2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Dương Đình Lôi & Xuân Vũ): Q. V

Chương 91

Tướng đầu đỏ tưởng bở nhào vô Sè Goòng coi đã hết sức bà con ơi!

Một bữa trưa tôi mở đài Sài Gòn nghe tin tức để biết hiện giờ quân ta làm chủ được bao nhiêu phần đất của Sè Goòng rồi. Nào là Tổng Tham Mưu, Tổng Nha Cảnh Sát, Đại Sứ Quán Mỹ, đài phát thanh v.v… Nghe đài Giải Phóng nói thì ta đã làm chủ tình hình hết ráo rồi. Bỗng nghe đài phát ra một giọng mỉa mai:

… Tội nghiệp, có lẽ đây là lần đầu tiên thằng cháu bác Hồ thấy chiếc xe bình bịch. Chàng khoái quá bèn bảo ông chủ nhà mở máy cho chàng cỡi thử. Chàng ta leo lên khuỳnh tay, tưởng như xe đạp, mở hết ga tốc độ. Chiếc xe vọt như bay, cháu bác Hồ không biết tốp lại bằng cách nào, xe đụng vào tường nhà. Chàng ta vỡ sọ… há há

Tôi nghĩ như vậy quân ta cũng có vô được trong đó rồi. Nhưng mà vô tới đâu? Không nhất thiết ở giữa Sài Gòn mới có xe bình bịch.

Vừa tới đó thì có tiếng chân đi vào. Tôi ngó ra thì thấy hai người lôi thôi lếch thếch đi vào. Đó là Năm E quận đội trưởng và Sáu Hùm tham mưu trường quận đội Nam Chi. Mỗi người vác trên vai một bao con.

Từ ngày Tám Giò chết vì một quả pháo mồ côi ở Bố Heo thì chức quận đội trưởng cứ thay như thay tã. Cứ anh này lên được vài bữa là ngủm rồi anh khác lên, tới Năm E là người thứ tư. Còn Sáu Hùm là em Năm Hổ xã đội trưởng xã Phú Hòa Đông không biết tí nào về quân sự nhưng cũng bị bắt lên làm tham mưu trưởng quận cho có vị.

Tôi hỏi ngay hai người:

– Có việc gì hay đến thăm chơi vậy hai cha?

Năm E đáp:

– Lúc này ai rảnh mà đi thăm ai thầy Hai. Nghe nói thầy vừa làm được một cú ngon lành, tụi tôi đem đồ nhậu tới làm một bữa, sau đây cũng nhờ thầy phụ lực.

– Phụ lực việc gì. Tôi cũng bận lắm.

– Để nhậu ba sợi rồi hãy bàn. -Năm E trỏ hai cái bao và nói- Đây là hai bao, một bao là khô cá kèo, một bao là tôm khô Tôi ở dưới Phú Hòa Đông đóng đáy được khá lắm nên đem phơi khô để dành khi ngồi thum. Nhưng lúc này phải vớt đáy lên phơi rồi, vì tụi giang thuyền Bình Dương cứ thả rề lên rề xuống gặp tụi tôi là nó rỉa tiêu hết… Chịp…thà được làm chức D phó của anh, như Tư Quân mà còn sướng hơn là làm quận đội trưởng như tôi anh Hai à.

Tôi cười:

– Bộ anh tưởng tôi làm Dê trưởng khỏe lắm sao mà đòi làm Dê phó?

– Mệt thì cũng mệt có chập, còn làm “cu dê trưởng” (quận đội trưởng) mệt cầm canh anh ơi!

– Thì tại anh có mang thêm chữ “cu” (q) nên mới mệt.

– Từ nổ súng tới nay tôi chỉ làm liên lạc thôi chớ có chiến đấu trận nào.

Sáu Hùm tham gia vào câu chuyện:

– Đánh giặc như thầy, Bảy Nô nằm dưới sông Lòng Tào cũng mát bụng. Chỉ tội bà Út Lan một hai mươi ngoài !

Năm E ngó quanh thấy không có ai khác bèn nói:

– Tôi lên thăm anh chút, còn nhờ thì nhờ nhiều. Chiều nay nhờ anh cho một tổ trinh sát đi với tôi bố trí mấy chuyện. Sau đó, sẵn dịp tôi rước hai ông Tám Thế và Hai Thành về làm quận đội phó.

Tôi nói:

– Hôm nọ chính anh đưa trung đoàn mũi nhọn qua sông đi xuống Sài Gòn, nay bộ đưa mũi nhọn đi nữa hả?

