TIẾNG HỜN CHÂN MÂY (Trần Thy Vân)

CHẤT NGƯỜI TRONG “TIẾNG HỜN CHÂN MÂY”

::: Vũ Ánh :::
(Nhật Báo Viễn Đông, số 1108, ngày 12/08/2000)

Tôi đã đọc “Tiếng Hờn Chân Mây” tới hai lần, đã đánh dấu những đoạn cần thiết phải đọc lại, đã cố gắng suy nghĩ lượng giá cho đúng mức chất người trong tác phẩm thứ hai của Trần Thy Vân. Tôi nghĩ đến nhà văn quân đội, đến người thương binh can đảm này, đến đời sống của ông, đến nỗi u sầu và những điều lạc quan thấp thoáng trong những tác phẩm ông viết với tất cả nỗi lòng của một người lính, người lính chiến đúng nghĩa. Đọc xong “Anh Hùng Bạt Mạng” và “Tiếng Hờn Chân Mây”, ít có người đánh giá những tác phẩm của Trần Thy Vân là những tác phẩm có giá trị lớn về văn chương. Và ngay chính bản thân Trần Thy Vân, ông cũng không hề trông đợi người đọc nhìn “Anh Hùng Bạt Mạng ‘ hay “Tiếng Hờn Chân Mây” theo cung cách ấy.

Buổi tối Thứ Sáu tuần trước, tôi ngồi xem lại lần nữa cuốn video “Chiến Tranh và.Hòa Bình” của Trung Tâm Asia gởi tặng, để thấy lại hình ảnh Trần Thy Vân, dù cũng đã có dịp gặp ông trên chiếc xe lăn nhiều lần. Nhưng không hiểu sao, đoạn phỏng vấn Trần Thy Vân xen vào cuốn video được thu hình đen trắng vẫn cứ ám ảnh tôi mãi. Có lẽ vì đoạn ông mô tả lại giây phút lúc bị thương, cái giây phút chưa cảm thấy đau mà chỉ thấy nóng, giây phút còn tỉnh, đủ thời giờ để ra lệnh cho những đồng đội những việc mà họ cần phải làm. Điều gây ấn tượng mạnh nhất là khuôn mặt khắc khổ của Vân hằn lên vết thời gian, dấu vết của một cuộc chiến, sự bình tĩnh, giọng nói vẫn còn mang đầy âm hưởng của một vùng đất triền miên những khó khăn, bão táp dù trong chiến tranh hay trong hòa bình. Và trên hết, những ai từng bị thương tại mặt trận, những ai từng trải qua giây phút một viên đạn đồng, một miếng bom hay mìn ghim vào da thịt rồi té xuống, hẳn sẽ thấy rằng ông rất thành thật khi mô tả đến khúc quanh u sầu của một đời lính: chinh chiến dở dang vì đã phải để lại đôi chân ngoài chiến địa. Có người đọc “Anh Hùng Bạt Mạng” xong đã có nhận xét với tôi như thế này: “Tuy là nhà văn nhưng không thấy ông ấy (Vân) văn chương hóa cuộc chiến để thảm kịch ấy nhẹ nhàng hơn, dễ thấm sâu hơn”. Tôi cũng nhận thấy như thế, nhưng tôi hiểu rằng, những tác phẩm mà Trần Thy Vân viết ra không phải là để làm cho cuộc chiến nhẹ đi, để mọi người dễ chấp nhận. “Anh Hùng Bạt Mạng” là câu chuyện của chính ông, của các đồng đội đã từng sát cánh với ông trong những giây phút rất gần với cái chết, thì nó phải như thế, không thể khác hơn được. Những biến động của câu chuyện là cả một chuỗi những kinh nghiệm và thử thách đầy máu của chiến tranh. Nhưng ở “Tiếng Hờn Chân Mây”, cuộc chiến được kể lại không có mạch lạc với những hình ảnh chỉ còn thấp thoáng, đôi lúc nhạt nhòa với một giọng kể chịu đựng, đôi khi pha một chút cay đắng. Sau biến cố tháng Tự ấy, những người lính chiến, dù là thương binh hay còn đủ cơ thể đã chạm ngay vào một thử thách khác: vào trại tập trung cải tạo. Trần Thy Vân không phải trải qua những thử thách ấy vì ông không còn hai chân. Nhưng cuộc sống căng thẳng và kỳ thị, cộng thêm với nỗi buồn bã, ông đã bỏ lên chốn thâm sơn cùng cốc mà theo như địa danh là một vùng nào đó cách Tùng Nghĩa không xa lắm, để ẩn dật. .Thế nhưng điều này cũng không có gì đáng nói. Cái đáng nói nhất, chính là những gì mà ông đã trải qua trong cuộc sống sương gió với những cố gắng và can đảm của người thương binh ở vùng đèo heo hút gió, bối cảnh của “Tiếng Hờn Chân Mây”.

Cuộc sống của Trần Thy Vân ra sao trong “Tiếng Hờn Chân Mây”…? Thật ra, nếu đọc kỹ, chúng ta vẫn bắt gặp được ở đâu đó trong suốt 205 trang sách, những lầm than của cuộc sống mà ai cũng hiểu là tác giả muốn làm nhẹ bớt đi để nhấn mạnh đến những điều khác. Trong các câu chuyện Trần Thy Vân kể trong “Tiếng Hờn Chân Mây”, ông vẫn gởi gấm một chút hy vọng một nhóm tàn quân, vào những điều có thể giúp những người miền Nam lật ngược lại tình thế. Tuy nhiên, đó chỉ là những cái thêm vào để làm cái nền cho một bối cảnh khác: sau chiến tranh, người ta vẫn có thể tìm thấy trong hàng ngũ cựu thù những người vẫn còn giữ được chất người, vẫn còn lương tri.

