốc lá lạ, đã bóc dở. Nhìn thoáng bao thuốc, tim tôi như ngừng hẳn lại hai, ba, giây. Nhìn lá cờ vàng 3 sọc đỏ, người tôi đờ ra. Cảm giác như nhìn thấy một cái gì cao qúy thiêng liêng, của đời tôi. Thoảng mấy giây, tưởng như nhìn thấy người yêu lý tưởng 15 năm mới gặp lại. Từ đầu 1962 bây giờ là giữa năm 1977. Tôi ngẩn ngơ đến nỗi, tên cán bộ nói gì đó, tôi phải hỏi lại. Y mới nhắc lại :

– Anh còn nhớ loại thuốc này không?

Tôi hổn hển ngắt quãng, ngập ngừng :

– Thưa ông…. thuốc của quân đội miền Nam, Quân Tiếp Vụ, đã lâu lắm rồi ạ!

Có thể y cũng thấy cái lúng túng, khác thường của tôi. Y chỉ bao thuốc, miệng cười nhã nhặn: “Anh có muốn hút thử lại không?”

Như vồ lấy bao thuốc, có lá cờ vàng 3 sọc đỏ, miệng tôi lắp bắp :

– Thưa ông có ạ!

Trong bao thuốc còn 2 điếu, tôi rút 1, mới thoáng ngửi mùi thuốc Quân Tiếp Vụ. Một mùi hương thoang thoảng nhè nhẹ, ngọt lịm như cam thảo, như đường phèn, cái mùi của gần gũi thân thương! Tôi không thể chịu được nữa, tôi đưa đại bao thuốc lên mũi. Hà hít cho đã niềm thương, nỗi nhớ của 15 năm dài đằng đẵng, y nhìn thái độ lính quýnh của tôi, vẫy tay :

– Còn 2 điếu, anh 1 tôi cũng muốn hút lại một hơi. Ba tháng trước tôi vào Sài Gòn công tác, tôi mua thử một bao. Về Hà Nội tôi cũng cho mấy người quen, và mấy đồng chí hút thử. Nó cũng có mùi thơm lạ, khác với Điện Biên và Tam Đảo. Hôm tôi được lệnh lên gặp anh, tôi nghĩ nếu anh hút thuốc, chắc trước đây đã hút thuốc này. Tôi lục lại, thấy bao chỉ còn 2 điếu, tôi mang đi.

Tôi mừng vui quá, nên bộc phát thành lời :

– Xin cảm ơn và nhớ ông nhiều lắm! Tôi tìm lại được một dư vị cũ, ngày xưa!

Xem ra, y cũng chẳng để ý những gì tôi nói, tôi đánh bạo :

– Ông cho tôi cái bao này, để nhớ ngày tôi được gặp ông?

Y cười rất tự nhiên :

– Anh lấy thì lấy, không thì vất đi chứ làm cái gì!

Cái điều tôi phải ngổ ngáo, thô lỗ chỉ vì “lá cờ vàng 3 sọc đỏ” như một thứ cao qúy, linh thiêng của đời tôi. Tôi muốn ôm ấp lá cờ thiêng liêng ấy, ép vào trái tim thương yêu, nhưng đã lâu ngày bầm tím của tôi.

Tôi vẫn để bao thuốc lá Quân Tiếp Vụ, cố gấp nhỏ giấu đút vào một chỗ kín và qúy nhất, trong những vật dụng của tôi. Tôi chủ trương là, sẽ giữ mãi bao thuốc lá cao qúy này, cho tới khi tôi mang theo về lòng đất. Nhưng… lại chữ “nhưng” quái ác, chữ “nhưng” độc địa….. Tôi đã bị…. không thể thực hiện được chủ trương, dù nhỏ nhặt của tôi…. Vì sao? Xin sẽ trình bày ở những chương tới.

Hơn một tháng sau, ngày 7/8/1977, một buổi sáng, trước toàn phân trại A, có mấy tên cán bộ lạ. Có cả tên thiếu tá Thích tổng giám thị. Tên cán bộ giáo dục đọc một bản tuyên bố, nội dung: Do sự tích cực lao đông cải tạo của trại viên, và do lòng nhân đạo của Đảng và Nhà nước, nay tuyên bố tha cho các anh có tên sau đây về công trường Hồng Thắng, phố Lu Lào Cai. Vẫn dưới sự quản lý, của bộ nội vụ (bộ công an trước đây).

Đọc 12 – 13 tên, đặc biệt trong đó có tên ĐCB là tù chính trị duy nhất, còn lại hầu hết là hình sự. Có thể trong toán tù chính trị địa phương, ai cũng có gia đình, quê quán, thân nhân, nên nếu được tha, đều được về nhà. Chỉ có mình tôi, là loại “tứ cố vô thân” ở miền Bắc.

Tất cả 13 người được tha, về trại công nhân Hồng Thắng này, đều được phát một bộ đồ nâu. Chiều hôm đó tập họp lại ở hội trường, cán bộ vào tuyên bố nội dung: Tuy được ra công nhân, nhưng vẫn dưới sự quản lý của Bộ nội vụ, cho nên các anh phải tuyệt đối chấp hành nội quy của công trường.


Chương 12: Ra chiếc lồng to!

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Đặng Chí Bình. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s