– Không, kỳ này rước ông kẹ bự.

– Bự cỡ nào?

– Cỡ nào không biết mà thằng quận đội trưởng này phải đích thân lâm liên lạc. À quên, trong bao còn có một ít đồ hộp Trung Quốc nữa.

– Đồ hộp Trung Quốc ở đâu mà anh có được?

– Ông Sáu Hùm tham mưu trưởng của tôi đi chôm của hậu cần khu giấu trong rừng để dành cho công trường R, chớ cỡ tụi tôi làm gì có đồ quý đó . Bắt cóc nhái ăn cho có.

– Anh ở gần đường dây có nghe tình hình gì không?

Năm E lại dáo dác ngó quanh:

– Tình hình gì? Lính chạy vọt về thấy mà tội nghiệp. Tụi nó chửi bới, la lối với nhau tôi nghe lóm chớ tôi biết cái gì.

– Tụi nó la lối ra sao?

– Tụi “cứt ngựa” bảo là đảng bác đem con bỏ chợ.

– Đám Q16 đâu có vô đợt một, chỉ toàn mũi nhọn của Tư Nhựt.

– Có chớ. Tụi nó về nói giọng trọ trẹ địt mẹ địt bố om xòm tôi nghe mà. Còn mũi nhọn của Tư Nhựt thì tà ngay trận đầu -Năm E rĩ tai tôi- Năm Sài Gòn và ban chỉ huy rụm hết. Tư Nhựt nghe đâu cũng không còn.

– Trận nào?

– Tôi đâu biết trận nào! Nghe rõ càng xót ruột nên tôi làm bộ không nghe gì hết cho xong.

– Mình phải nhìn nhận sự thực chớ giấu được sao?

– Với ông tôi mới nói, ông đừng có lặp đi lặp lại, tôi sẽ chối nghen. Ông hứa đi tôi mới nói.

– Ừ, hứa thi hứa.

Khô cá kèo chiên và tôm khô ngâm dấm dọn ra. Chúng tôi vừa nhậu vừa tâm sự. Tôi biết Năm E sợ kỷ luật vì nói thật những tin tức bại trận (Bọn Việt Cộng thì bao giờ cũng la lối “đại thắng”) nên không dám nói hết. Tôi bèn phục rượu cho y. Rượu vào lời ra.

Cạn độ nửa chai đế, tôi mới quẹo chuyện vó Sài Gòn. Năm E hơi nóng mặt bảo:

– Tôi thấy lính lvịt xiêm về tới đây la lối bất mãn quá anh Hai ạ. Chúng nó nói là đánh giặc gì không biết giặc ở đâu chỉ huy lại không ra lệnh được. Tụi nó nói thấy đèn đuốc đường sá của lính Sài Gòn thì cóng tay cóng chân hết ráo. Nhiều đứa đầu hàng dữ lắm.

– Ai đầu hàng?

– Tụi Bắc Kỳ của lính ta chớ ai. Nam Kỳ cũng vậy… vừa xuống tới Phú Hòa Đông là đã có một ông dê phó cuỗm một bà y tá hay dân công gì đó trốn, dông thẳng ra Sài Gòn, làm cả cuộc hành quân phải đổi hướng. Ban chỉ huy lên ruột… Rồi khi nổ súng, một tham mưu trưởng trung đoàn đã dẫn một đại đội chạy vô Ngã Ba Hàng Xanh đầu hàng luôn (ông dê phó là Năm Hốt tự Năm Bụng dắt cô Hà y tá . Còn tham mưu trưởng trung đoàn là ông Phan Vân Xướng, cùng đi trong chuyến hồi chánh tập thể này có Bùi Thiện, Đoàn Chính, Cao Huynh, Nguyễn Long là học sinh Hà Nội bị lùa vào đường Trường Sơn Giải Phóng Miền Nam).

Tôi gạt ngang:

– Không có đâu ! Đó là tin phao đồn của tụi lính Sài Gòn để làm lính mình mất tinh thần. Sự thực trung đoàn mũi nhọn đang đánh và chiếm từng phần vô Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung là trường tân binh của tụi nó. Và hiện giờ sân bay Tân Sơn Nhất đã tê liệt hoàn toàn. Mình còn vô tới đề lao Chí Hòa thả hết tù chính trị, giết chết hết bọn cai ngục. Cái đài Sài Gòn đang nói ồm ồm là một cái đài khác ở địa điểm bí mật, chớ cái đài trước kia đã bị đám đặc công N10 đánh sập rồi. Tôi có gặp tụi thằng Tăng thằng Tẻo bên An Phú. Tụi nó thuật lại trận đánh cho tôi nghe đây mà, làm gì có chuyện đó.