Nếu Trần Thy Vân viết “Tiếng Hờn Chân Mây” sớm hơn mấy năm trước đây, có thể tác phẩm của ông gây ra những ngộ nhận, chạm vào những định kiến. Cái khung không biết do ai đã vạch sẵn: trong hàng ngũ cán binh Việt Cộng thì làm gì còn người có nhân cách. Từ cái khung ấy, có người nhìn cả mấy chục triệu dân miền Bắc đều là Cộng Sản. Những ai từng nằm tù ngoài Bắc chắc sẽ không thích cách nhìn đầy bất công, vơ đũa cả nắm ấy. Và Trần Thy Vân cũng vậy. Hàng ngày, trong cuộc sống, người thương binh Trần Thy Vân đã phải liên hệ, phải quen biết, phải nói chuyện với một số binh lính và sĩ quan thuộc Sư đoàn 304 Cộng Sản Bắc Việt, đơn vị ông đã từng đụng độ trong những năm chiến tranh, những năm ông chưa bị loại ra khỏi vòng chiến. Những cựu thù, cũng có người tốt, kẻ xấu. Nhưng khi ở mặt trận, trong cuộc chiến, mọi người đều phải làm trọn cái nghĩa vụ mà họ tin là đúng. Cái chủ quan đó, oái oăm thay đã đẩy cả một dân tộc vào hố chia rẽ, binh đao. Những Bình, những Tuất, những Đường… Họ là những người lính đối phương với Trần Thy Vân trước kia. Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, người lính bỏ lại mọi hận thù. Dĩ nhiên, số này không đông. Nhưng trong cái cõi u minh của chủ nghĩa, Trần Thy Vân đã báo động với chúng ta rằng, vẫn còn có những mảnh đời còn trái tim, còn tình người. Và chính trong mối giao tiếp giữa những người thù địch trước đây, Trần Thy Vân khám phá ra rằng, trái tim người Việt Nam vẫn phát ra tiếng thầm gọi. Đó là điều quan trọng nhất và nó đã được ông nói ra một cách ngay thẳng, nói ra trong cái tư thế của một cựu sĩ quan, một nhân cách dõng dạc trên hai cái bàn ngồi di chuyển để nhẫn nại xới những gốc bắp trước sân nhà.

Trong tác phẩm, có những điều tưởng như là hư cấu, nhưng lại rất thật. Cũng giống như, nếu không có những nhân chứng đáng tin cậy và can đảm như Trần Thy Vân, những câu chuyện trong “Tiếng Hờn Chân Mây” chắc cũng chỉ được coi như một sản phẩm tưởng tượng nào đó mà thôi. Bởi thế, đề tài mà Trần Thy Vân đề cập tới không có gì mới mẻ, nhưng cái đáng quí nhất ở tác phẩm của ông là chất người được vinh danh qua những kinh nghiệm của cả một giai đoạn ông sống trong cơn giông bão của lịch sử.

::: Vũ Ánh :::

image003

TRẦN THY VÂN “TIẾNG HỜN CHÂN MÂY”

::: Vương Trùng Dương :::
(Người Việt 2/7/2000
Đất Nước 7/2000
Sàigòn Nhỏ 7/7/2000
Dân Quyền 7/2000
Sàigòn Times 30/6/2000
Trẻ Magazine 1/7/2000)

Mùa hạ năm 1996, Trần Thy Vân tặng tôi tác phẩm Anh Hùng Bạt Mạng trước khi ra mắt ở thủ đô tị nạn. Tuy là tác phẩm đầu tay nhưng văn phong và cốt truyện đã cuốn hút người đọc từ đầu đến cuối trang sách. Cuốn sách viết về người lính trong binh chủng Biệt Động Quân, vào sinh ra tử, đối diện trực tiếp với địch ở Sa Huỳnh, miền trung vào thời điểm 1973. Nơi đây, xảy ra mối tình giữa chàng Trung úy Đại đội trưởng BĐQ với cô nữ sinh trong khu vực đóng quân. Anh Hùng Bạt Mạng được tái bản lần thứ hai và sắp tái bản lần thứ ba…

Mùa hạ năm 2000, tác phẩm Tiếng Hờn Chân Mây của Trần Thy Vân được trình làng. Bối cảnh xảy ra sau ngày đất nước rơi vào tay Cộng Sản. Cuộc đời của chàng phế binh Trần Thy Vân đã hiến thân thể của mình trong công cuộc bảo vệ quê hương -cụt cả hai chân- trong hoàn cảnh đau thương và bất.hạnh. Chân dung người tình năm xưa trở thành người bạn đời, gắn bó với nhau qua thời kỳ đen tối tột cùng của cuộc sống.

TÁC GIẢ – TÁC PHẨM

Đôi nét về tác giả được ghi trong tác phẩm: (Tiểu sử…)

Tiếng Hờn Chân Mây viết về thời điểm của tác giả từ chương đầu Chuyến Đi Về Sáng “cuối tháng 3/1975, toàn bộ Quân đoàn I, năm tỉnh địa đầu cùng các vùng phụ cận, đã rã ngũ, lần lượt rơi vào tay giặc”, trải qua 5 năm nơi vùng quê ở Đức Trọng, phía Nam thành phố Đà Lạt, cho đến khi cảm thấy tính mệnh lại bị đe dọa, đến chương cuối Xuôi Nam “Nhưng trên bước đường cùng xuôi nam tôi phải lao đi, rồi bốn cha con ghì chặt nhau thả dốc mà như bay bổng, tưởng chừng không bao giờ hạ cánh”.

Khi Đà Nẵng thất thủ, từ Tổng Y Viện Duy Tân, theo làn sóng người di tản, tác giả chạy vào Phan Rang đón mấy đứa con để đưa lên vùng đất của làng dân tộc R’ Chai, Phú Hội, Đức Trọng, phía Nam Đà Lạt. Khi đó, tác giả đã chia tay với người vợ đầu, không biết tá túc nơi nào nên về miền quê này, có thân mẫu của tác giả, bỏ quê nhà lưu lạc ẩn thân.

Không còn sự lựa chọn nào khác, tôi đành chấp nhận nơi này dựng một căn nhà nhỏ giữa ba sào đất gồ ghề, lởm chởm đá ong, nằm đìu hiu một mình ở cuối xã Phú Hội, huyện Đức Trọng Lâm Đồng. . . Các bác nông dân hàng xóm thương tình giúp đỡ, mà cũng ngao ngán cho tôi, hoa màu le te không lớn nổi, cỏ dại chằng chịt, và hạn hán kéo dài, ruộng vườn nứt nẻ “ (THCM tr. 87, 88.

Nơi đây anh “gặp lại kẻ thù’, Đại đội C7 thuộc Sư đoàn 304 CSBV đóng ở R’chai. Đơn vị CS này với đơn vị Biệt Động Quân của anh đã bao lần đụng trận ở địa đầu giới tuyến. Anh không giấu giếm lý lịch của mình, hai bên kể cho nhau nghe nội tình trong lúc đụng trận, anh nhận thấy người lính có hào phóng riêng của nó, trong trận chiến hai bên sinh tử với nhau, lòng hận thù không trút lên đầu kẻ chiến bại khi rơi vào bước đường cùng. Trong khi đó, những tên nằm vùng, loại ác ôn địa phương cực kỳ gian ác, đe dọa, khủng bố, vu cáo, rình rập, tìm mọi cách hãm hại thành phần “ngụy quân, ngụy quyền”, con người tàn phế như anh cũng là cái đích để chúng chĩa mũi dùi.

Tác giả phải đương đầu với bao tai ương, nghịch cảnh. Biến cố Vinh Sơn ở Sài Gòn, biến động của anh em phục quốc xảy ra trong làng quê mà anh đang tá túc càng làm cho mũi dùi đó đâm thủng vào tấm thân tàn tạ của anh. Anh bất chấp, chiến trường đã thử thách quá nhiều với súng đạn, còn gì thiết tha mà nhụt chí. Giữa cơn lốc phũ phàng đó, cô nữ sinh tên Nhị (Hoa) năm xưa, bằng tình yêu chân chính, từ nơi xa tìm đến, cùng nhau chia ngọt xẻ bùi với anh, đi trọn cuộc đời. Với tôi, hình ảnh người con gái với mối tình này còn đẹp hơn trong nhiều tiểu thuyết mà tôi đã bắt gặp .

Vợ chồng, con cái sống được thời gian vài năm giữa nơi khỉ ho cò gáy rồi cũng không yên, phải tìm nơi khác tá túc. Với chiếc xe Honda được chế thành 3 bánh trước năm 1975 làm phương tiện di chuyển khắp nơi. Tác giả lên đường, lập lại cuộc đời te tua, rách nát.

CÂU CHUYỆN VĂN HỌC

Trần Thy Vân là chứng nhân chuyện đồng tính của Xuân Diệu xảy ra với người dượng – chồng thứ hai với thân mẫu tác giả. Trước đây, bài viết: Xuân Diệu, Nhà Thơ Tâm Bệnh Hay Đồng Tính Luyến ái đăng tải trên tờ Tay Phải của Du Tử Lê số ra ngày 7-2-85, tác giả cho biết “việc tiết lộ “mối tình tay ba chồng chéo “, đồng tính luyến ái, đã được sự chấp thuận của những người trong cuộc: Dương Hồ Cũ, Xuân Diệu và Mẹ tôi” nhưng có lẽ, bài viết trên báo thuở đó với tên tuổi còn xa lạ không làm cho giới cầm bút quan tâm để ghi vào văn học về chân dung nhà thơ tiền chiến. Xuân Diệu mang bệnh đồng tính với Huy Cận đã được đề cập qua thi ca và văn học. Bài viết đó được đề cập lại trong chương Xuân Diệu Đồng Tính Luyến ái trong THCM:

” Vừa tới ngõ tôi thấy nơi sân trước, dương Hồ Cũ, đời chồng sau của mẹ tôi, đang ôm hôn rối rít một người đàn ông lạ mặt. Mẹ tôi thì đứng bên cạnh, như chờ đến lượt mình, miệng cười cười nói nói huyên thiên. . . “

” Hồi đó, năm 1936, dượng 24 tuổi, làm công chánh cho Pháp ở Quy Nhơn. Diệu thì 20 tuổi, vừa hoàn tất ban thành chung, sắp ra Hà Nội học thi tú tài. Hai đứa gặp và quen nhau… Dượng ngạc nhiên. Thú thật, lúc ấy dượng cũng khoái cái vẻ đẹp trai của Diệu. Vậy là cả hai mê mẩn nhau, không rời nhau nửa bước.. Diệu xin phép bố mẹ để Diệu cùng dượng về xây tổ “uyên ương ” ở vạn Gò Bồi,. Bình Định, quê ngoại Diệu… Sống với Diệu được một năm lại chia tay, vì dượng gặp mẹ của Lý, ngoài Quảng Nam vào, phải trở về Quy Nhơn. . . Năm 1937 , dượng mua một căn nhà kế bờ biển Quy Nhơn. Vào một đêm hè, Xuân Diệu đột nhiên tới, nhằm lúc dượng và mẹ của Lý đang nằm trong phòng. Diệu biết nên không vào cứ đi quanh ngoài nhà. Vài hôm sau Xuân Diệu kể lại làm dượng cảm động muốn khóc. . . Sau khi theo cha ra Hà Nội, Diệu gửi thư vô dượng tới tấp, lá nào tình cảm cũng dạt dào “.

Sau bao năm xa cách, đến tuổi lục tuần, cả hai ông bạn già vẫn còn đồng tính với nhau, thân mẫu của tác giả đã hiểu rõ nên trả lại tự do luyến ái” cho chồng:

” – Ông lên nằm với Diệu như ngày nào đi. Đêm qua ông ngủ dưới này Diệu nó ghen tôi, không thấy sao ? Ghen cả đời “.

Trong phần chú thích, tác giả ghi: “Xuân Diệu vì tâm bệnh, nên ông thiếu may mắn trên trường tình, sống độc thân cho đến ngày từ giã cõi đời, 1986, thọ 69 tuổi”.

Tôi nói với tác giả phần ghi chú này không được chính xác. TTV cho biết tháng 6, 1976 Xuân Diệu đến ở trong căn nhà của dượng và mẹ anh ở Phú Hội, Đức Trọng, anh chứng kiến hình ảnh đó không thấy đề cập gì đến chuyện vợ con cả nên vẫn tưởng nhà thơ cô đơn với tình trai gái. Trong nhiều lần trò chuyện với Xuân Diệu, Trần Thy Vân hỏi thăm gia đình nhưng thấy thái độ bất bình nên không tìm hiểu thêm về đời tư.

Sau này, TÔ HOÀI qua hồi ký Cát Bụi Chân Ai (Nhà xuất bản Hồng Lĩnh, 1993) ghi lại hình ảnh thi sĩ Xuân Diệu mang bệnh đồng tính với Tô Hoài.

Trong bài Thơ Bút Tre, Ghe Bích Liễu trên Đất Nước số ra ngày 9-9-1999, tôi đã đề cập đến chuyện đồng tính của Xuân Diệu với Huy Cận:

” Xuân Diệu mang bệnh đồng tính luyến ái nên đã bắt chước hai thi sĩ lừng danh của Pháp vào hậu bán thế kỷ XIX Arthur Rimbaud (1854-/891) và Paul Verlaine (1844-1896). Và người bạn đồng tính với ông là Huy Cận. . .Xuân Diệu gặp gỡ Huy Cận ở Huế năm 1936, cả hai đều ảnh hưởng văn chương lãng mạn Pháp, trở thành đôi bạn tri kỷ tri bỉ. Năm 1943 Xuân Diệu ra Hà Nội sống chung với Huy Cận, nhỏ hơn ông hai tuổi. . .

Xuân Diệu tham gia kháng chiến rồi trở thành cán bộ văn nghệ cấp cao của đảng. ông làm ủy viên Ban Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, đại biểu Quốc Hội. Huy Cận trở thành cán bộ lãnh đạo, Thứ trưởng Bộ Văn Hóa-thông Tin. Vì vậy, trong suốt nhiều thập niên, cả hai đều được gần gũi nhau.