Năm E thấy tôi nói lướt, khỏa lấp các mẩu tin của y thì hơi nhợn. Y cũng thừa biết tôi ở gần mặt trời hơn y, nhưng vẫn còn lải nhải chớ không im hắn. Y nói gượng:

– Ờ chắc không có lý đâu. Tụi Sài Gòn nó đồn bậy.

Tôi đổi đề tài:

– Anh nói đón ông bự nào?

– Ông già hớt cua đầu bạc trắng lần nào xuống đây cũng ghé chơi với anh.

– À tôi biết rồi.

– Cả Bộ Tư Lệnh Tiền Phương…

– Bây giờ tập họp trên R. Tôi mới gặp mấy ổng đi ngang qua đây!

– Còn một mình ổng thôi. Nay anh gặp không tài nào nhận ra. Râu dài như cụ Hồ, tóc xửng lên như bông gáo, mặt đen thui, y như thằng mọi.

Tôi ngồi im nhìn mấy thỏi khô cá kèo nằm trên dĩa. Năm E hỏi:

– Anh định kế hoạch vô đợt hai thế nào?

– Cá của ông quận đội nướng thật ngon.

Năm E cười ngất. Chắc y cho tôi say, nói lạc đề. Chớ y không ngờ tôi đang nghĩ tới tài nướng quân của bọn chỉ huy cao cấp. Chúng nó cầm que củi đút vào lò tay không biết nóng. Chúng nó rắc mớ cá kèo lên vỉ đỏ than. Những con cá còn ngáp ngáp dãy lia trước khi chết, chúng nó cũng không biết nóng.

Năm E đang uống ngon lành bỗng vỗ vế:

– Bọn Sài Gòn bảo đã bắt được xác Trần Độ hồi mình mới vô đợt một.

Tôi nhảy dựng lên:

– Hồi nào?

– Tôi nghe đài Sài Gòn nói rõ ràng mà. Nó bảo là trong ba-lô có quân hàm vàng chóe hắn hai ngôi sao. Hai ngôi sao là trung tướng phải không anh? Nhưng tôi cho là Năm Sài Gòn.

(Tôi nhớ lúc chia tay, Năm Truyện đổi ba lô bao tử trâu miền Bắc lấy ba lô Mỹ của tôi. Trong lúc soạn đồ anh có cho tôi xem cặp quân hàm trung tá của anh. Năm E nói đúng!)

Nhưng tôi vẫn hỏi gặng:

– Sao anh biết không phải là Trần Độ?

– Tôi hứa chắc với anh không phải là Trần Độ mà ! Trần Độ tên Chín Vinh phải không?

– Sao anh biết?

Năm E cười có vẻ tự đắc. Rồi y kể cho tôi nghe tại sao y chắc đó không phải là xác Trần Độ.

…. Chiều mùng Hai Tết tôi và Sáu Hùm đem ghe máy băng qua sông, lên bên Phú An cặp đường 14. Lính nhà mình đi xuống Sài Gòn dội về từng tốp, tôi gặp thiếu gì! Tôi buộc ghe máy xong đi tới chỗ hẹn ở gần ngã ba đường Đất Đỏ. Đây là công tác đặc biệt nên liên lạc hỏa tốc của ông Ba Xu đem lệnh thẳng xuống Nam Chi cho tôi, bảo đúng giờ hẹn ra đó để đón ông kẹ đưa qua sông đi xuống Sài Gòn. ông dặn tôi phải cẩn thận. Tôi và Sáu Hùm đi gần tới nơi thì Sáu Hùm nắm tay tôi lôi thụt lại, nói nhỏ:

– Lính Mỹ! Bỏ mẹ rồi!

Hai đứa nhảy tránh vào bụi. Tôi ngó cổ ló ra. Một tốp lính áo vàng lố nhố đang chỉ chỏ phía bờ sông. Ở chỗ này tụi giang thuyền cũng thường đổ bộ nằm im để chơi chúng tôi vì chúng biết đây là đường dẫn cán bộ, bộ đội qua sông. Tôi nhìn kỹ thì thấy đám người đội nón cối, mang B40, một người đứng gần chúng tôi nhìn đeo K54 quàng ngang ngực kiểu tập kết. Lại có vài ba bộ bà ba đen lẫn trong đám. Tôi bảo Sáu Hùm:

– Mấy chả đó ông nội ơi, không phải lính Mỹ đâu.