Tuy mang bệnh đồng tính nhưng Xuân Diệu cũng lập gia đình với với người đẹp Bích Liễu “lá liễu dài như một nét mi “. Người vợ không được chàng đáp ứng chuyện chăn gối…Mỗi khi Xuân Diệu đi công tác xa, bận họp. . . Bích Liễu tha hồ đế ghe cho từng cây bút trong Hội Nhà Văn cắm sào. . .

Từ đó, hình ảnh Thơ Bút Tre, Ghe Bích Liễu nó đi đôi với nhau và được phổ biến khắp nơi bởi vần tre đi gần với vần ghe “.

Cùng trong thời điểm, Xuân Diệu đồng tính luyến ái với hai người bạn.

BÊN LỀ CUỘC ĐỜI

TTV đề cập đến trường hợp Xuân Diệu vô Nam công tác, ghé thăm Hồ Nghinh, Chủ tịch ủy ban Quân Quản Đà Nẵng để tìm người bạn “tri bỉ” Hồ Cũ. Ông Hồ Cũ bà con với Hồ Nghinh, Hồ Nghinh là anh con chú bác với hai anh em ruột Hồ Liên (Hoàng Bích Sơn, Trưởng ban Đối Ngoại Trung ương đảng, Thứ trưởng Ngoại Giao) và Hồ Đàn (Đinh Bá Thi, Đại sứ CSVN tại Liên Hiệp Quốc, bị thanh toán khi về Việt Nam). Ông Hồ Cũ tuy giỏi Pháp văn nhưng không hành nghề giáo mà chuyển sang ngành Y tá, lập cơ nghiệp ở vùng quê Phú Hội, Đức Trọng. Mối tình ông Hồ Cũ với thân mẫu tác giả – bà LTC- hợp tan rồi hợp. Sau năm 1954 , ông vào vùng quê ở xứ Thượng để tránh nạn, lấy thêm chữ lót Đắc rồi lập nghiệp luôn nơi đó. Vì vậy Xuân Diệu vẫn nhớ hình ảnh người bạn đồng tính xa xưa mà tìm gặp.

Nói về “dây mơ rễ má”, Trần Thy Vân có bà con khá đông đầy chức quyền trong chế độ Cộng Sản, có thể dựa đẫm để sống yên thân làm ăn nhưng bản tính cương trực, gan lì, bất khuất vẫn tàng ẩn trong con người chiến sĩ Biệt Động Quân, đem máu xương bảo vệ màu cờ sắc áo không làm cho anh quỵ lụy. Vào giữa thập niên 80, khi còn ở Đà Lạt, tôi quen với người cùng xóm, anh Hồ Lý, vợ chồng đều là giáo chức. Có lần Hồ Lý đề cập đến người anh em trong gia đình, bị tàn phế, sống bất cần đời, ngang bướng, nghe tin anh và đứa con vượt biên, đoán chừng vào Nam, đi xe lăn sống lây lất qua biên giới để vượt biên đường bộ. Con người này, dám nói dám làm… Nào ngờ người đó, sau này tôi gặp là tác giả của AHBM và THCM, gợi trong tôi vài câu chuyện về hình ảnh năm xưa. TTV cho biết, anh đưa vợ con về tá túc qua ngày đoạn tháng ở Nhà Bè, Sài Gòn, gặp anh bạn lối xóm, thương cảnh ngộ, giúp đỡ hai cha con vượt biển vào tháng 7-83, hai tháng sau được tị nạn tại Hoa Kỳ. Cơm ăn không có, làm gì có vàng để toan tính vượt biển.

Như đã đề cập khi viết về tác phẩm Anh Hùng Bạt Mạng của TTV trước đây “thức trọn đêm để sống với hình ảnh một thời binh lửa do anh viết, vô cùng cảm xúc”, xúc động từ chân thật, nghịch cảnh, oan khiên của tác giả gánh chịu, bi kịch trong gia đình, trong cuộc sống xảy ra trong hoàn cảnh chiến tranh. Vì vậy khi tôi viết những gì biết thêm đôi nét về anh, tôi thận trọng, dọ hỏi ý kiến. Anh cho biết, sự thật không cần gì phải che đậy, trong chiến tranh có biết bao bi kịch, biết bao thảm cảnh như vậy trong mỗi gia đình, nhưng trong lằn ranh Quốc-Cộng, mỗi người có lý tưởng riêng để bảo vệ được thể hiện qua cuộc sống. Con cháu chúng ta sau này biết thêm về thân phận của đất nước nhược tiểu bị xâu xé bởi chiến tranh.

Cuộc đời Trần Thy Vân như chiếc thuyền nan trôi bồng bềnh trên sóng nước, giữa phong ba bão táp. Thân mẫu anh thuộc dòng dõi hoàng phái ở Mỹ Lợi -Huế, thế rồi mẹ con xa cách nhau, qua bao thập niên, “Đại khái tôi với ba nó thôi nhau, sau ảnh chết, còn Vân lưu lạc hồi nhỏ. Đến năm 1970, hai mẹ con gặp lại thì nó đã là lính “ngụy” rồi. Cứng đầu lắm, không ai nói nó nghe “. (THCM trang 173)

Hồi ký Tiếng Hờn Chân Mây ghi lại bức tranh tang thương mà “bối cảnh và các nhân vật trong truyện đều có thật ‘, trong vũng lầy đen tối đó, xuất hiện bông hoa tươi đẹp với mối tình hiếm có trong cuộc đời này đã đem lại nguồn sống cho Trần Thy Vân làm chất liệu để sáng tác.

::: Vương Trùng Dương :::

image003

NHẬN ĐỊNH “TIẾNG HỜN CHÂN MÂY”
NHÂN NGÀY RA MẮT TÁC PHẨM TẠI SAN DIEGO 27-8-2000

::: Nhà thơ Trần Huy Sao :::

… Anh Trần Thy Vân là một nhà văn có nhiều nét đặc biệt. Trước tiên, tôi muốn nói, anh là một chiến sĩ, chín năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân của QLVNCH. Anh là một người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu để giữ gìn quê hương, bảo vệ chính nghĩa và lý tưởng tự do. Ngày 3-3-1974, trong trận chiến xảy ra tại Mộ Đức, Quảng Ngãi, người lính trẻ kiên cường, Trung Úy Trần Thy Vân, Đại Đội Trưởng Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 21, Liên Đoàn 1 BĐQ, bị thương lần thứ hai buộc phải giã từ vũ khí.

26 năm dài đăng đẵng trôi qua, giờ đây, người chiến sĩ hào hùng năm xưa, với chiếc xe lăn là bạn, vẫn tiếp tục chiến đấu kiên cường. Trận chiến hôm nay không là súng đạn. Nhưng anh chiến đấu với ngòi bút sắc bén, với bầu nhiệt huyết cho quê hương. Anh chưa bao giòo và sẽ không bao giờ bỏ cuộc.

Còn nữa. Với vũ khí là ngòi bút sắc bén, anh đã tiến công vào mặt trận mới. Năm 1996, nhà văn Trần Thy Vân đã cho xuất bản tác phẩm “Anh Hùng Bạt Mạng”, một tập hồi ký chiến tranh kể lại những trận đánh hào hùng của binh chủng BĐQ và những địa danh lẫy lừng đã đi vào chiến sử. Ngay từ khi phát hành đợt đầu tiên, tác phẩm đã gây được tiếng vang trên văn đàn Việt Nam hải ngoại. Giới truyền thông báo chí hết lời khen ngợi tác phẩm này. Các văn nhân thi sĩ và những bạn đồng đội cùng chiến trường năm xưa đã viết nhiều bài nhận định và đánh giá cao tác phẩm này. Độc giả Việt Nam hải ngoại tìm đọc, đến nổi tác phẩm này đã được tái bản đến lần thứ hai .

Tiếp nối bước chân “Anh Hùng Bạt Mạng”, tác phẩm thứ hai “Tiếng Hờn Chân Mây” đã được xuất bản và cũng được đón nhận nồng nhiệt. Ngày 16/7 vừa qua, tác phẩm đã được tác giả ra mắt tại Orange County với sự tham dự của gần 300 quan khách. Tạp chí Thế Kỷ 21 đã có bài tường thuật cũng như nhận định là buổi ra mắt sách thành công tốt đẹp. . .

Với những đặc điểm trên, nhà văn Trần Thy Vân đã tạo được nhiều tình cảm đối với bạn đọc, trong số đó có tôi. Ở đây, tôi không làm công việc của nhà phê bình, điều đó quá lớn lao. Tôi cũng không làm công việc điểm sách, sợ rằng sẽ làm mất thêm thì giờ quý báu của quý vị. Tôi chỉ đứng trên góc cạnh của một độc giả bình thường, nói lên những cảm nghĩ riêng tư của mình khi đọc một tác phẩm của một nhà văn mà mình mến mộ…

Ngay trong lời tựa của tác phẩm “Tiếng Hờn Chân Mây”, tác giả đã xác tín một điều: tất cả những câu chuyện, những nhân vật đều là có thật. Tác giả Trần Thy Vân là một người lính, viết truyện về đời lính là chuyện tất nhiên. Nhưng điều tôi muốn nói là giá trị trung thực trong tác phẩm mà tác giả là một nhân chứng, những nhân vật trong truyện hiện đang sinh sống ngoài đời.

Với lòng tự trọng và danh dự trách nhiệm của một quân nhân, anh đã viết với sự trung thực, không cường điệu, không hề hư cấu, không huyền thoại hóa những nhân vật, những trận đánh mà anh đã từng trực tiếp tham dự. Khen chê đúng mức, thương ghét rạch ròi. Anh thẳng thắn nói lên những mặt tốt và xấu của mỗi sự việc, mỗi con người với mỗi thái độ can đảm, dứt khoát, không thiên kiến. Nói như thế có nghĩa.là, tác phẩm đã viết lên tất cả sự thật. Vì sự thật, cho sự thật và bằng bất cứ giá nào cũng phải tôn trọng lấy sự thật. Tôi nghĩ, đó là đảm lược của kẻ sĩ, là nhân cách cao quý của con người, mà “Phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất”.

Một điều mà tôi thấy cũng không kém phần quan trọng thiết nghĩ cũng cần nêu lên đây. Đó là cái “Tôi” trong tác phẩm. Cái Tôi đôi khi rất dễ thương và nhiều khi cũng rất là dễ ghét. Cái tôi có thể là cái rốn của vũ trụ, cũng có thể là cái gai nhọn trong mắt mọi người. Nhưng riêng đối với anh Trần Thy Vân, điều đó không là vấn đề. Bởi vì cái Tôi của anh tựa như dòng sông hiền hòa thanh thản chìm lắng, hòa lẫn theo đồng đội, theo cùng với mọi người. Cái Tôi của anh, nó tự nhiên, dễ thương và cảm động như khi chuyền cho nhau hơi thuốc, ấm tình chiến hữu. Như khi chia sớt cho nhau ly rượu nghĩa tình trong thời gian về hậu cứ dưỡng quân. Hoặc những khi cười đùa, chọc phá nhau qua những câu chuyện “tiếu lâm” đời lính trong khi chờ giờ xuất kích. Bởi vì, tôi biết anh thực sự yêu đời lính, yêu đơn vị, yêu những đồng đội đã sát cánh chia lửa cùng nhau không phân biệt thứ bậc. Những vinh quang chiến thắng, những mất mát đớn đau khi một đồng đội nằm xuống, những gian khổ hiểm nguy cận kề cái chết và những khi vui những lúc buồn dọc dài theo cuộc chiến. Với anh, tất cả, là-của-chung. Không của riêng một ai cả! Bởi thế cho nên cái Tôi của anh rất tự nhiên và dễ dàng hòa tan, quyện lẫn với mọi người. Anh có viết chuyện. Vâng, viết những câu chuyện thật về đời anh, về những đồng đội, về những năm tháng chiến tranh đánh dấu một chặng đường lịch sử đã đi qua. Nhưng anh đâu viết cho riêng anh. Anh cũng không viết để nhằm mục đích tự đánh bóng, tự vinh danh mình. Anh viết với một thái độ trầm tĩnh, có trách nhiệm với lịch sử và, với ngòi bút của một nhà văn có lòng tự trọng.. .

Cũng có thể nói, tác phẩm là tiêu bản tài liệu chính xác về các trận chiến lớn như Mậu Thân 1 968 , Lam Sơn 719 Hạ Lào, Quảng Trị, Khe Sánh, nhất là trận tiến công chiếm lại Sa Huỳnh Quảng Ngãi đầu năm 1973 . Dù không tổng quát toàn bộ nhưng trên địa bàn trực tiếp tham dự, bằng vào trí nhớ rất tốt, tác giả đã ghi lại diễn tiến trận đánh rất.chi tiết. Với giọng văn dung dị, không cố tình chải chuốc. Với bố cục sắp xếp gọn gàng chặt chẽ, tác giả đã dẫn dắt người đọc say mê theo dõi những trận đánh và cứ ngỡ rằng đang xảy ra trước mắt. Nhiều sự việc, nhiều câu chuyện từ trước đến nay chưa hề được công bố nay được tác giả đề cập đến và làm sáng tỏ hơn, gây nhiều hứng thú bất ngờ. Điều quan trọng nhất là đối với lớp trẻ được sanh sau cuộc chiến, tác phẩm này sẽ là một tấm gương phản chiếu rõ nét lớp lớp cha anh đã chiến đấu, đã hy sinh cho lý tưởng tự do. Thế hệ trẻ sẽ có một cảm nhận sâu sắc hơn, một cái nhìn đúng đắn hơn về sự chiến đấu, hy sinh của thế hệ cha, anh mình.