Rồi hai đứa đi tới. Một anh nón cối lùn bân hỏi giọng Bắc:

– Các anh có phải nà quận đội không?

– Dạ tôi đây! -Tôi đáp.

– Đúng dồi! -Anh kia mừng rỡ kêu lên.

Tôi cũng nghĩ bụng: Vậy là mấy cha này rồi. Anh Lùn dắt tôi đi tới trước mặt một ông to béo đang ngồi ở một mô đất nón cối trật qua một bên cổ, dây súng choàng trước ngực, cất giọng trọ trẹ:

– Trong hai anh có anh nào tên Năm E không? -ông ta vừa đứng lên vừa hỏi.

– Dạ tôi. Còn anh này là Sáu Hùm.

– Tôi lắm. Anh là quận đội trưởng Nam Chi phải không ?

– Dạ phải.

Trời đã chạng vạng, nhưng tôi còn trông rõ mặt ông to béo kia. Miệng ông ta hô kiểu bàn nạo Bến Tre, mắt lồi, mặt dài ngoẵng, trông rất xấu xí. Áo ông ta mở nút phanh ngực, tay lại cầm gậy cán ngoéo để một bên với xắc -cốt da. Quần áo ông cũng như đám người kia, ka-ki vàng loại phát cho bộ đội về Nam (cũng có đám mặc đồ cứt ngựa). Ông ta tự giới thiệu:

– Tôi thứ chín, kêu tôi bằng anh Chín. Tên tôi là Vinh, nhưng cứ kêu tôi anh Chín cũng đủ. Trường hợp đặc biệt lắm mới kêu tên tôi.

– Dạ!

– Nhờ đừng kêu tên nhé! Bí mật quân sự!

Rồi ông hất hàm hỏi:

– Các anh có được bao nhiêu ghe xuồng?

– Dạ, không có chiếc nào hết.

– Rồi làm sao mà công tác?

– Dạ, tụi này mượn của hậu cần khu, công tác xong thì trả ngay cho họ cất giấu để máy bay thấy đánh tiêu hết.

– Mỗi chiếc tải được bao nhiêu người gồm cả súng ống RPD, AK, B40, B41 ?

– Dạ, tụi em vừa chở E mũi nhọn, một chiếc được hai chục người, mình còn bao nhiêu nữa thủ trưởng?

– Suỵt! Anh Chín! Quên rồi sao?

– Dạ. Anh Chín.

Ông ta quay mặt lại anh lùn lùn, chắc là đội trưởng bảo vệ. Cả đội gồm trên dưới sáu chục lính.

Thấy ông có vẻ gấp rút, tôi bèn đáp:

– Có lẽ phải đi hai chuyến, anh Chín.

– Nghĩa là sao ?

– Nghĩa là mỗi chiếc chở mười lăm người. Mỗi chuyến đi được ba chục người. Chở tới nơi xong quay lại chở một chuyến nữa.

– Như vậy ai đi trước tới nơi phải chờ tốp sau đến rồi mới cùng đi.

– Dạ phải! Đi như vậy cho nhẹ chạy mới nhanh.

– Qua sông phải mất mấy phút?

– Dạ nếu vọt qua bên kia thì mất mười lăm phút thôi, nhưng mình phải chạy dọc theo sông, chừng mười phút thì mới đến bến lên bờ được.

– Là bao xa ?

– Dạ chừng một cây số rưỡi.

– Như vậy có an toàn không ?

– Dạ an toàn. Chúng tôi có bố trí du kích gác. Nếu có giang thuyền từ Bình Dương lên thì bắn báo động.

Ông ta giơ tay coi đồng hồ và nói:

– Bây giờ là sáu giờ, thôi đi cho sớm !

– Dạ, anh Chín không phải lo. Đến nơi, có quán anh Chín uống nước dừa tươi hoặc uống xá xị, la de, đợi tốp sau đến rồi đi tiếp.

– Vô quán lộ bí mật hết sao ?

– Dạ đây là quán của vợ con cán bộ xã bán. Lúc trước các đoàn của anh Năm Truyện, Tám Hà đi xuống đây và cũng ghé quán đó.

Ông ta vỗ vai tôi:

– Hỏi cho biết chớ tôi tin ở anh chớ!

Tôi cho mười lăm người xuống mỗi ghe. Anh Chín ngồi ở giữa chiếc sau. Tôi bảo xả hết tốc lực băng thẳng qua phía bên kia sông rồi cập bờ chạy xuống đổ bến thuộc đất ấp Phú Yên, ngay quán kinh tài xã Trung An.

Ông ta mừng quýnh đứng dậy chộp rộp làm chiếc ghe lắc lư. Anh tài công la:

– Ông gì ơi! Làm ơn ngồi xuống để lật ghe bây giờ.

Ông ta ngồi xuống, với giọng run run bảo tôi:

– Anh anh… Coi chừng hai đầu có tàu tới không ?

– Dạ không có đâu thủ trưởng. Ủa… anh Chín. Hễ có là du kích báo động ngay.

Tôi cho mấy cậu lính trước mũi bước lên và bảo:

– Các anh đi qua hai phía quán ngó chừng để anh Chín lên sau.

Ông ta bước thật dài rồi tới mũi ghe nhảy phóc lên bờ. Tôi nhảy theo và đẩy ông ta vào quán ngay.

Trời chiều, mặt trời vừa khuất. Mặt sông gợn lên những lượn sóng ngắn tấp vào bờ dồn dập. Hai chiếc ghe quay mũi trở lại hướng cũ, sóng cuộn sau lái như loài thủy quái dậy. Trông vẻ mặt nhớn nhác của ông ta, tôi trấn tĩnh:

– Ở đây dân chúng đang trúng mùa, cuộc sống bình yên lắm anh Chín à.

Ông ta ngồi lặng thinh không dám hỏi han gì hết. Có lẽ sợ lòi cọng rau muống ra miệng. Tôi hiểu vậy nên không gạ chuyện ông ta nữa, nhưng đám bảo vệ tán phét râm ran ngoài bờ dừa.

Mấy đứa con chủ nhà chạy ra dòm và cười khúc khích.

– Đám Bắc Kỳ này lại xuống oánh Sài Gòn tiếp với đám kia chớ gì ?

Câu nói của một cô bé làm ông ta nhìn tôi sửng sốt, ý bảo: vậy thì bến này lộ bí mật rồi!

Tôi khẽ xua tay ngầm đáp: không sao đâu anh Chín.

Ông ta không biết rằng nơi đây là đầu dây đưa nhiều đơn vị đi Sài Gòn rồi, nào phải riêng có ông ta. Tôi định bước ra nhắc nhở đám vịt xiêm bảo khép mỏ lại đừng có pa tăng nữa mà ông Chín teo… ruột, nhưng ông ta níu tôi lại.

– Anh ở đây có gì tôi. . . hỏi! -Rồi kề tai tôi- Kỳ này tôi đề bạt cậu lên cấp trung đoàn. Còn cậu kia là gì?

– Dạ, nó là tham mưu trưởng quận đội. -Tôi nói to lên và trỏ Sáu Hùm.

Nhưng ông ta vẫn xầm xì:

– Các cậu khá lắm. Cậu kia lên D trưởng nhé.

Thấy ông chủ quán để ý tới Chín Vinh hơi nhiều thì tôi cũng hơi ngại. Nhưng đó là cách ăn mặc của ông ta. Quân phục ka ki vàng ngoách, đầu đội nón cối, tay lại chống gậy, mang giày bố, nửa giống lính mã tà Tây, nửa pha nông dân miệt rẫy.

Thấy mấy cô gái bu tới xem, cô nào cũng mặc áo màu bằng lụa hoặc vải bông, quần lãnh láng mướt, ông ta hỏi:

– Bộ các cô là văn công đang diễn kịch ở đây à ?

– Dạ không phải đâu anh Chín. Các cô là con gái trong xóm, chiều chiều ra bờ sông hứng mát thôi.

– Sao ăn mặc như văn công vậy?

– Dạ họ ăn mặc như vậy hằng ngày chớ không phải chưng diện gì đâu.

Ông chủ quán chặt dừa nạo cho con gái đem ra mời ông Chín, ông ta vừa cám ơn vừa nhìn hàng dừa xiêm lùn trái sai oằn và hỏi:

– Dừa “bé ” sao nhiều trái quậy?

Đám con gái cười rần về cái tiếng “bé ” của ông, nhưng ông không hiểu tại sao. Bây giờ ông đã lòi đuôi rau muống rồi, vả lại. thấy bà con đối xử rất thân mật nên ông không giấu gốc gác nữa, nên cũng cười nói đối đáp với mọi người.