Một thời binh lửa đã qua nhưng hậu quả vẫn còn là vết thương nhức nhối. Hình ảnh của những người thương binh mãi mãi là một hình ảnh bi tráng. Chúng ta hãy lắng nghe anh Trần Thy Vân viết về hình ảnh thương tâm của thân phận người thương binh:

Trời đã sáng tôi nhìn qua khu bệnh viện Duy Tân lần nữa, lần cuối cùng tôi từ giã nó thật sự, khi bốn bánh từ từ lăn ra khỏi bến. Mới hôm nào tôi cũng nói vậy lúc quân thù nhơn danh cách mạng, mặt đằng đằng sát khí, vào bệnh viện chĩa súng đuổi hết thương binh miền Nam ra đường. Ngày ấy làm sao tôi quên, kẻ lăn xe người chống nạng, có anh còn mang đùm ruột bọc ni-lông ngoài bụng với bị máu trên vai, đi ngất ngưởng, đi lang thang, đi mà không biết đi đâu, như những hồn ma bóng quế. (Tr. 30)

Những hình ảnh đó là tất cả sự thật. Cảm xúc bồi hồi đó được bộc phát từ một người thương phế binh khi nhìn thấy thảm cảnh của những bạn đồng đội cùng chung một cảnh ngộ như mình.Còn đau thương nào hơn không? Có sự tàn nhẫn nào hơn nữa?

Chúng ta không thể hình dung nổi, không thể tưởng tượng được 26 năm qua và ngay cả đến bây giờ, số phận và cuộc sống người thương binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như thế nào trong một chế độ đầy dẫy những phân chia và hận thù, như thế?…

::: Trần Huy Sao :::

image003

TRẦN THY VÂN BẠN TÔI

::: Nhà văn Tường Lam :::

Ai đó đã nói: “Làm văn chương là đi vào sa mạc đầy dấu chân người”.

Được tin vui Nhà văn Trần Thy Vân sắp tái bản cuốn truyện dài Tiếng Hờn Chân Mây. Theo anh cho biết, tác phẩm này cũng được rất nhiều bài viết của các nhà văn, báo chí, đài phát thanh và độc giả khen ngợi. Để khỏi bước trùng “dấu chân”, tôi xin có vài nét về Trần Thy Vân, tác giả hai tác phẩm nổi tiếng “Anh Hùng Bạt Mạng” và “Tiếng Hờn Chân Mây”.

Tháng 3/1966, anh và tôi gặp nhau ở đồi Tăng Nhơn Phú, học khóa 22 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, và cùng chung Đại Đội 16. Anh, nước da bánh mật, mình dây, đi đứng nhanh nhẹn và tánh nóng.

Tháng 12/1966 ra trường, tôi về vùng IV, anh chọn Biệt Động Quân. Tám năm, tính đến 3/3/74, ngày anh để lại đôi chân ở mặt trận Quảng Ngài, anh đã giẫm nát các chiến trường từ vùng II ra vùng I, cả Hạ Lào. Hai lần bị thương, lần cuối cùng, không những mất hết đôi chân, thân thể anh còn mang nhiều mảnh đạn để rồi 33 năm sau, 2001 , bệnh viện Garden Grove, Califomia, mới giải phẩu và cũng chỉ gắp ra được một.

Đời lính, anh trải qua nhiều trận đánh, lẫy lừng nhất là cuộc tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, đầu năm 1973. Với quân.số còn nửa đại đội (trước khi xung trận, đơn vị đã bị máy bay bắn lầm, thiệt hại 31 người), anh cùng 50 tay súng Biệt Động lại đánh tan một trung đoàn (trừ) của Cộng quân Bắc Việt. Quả là một chiến tích thần kỳ mà trong quân sử QLVNCH chưa có một đơn vị cấp đại đội hoặc tiểu đoàn nào làm được.

Gian khổ tột cùng. Có lần lính của anh phải đái ra uống, vì hết nước, trước lúc đơn vị anh đơn độc mở đợt tấn công chiếm một mục tiêu trên đỉnh núi cao gần 1000 mét, mà anh gọi đó là “Đỉnh Mùa Đông”, trong dãy Trường Sơn, phía tây Mỹ Chánh Huế. Chúng ta hãy nghe Trần Thy Vân bày tỏ thắc mắc: “Thưởng (Tiểu Đoàn trưởng) bảo ‘ráng‘ đi, tôi chả hiểu ráng cái gì, ráng chiếm mục tiêu hay ráng đái uống?” (AHBM-chương QHCPM).

Nước đâu còn để đái đây, Trung Úy Trần Thy Vân ơi !

Chiếm được căn cứ Jackson trong khi nhiều đơn vị bạn có đến cấp tiểu đoàn không kham nổi. Ta hãy nghe Trung Úy Đại Đội trưởng Trần Thy Vân thắc mắc khi mục tiêu vừa chiếm được, còn nồng nặc mùi thuốc… súng và máu người:

“- Không hiểu của ai (từ trên trực thăng) ném xuống một cây Lucky, rồi bay tuốt vào đám mây mất dạng. Sao họ không cho kết nước ngọt nhỉ, chứ thuốc lá thì nước miếng nước bọt còn đâu nữa mà hút? Cây Lucky trị giá bằng 40 mạng Biệt Động Quân vừa ngã gục. Dẫu sao cũng hơn các lọ dầu cù là ông Tiên vợ chồng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tặng lính trị cúm lam sơn chướng khí trong cuộc hành quân Lào 1971 “ (AHBM-chương QHCPM).

Với 18 huy chương loại Anh Dũng, đa số là vàng và nhành dương liễu với hai Chiến Thương Bội Tinh trên ngực áo, Trần Thy Vân, bạn tôi đã đóng góp quá nhiều xương máu cho quê hương tổ quốc.

Sau những năm dài mất nước, lưu vong xứ người, hằng tuần chúng tôi vẫn liên lạc nhau qua điện thoại, nhắc lại bao kỷ niệm trên chiến trường xưa, tới Hạ Lào; tôi thường nghe anh thở dài:

“Nỗi buồn thế thái nhân tình nhẹ nhàng như một tiếng hờn dù đã xa ngoài chân mây“.

Tôi hãnh diện thưa với mọi người, bạn tôi Trần Thy Vân, một sĩ quan ưu tú của QLVNCH, một nhà văn, một con người kiệt xuất, lẫy lừng.