Tôi nói:

– – Đây là loại dừa xiêm, nó cũng già rồi chớ không phải bé đâu anh Chín.

– Thế hở? Nhưng sao gọi là dừa xiêm phải gọi là dừa ta chớ.

– Dạ xưa nay bà con vẫn gọi đó là dừa xiêm, còn dừa ta thì to trái, nước không ngọt.

Ông Chín uống nước dừa xong bèn bước vô quán. Ông chủ nhà kêu con gái lấy bao thuốc Capstan để trên dĩa đem tới đặt lên bàn mời khách. Thấy có hộp quẹt Zippo để trên bao thuốc, ông Chín hỏi:

– Chiếc bật lửa này mua ở đâu vậy ông chủ quán?

– Dạ, ở đây có bán thiếu chi!

– Thế à? Tôi tưởng là hàng hiếm lắm chứ.

Tôi đỡ lời ngay:

– Dạ, quán nào cũng có bán hết, anh Chín ạ !

– Vậy mua cho tôi vài cái nhé , được không ?

– Dạ, hiện giờ tôi chỉ còn có bốn cái thôi! -ông chủ quán tiếp.

– Vậy để bận về hãy mua anh Chín ạ. Mua bây giờ mang cho nặng chớ ích lợi gì !

– Sợ người ta mua hết.

. Dạ không, thứ này quán cóc nào cũng có bán hết mà!

Ông chủ quán tiếp:

– Tôi mới bán cho bộ đội xuống đường hết hai lố một lúc.

– Vậy ông chủ để dành cho tôi mười chiếc, lúc trở về tôi lấy nhe!

Ông uống hết ngụm nước dừa rồi chép miệng khen:

– Nước dừa ngọt như pha đường ấy. Tôi chưa bao giờ nếm nước dừa tuyệt vời như thế. Xã này là xã gì thế anh E?

– Dạ xã Trung An, quận Củ Chi. Nhưng bây giờ Củ Chi chia đôi thành Nam Chi, Bắc Chi. Trung An thuộc Nam Chi. Còn bên kia là Phú An thuộc quận Bến Cát. Chút nữa mình sẽ qua đường số 8 thuộc quận Hóc Môn.

Tôi mở bao thuốc mời ông và quẹt Zippo, ngọn lửa bật lên xanh lè gió thổi mạnh mà không tắt. Ông rít mấy hơi và khen:

– Thuốc ở trển khét quá, đây mới thiệt là thuốc thơm.

Rồi ông đi quanh quán hết nhìn kệ này đến kệ khác. Đến chỗ treo bình toong dây thắt lưng Mỹ vải dù, ông hỏi:

– Ở đây cũng có bán các thứ này à ?

– Dạ thiếu gì! Hễ có tiền là mua được. Trong chợ Bắc Hà bán còn nhiều hơn. Từ ngày xuống đường, loại này bán càng chạy hơn.

Ông bảo chủ quán:

– Lây hết xuống đây, tôi mua phát cho các cậu kia.

Ông lại trỏ mấy chiếc khăn trong hộp bảo chủ quán lấy ra cho ông mua luôn phát cho các cậu mỗi người một cái để làm kỷ niệm. Thấy mấy chục hộp sữa con chim lăn lóc trong góc tủ, ông hỏi:

– Sữa này có để dành cho trẻ con không? Để tôi mua luôn. Các cậu bỏ trong ba lô, khi cần thì dùng thay cơm cháo. Ơ kìa, lại có sữa Hòa Lan hộp nhôm nữa cơ. Mua hết cả cho tôi. Ối giáo! Lạ i có có cà phê, bia, rượu Tây nửa cơ à ? Để bận trở về mình ghé làm một chầu túy lúy chú E nhé, rồi hãy sang sông về trên đó.

– Bên Củ Chi cũng có thiếu chi, ông Chín.

– Thế à! Tôi xuống đồng bằng lần thứ nhất nên trông lạ quá. Sao một cái quán nhỏ bằng bụm tay thế này mà món gì cũng có. Lạ thế?

– Dạ ông Chín mua máy đuôi tôm, máy hút nước cũng có. Đưa tiền buổi sáng, buổi chiểu có máy về tới nhà.

Ông Chín còn đang vui chuyện thì tôm khô, củ kiệu, khô mực và la de nước đá đã dọn ra. Ông chủ quán vui vẻ mời:

– Ông Chín làm một ly ấm bụng rồi lội tiếp.

– Kìa, nướng khô bằng gì mà nhanh thế?

– Dạ trong cái dĩa nhôm kia. Chỉ cần chút rượu thôi!

Chuyến sau đã tới. Mũi ghe lướt lên bờ. Ông Chín bảo chủ quán kiểm điểm các món hàng tính tiền. Nhưng tôi nói:

– Đó là quà của anh Ba chủ quán biếu anh em đó anh Chín. Không có lấy tiền đầu… Tôi nói thiệt mà.

Ông Chín rất dỗi ngạc nhiên. Tôi tiếp:

– Anh Chín muốn mua món nào thêm, tôi sẽ bảo chị Ba đi mua, chuyến về sẽ có đủ.

Trời sẩm tối hai đội hợp nhất tiếp tục hành quân. Tôi bảo Sáu Hùm đi trước với một tổ tiền vệ còn tôi đi bên cạnh ông Chín.

Ông có vẻ cảm động và ngạc nhiên về cuộc tiếp xúc với dân quê Nam Kỳ mà ông cho là lẩn đầu tiên. Đi được một quãng, tôi trỏ tay vào phía vườn, nói:

– Ông tham mưu phó khu nằm ở đó anh Chín, ở trong rẫy

– Sao vậy?

– Dạ, ổng đi nghiên cứu đánh tàu, chẳng may bị lính giang thuyền bất ngờ đổ bộ bắn chết. Mà cũng không biết là tham mưu phó khu.

– Ai vậy?

– Dạ, nghe nói ông là anh hùng đánh sân bay Biên Hòa.

– Hừ! Đánh tàu, chưa đánh, lại bị tàu bắn…

Hai anh du kích xã Trung An dẫn đầu dừng lại, ra lệnh cho đoàn phải lột giày để lội sình và qua cầu khỉ.

– Cầu khỉ là cầu gì? -ông Chín hỏi.

– Dạ, cầu khỉ là cầu khỉ.

Mấy ông Bắc Kỳ con phản đối không chịu cởi, cứ để nguyên giày mà đi, tôi lôi Sáu Hùm ra sau nói nhỏ:

– Chốc nữa gặp khúc đứt mày chịu khó cõng ổng qua giùm.

Sáu Hùm vùng vằng:

– Ổng mập phệ như vậy, ai cõng cho nổi.

– Cậu xem có mấy đứa bảo vệ toàn là con nít đẻn, vác AK còn rệt bệt, làm sao cõng nổi. Coi vậy chớ không nặng lắm đâu. Tại sao mày biết không?

– Tại sao?

– Ổng ăn toàn rau muống không hè!

– Thôi đi cha nội!

– Đây là nhiệm vụ của mình mà!

– Nhiệm vụ là dắt đường chớ đâu phải cõng.

– Tao nghe Hai Lôi nói ở trên R các cha lớn di chuyển toàn bắt lính cõng như quan đi kiệu nghe mậy. Thậm chí mấy bà phu nhơn ngoài Hà Nội vô trong R thăm phu quân họ cũng bắt lính khiêng.

Chợt thấy chòm cây lù mù và nhà ngói tường vôi bên phía trái, ông Chín hỏi:

– Đó là đâu vậy ?

– Dạ đó là ấp Cầu Lớn, còn cái vết trắng trắng đó là chợ Phú Hòa Đông. Dân cư đã bỏ đi ra ấp chiến lược hoặc ra đường số 8 ở hết rồi.

– Mình không vận động họ về được sao ?

– Dạ, họ sợ bom đạn nên trốn đi.

Tới một cái rạch có cầu ván bắc qua mà không có tay vịn, ông lại hỏi. Sáu Hùm đáp:

– Đây là rạch Cây Da vì có cây da đứng bên mé rạch. Còn cái nhà kia bỏ trống vì chủ nó là một thằng du kích vừa đi chiêu hồi.

Ông Chín giật mình hỏi:

– Nó có đem tin gì cho giặc không?

– Dạ vợ nó đẻ trong này không có mụ nên ra ở nhờ mụ săn sóc chớ không hợp tác với giặc.

– Vậy là tốt.

Đi một quãng nữa tới đường đê bị trúng đạn pháo đứt nhiều nơi, trời mưa và nước lụt làm hỏng nhiều đoạn phải lội mới qua được. Nhiều cậu bị tuột mất giày kêu la oai oái. Nhiều cậu rút kinh nghiệm cởi giày máng trên cổ lội qua.