Kansas City 20-11-2005
::: Tường Lam :::

image003

CHIẾC XE LĂN TRÊN ĐƯỜNG “BẠT MẠNG”

::: Nguyễn Văn Lập :::
(Nhật báo Viễn Đông – Mẹ Việt Nam – Khoẻ Đẹp 7/2000)

Khoảng 300 quan khách thân hữu và một số các cơ quan truyền thông báo chí đã đến tham dự buổi ra mắt “Tiếng Hờn Chân Mây” của nhà văn Trần Thy Vân, vào trưa ngày Chủ Nhật 16/7/2000 tại Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, thành phố Santa Ana, Calif.

Trong phần nhận định về quyển sách, Giáo sư Trần Đức Thanh Phong nói, người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa dù thất bại hay chiến thắng vẫn giữ vững tấm lòng yêu nước và trung thành với Tổ Quốc làm kẻ thù phải kiêng nể.

Nhà văn Thảo Trường cho rằng, quyển sách tưởng như hư cấu nhưng là những chuyện đã xảy ra trong đời sống thực của những người lính. Trần Thy Vân không phải là kẻ bại trận như anh đã tự nhận, vì anh đã bị thưong giải ngũ một năm trước ngày mất nước. Lời văn của tác giả rất sâu sắc, tinh tế và súc tích. Ngoài tài viết văn tác giả còn là một nhà thơ.

Nhà báo Lý Kiến Trúc, báo Văn Hoà, nói đoạn gặp lại kẻ thù cũ, cả hai không còn coi như là những người thù trước kia nhưng tác giả vẫn giữ được bản sắc của người sĩ quan chỉ huy đại đội, thẳng thắn, không khoan nhượng nếu không muốn nói là rất hãnh diễn làm một cấp chỉ huy của QLVNCH. Người Đại Đội Trưởng Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân, năm xưa đã làm cho viên Đại Đội Trưởng C7 tên Đường của bộ đội Bắc Việt cũng như một số bộ đội phải cảm nể. Điều này làm cho Trần Thy Vân thêm tư thế để thuyết phục cả hai bên, những người từng đối mặt trong các mặt trận tây nam Huế và Quảng Trị phải có cái nhìn đứng đắn về tinh thần chiến đấu anh dũng của QLVNCH.

Nhà báo Đặng Trần Vũ trong phần giới thiệu về tiểu sử của tác giả, đã nhấn mạnh đến ý nghĩa của “Tiếng Hờn Chân Mây” là tiếng thét oán hờn cho vận nước đau thương, cho thân phận lưu vong của người lính. Trần Thy Vân tuy tàn phế đôi chân nhưng vẫn hăng hái tham gia những sinh hoạt để biểu lộ lòng yêu nước, lòng yêu đơn vị của anh.

Có thể nói tác giả là người lính đặc trưng của tình yêu quân ngũ. Anh tiếc là không còn cơ hội để phục vụ quân đội bảo vệ quê hương được nữa.

Xen kẽ chương trình là phần văn nghệ. Các nghệ sĩ đa số là bạn bè đã cảm mến và đến với Trần Thy Vân như một sự biết ơn về những mất mát một phần thân thể mà anh đã để lại trên chiến trường cho những người khác được sống còn.

Chiếc xe lăn của người lính Biệt Động Quân Trần Thy Vân đã lăn bạt mạng trên đường vô định. Những tháng ngày còn lại của anh tại Orange County cũng đã làm được nhiều việc có ích cho đồng đội và cho đời. Anh đã gởi về 50 chiếc xe lăn để tặng các thương phế binh QLVNCH, một việc làm âm thầm mà thật nhiều ý nghĩa.

::: Nguyễn Văn Lập :::

image003

Trích bài giới thiệu hai tác phẩm nhân ngày nhà văn Trần Thy Vân ra mắt sách
“Anh Hùng Bạt Mạng” và “Tiếng Hờn Chân Mây”
tại Edmonton, Canada tháng 12-2000

::: Người Sông Hàn :::

Hôm nay là ngày giỗ thứ 25 của Trung Tá Võ Vàng, người chỉ huy tiền nhiệm của anh Vân, nguyên Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân, cũng là.người bạn.thân thiết của tôi, những năm cùng học tại trường Quốc Học Huế.

Trước khi vào nội dung hai tác phẩm Anh Hùng Bạt Mạng và Tiếng Hờn Chân Mây, tôi xin sơ lược tiểu sử anh Trần Thy Vân…

… Tác phẩm thứ hai của anh xuất bản tháng 7năm 2000 tại Nam California Hoa Kỳ, hình bìa do hoạ sĩ Hồ Thành Đức minh hoạ, cũng được viết lại dưới dạng hồi ký, gồm 200 trang.

Trong bài có tựa đề “Trận Chiến Cực Bắc TchéponeLào”, tác giả ghi lại cuộc gặp gỡ kẻ cựu thù tại thôn R’chai, thuộc quận Đức Trọng Lâm Đồng, với một số bộ đội Sư đoàn 304 CSBV, như Trung Úy Đường, Đại Đội trưởng Đại đội C7, và các cán binh như Bình, Tuất, Hồng… (Đại Đội C7 này đã nhiều lần đụng độ ác liệt với Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 2 1 BĐQ của Trần Thy Vân) . Cùng gặp nhau nơi chốn thâm sơn cùng cốc, kể cho nhau nghe những trận đánh vào sanhra tử giữa hai kẻ cựu thù, đã nhiều lần đối mặt nơi chiến địa… Đường, Tuất, Bình, Hồng…tỏ ra có thiện cảm, có nhân tính đối với người thương binh của chế độ miền Nam cũ.

Theo nhận xét của tôi, nếu Tiếng Hờn Chân Mây, tác phẩm được xuất bản vào thời điểm năm 1995 sẽ phải gặp sự chống đối của một số hội đoàn chính trị, hoặc các phân tử chống Cộng cực đoan cho rằng tác giả dùng diễn đàn văn nghệ tuyên truyền cho lòng nhân ái của Cộng Sản. Tuy nhiên với thời điểm năm 2000, nhiều quan điểm được thay đổi -chúng ta có cái nhìn rộng rải và phóng khoáng hơn về quan niệm nhân sinh…

Trong bài có tựa đề “Vinh Sơn Chiến Sử”, tác giả đã vẽ lại cuộc chiến bất khuất của những người Quốc Gia yêu nước như cha Vàng và một số anh em sĩ quan đã cương quyết không vào tù, dùng Vinh Sơn để làm pháo đài chống lại Cộng Sản. Tuy không thành công, họ cũng đã thành nhân. Trong vụ nhà thờ Vinh Sơn tôi được hân hạnh quen biết Luật sư Nguyễn Khắc Chính, ông giữ chức vụ cố vấn luật pháp cho tổ chức. Trước năm 1975, ông là luật sư toàthượng thẩm Sài Gòn. Năm 1976, tôi ở trại tù A30, được biết vụ Vinh Sơn xét xử tại Sài Gòn và có nhiều án tử hình. Riêng Luật sư Chính bị án chung thân, đưa ra thụ hình tại trại giam Xuân Phước, thuộc quận Đồng Xuân, Tuy Hoà. Tôi cứ nghĩ với bản án chung thân dưới chế độ lao tù hà khắc của Cộng Sản thì chỉ có chết trong ngục tù, nhưng năm 1996 , tôi sang Hoa Kỳ, quận Cam Califomia, thăm người em mới sang Mỹ theo diện Ho, tình cờ gặp lại Luật sư Chính. Anh cho tôi biết ra tù năm 1993 , sang Mỹ 1 994, cũng theo diện HO…

Cũng Tiếng Hờn Chân Mây trong bài viết: “Xuân Diệu Nhà Thơ Đồng Tính Luyến ái”. Qua bài này chúng ta biết thêm về thi sĩ Xuân Diệu, một nhà thơ nổi tiếng trong thời tiền chiến, ngoài người vợ là Bích Liễu viết báo, ông còn mắc thêm chứng bệnh đông tính luyến ái. Không hiểu do tình cờ hay định mệnh đưa đẩy của lịch sử, hai dòng họ lớn của đất Quảng Nam là Hồ và Phan, đều có thân nhân ở cả hai miền Nam-bắc.. Tôi biết gia đình anh Trần ThyVân cũng có nhiều thân nhân ở phía bên kia. Nhưng anh đã chọn lựa cho mình một thái độ dứt khoát, một lập trường kiên định: không thể nào hợp tác với người cộng sản, anh vượt hẳn ý chí của một Từ Hải, kẻ hữu dõng vô mưu trong truyện Kiều:

Bó tay về với giặc Hồ,
Hàng thần
láo phận mìnhra chi.

Do đó, với nửa phần thân thể còn lại, anh quyết tâm vượt biển tìm tự do.

Hai mươi sáu năm dài đằng đẵng trôi qua, người sĩ quan Biệt Động hào hùng năm xưa, nay với chiếc xe lăn là bạn, vẫn tiếp tục chiến đấu không ngừng bằng cách gởi về Việt Nam 50 chiếc xe lăn cho số anh em thương binh bất hạnh còn kẹt lại ở quê nhà. Trần Thy Vân với lòng tự trọng và danh dự trách nhiệm của một quân nhân, qua hai tác phẩm mà anh đã xuất bản, anh đã viết với sự trung thực, anh đã dám nói thẳng, không khoan nhượng, không cường điệu mọi bất công trong đời quân ngũ mà anh gặp phải. Tôi khâm phục nhân cách đó của Trần ThyVân.

Người Sông Hàn
Edmonton, Canada, Lập Đông năm 2000

image003

Trần Thy Vân Ra Mắt Tác Phẩm Thứ Hai
“TIẾNG HỜN CHÂ MÂY”

::: Anh Thành :::
Nhật Báo người Việt số ra ngày 21-7-2000

Hơn 300 người đã tham dự buổi ra mắt tác phẩm thứ hai của nhà văn Trần Thy Vân: Tiếng Hờn Chân Mây, tại Trung Tâm Công Giáo, Giáo Phận Orange County, vào chiều ngày Chủ Nhật 16 tháng 7 năm 2000.

Sau nghi thức thường lệ, bà Nhất Phương, MC, giới thiệu nhà văn Thảo Trường lên nói về tác phẩm Tiếng Hờn Chân Mây của tác giả Trần Thy Vân. Theo Thảo Trường thì bút pháp của tác giả có một sức lôi cuốn độc giả đặc biệt. Tiếng Hờn Chân Mây được mô tả như là một cuốn hồi ký sống động của tác giả với những nhân vật có thật, những sự kiện có thật trong một bối cảnh lịch sử có thật mà tác giả đã chứng kiến, đã trải qua, đã được đưa đến trước mắt người đọc như thể độc giả đang chứng kiến hay đang trải qua vậy.

Giáo sư Trần Đức Thanh Phong đã nói về những nhân vật trong tác phẩm Tiếng Hờn Chân Mây mà Trần Thy Vân sử dụng bằng những lời văn nhẹ nhàng, bình dân hợp với những câu nói của các nhân vật mà Trần Thy Vân không phải mất công dựng nên mà ông chỉ làm cái việc đưa nhân vật của ông ra ánh sáng, tức là ra tác phẩm mà thôi. Trần Thy Vân nói về tâm trạng của những người lính chiến đấu cũng như tâm trạng của chính ông khi nhìn đồng đội ngã gục tại chiến trường trước mắt ông. Một điều có thể gây xúc động đến bạn đọc khi ông viết về chính chuyện của ông đã bị một quả mìn cắt đút đôi chân ngay tại chiến trường.

Nhà văn Đặng Trần Vũ cũng lên nói về tác giả Trần Thy Vân.Trong chín năm quân ngũ, Trung úy Trần Thy Vân được 18 lần tưởng thưởng huy chương đủ loại. Ông vượt biên đến Hoa Kỳ 1983. Ông có nhiều hoạt động trong cộng đồng và đặc biệt đã vận động gởi về gần 50 chiếc xe lăn cho các phế binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong lời nói đầu của tác phẩm thứ hai, Tiếng Hờn Chân Mây, Trần Thy Vân đã viết rằng “Tiếp theo truyện dài Anh Hùng Bạt Mạng, in 1996, rất thu hút người đọc, đã tái bản nhiều lần trong thập niên qua; Tiếng Hờn Chân Mây cũng được viết lại từ hồi ký của tác giả về thời chinh chiến Việt Nam… Bối cảnh, sự kiện, và các nhân vật trong truyện đều có thật. . . “.

Trong tác phẩm này bạn đọc sẽ chia sẻ những tình cảm chân thật nhất của tình đồng đội, tình người qua tâm tình của một người cầm súng gìn giữ quê hương và những đau thương chồng chất của một thương phế binh sau ngày rã ngũ.

Trong Tiếng Hờn Chân Mây, tác giả tiết lộ lần đầu tiên chuyện đồng tính luyến ái của nhà thơ Xuân Diệu với một thân nhân của tác giả mà chính ông đã có dịp chứng kiến và biết rõ câu chuyện.

Tiếng Hờn Chân Mây là tác phẩm in đẹp dày trên 200 trang, bìa của họa sĩ Hồ Thành Đức, tranh minh họa tác giả do họa sĩ Hiếu Đệ vẽ

Anh Thành

This entry was posted in Trần Thy Vân, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

One Response to TIẾNG HỜN CHÂN MÂY (Trần Thy Vân)

  1. linhvnch says:

    Cám ơn Anh – Người Anh Hùng Xứ Quảng ( BĐQ) Bài viết thật cảm động chân tình

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s