Ông Chín dừng lại ở mép bờ chờ tôi đến. Tôi bảo Sáu Hùm giúp đỡ. Sáu Hùm cực chẳng đã phải đưa lưng làm ngựa cho ông Chín cỡi. Tay ông cầm gậy, lưng ông đeo súng, ống dòm, bình toong lục cà lục cục đủ các thứ đều chất trên lưng anh tham mưu trưởng quận đội Sáu Hùm.

Tôi biết nó không khoái lắm, nhưng không thể thối thoát. Nó phải cõng ông già Chín qua bốn, năm khúc đứt. Tưởng đã được yên thân nào dè tại đụng con rạch lớn nhất trong mấy con rạch đổ ra sông Sài Gòn vùng này. Nhịp giữa là một thân cau, nó lăn qua lăn lại. Tuy có tay vịn nhưng ai không quen đi cầu khỉ sẽ rơi. Bằng chứng là mấy cậu Bắc Kỳ rơi lõm bõm xuống nước. May mà nước ròng, chớ nếu nước lớn ắt có kẻ chết chìm.

Ông Chín tới chống nẹ hỏi:

– Rạch gì thế này ?

– Dạ Rạch Kè.

– Còn cầu gì?

– Dạ cầu khỉ.

– Rạch Kè thì cầu Kè chớ sao cầu khỉ. Cầu khỉ gió không tay vịn, nhịp cầu lại lắc lư thế này làm sao đi? Anh đùa với tôi đấy à?

– Dạ không! Đó là cầu khỉ thật.

– Làm sao bộ đội vác súng lớn qua cầu được?

– Dạ được chớ ạ. Đó là nhờ họ đi quen. Đẻ ra đã đi cầu khỉ rồi, lớn lên cũng đi cầu khỉ đi bộ đội cũng đi cầu khỉ nên nhiều người đi khỏi cần tay vịn.

– Cậu bố láo!

– Dạ thưa anh Chín em nói thiệt. Không tin anh Chín lên lưng em cõng qua cho coi!

Ông Chínt chống nẹ ngó xuống dòng sông lởm chởm những gốc cừ ló lên mặt nước, ông hỏi:

– Cái gì giống hầm chông thế kia?

– Dạ đó là những chân cầu cũ trước kia, gãy không xài được nữa.

– Anh có chắc cõng tôi được không ?

– Em đi cầu khỉ hồi má em bồng em mà. Lớn lên em bò qua cầu, lớn chút nữa em đi. từ đó ngày nào em cũng đi. Em đi cầu khỉ trên ba mươi năm rồi, anh không tin em sao .

– Không khéo ngã xuống cây đâm thủng bụng.

Sáu Hùm biểu diễn một màn đi cầu khỉ với một người nằm trên lưng đeo cả bình toong, ống nhòm, súng đạn và cả cây gậy ngoéo nữa. Đám bảo vệ đứng xem như xem xiếc, đứa hoan hô, đứa hít hà sợ thủ trưởng lăn xuống rạch.

Sáu Hùm danh bất hư truyền, chân anh ta bước vững từng bước. Bàn chân đặt ngang thân cau tròn, hai tay ôm mông anh Chín, hễ thân cau lăn qua trái thì thân anh nghiêng qua phải để lấy thăng bằng (có lẽ không kém gì nghề đi dây của bác Hồ giữa Liên Xô và Trung Cộng), từng bước, từng bước anh đem cái thân phì nộn của ông Chín qua tới mút nhịp giữa, nhưng khi tay anh vừa vịn đầu cọc để bước xuống nhịp chót không có tay vịn, Sáu Hùm bảo ông Chín ôm chặt để nó chạy xuống đầu cầu thật nhanh. Chỉ còn cách một bước nữa là tới bờ thì hai thầy trò lại rơi tòm xuống nước. Hai người sợ nước trôi đeo chắc chân cầu. May quá không ai bị thương. Đám cận vệ phải nhảy xuống giúp sức thủ trưởng mới bò lên. Ông Chín nhận khuyết điểm ngay:

– Tại tôi. Tại cây cù ngoéo của tôi, nó móc ở trụ cầu giật ngược lại nên mới bổ nhào xuống sông, chớ không phải tại chú Hùm trật chân. Thôi được, tôi sẽ thưởng chú huân chương giải phóng và thăng chú lên cấp tiểu đoàn bậc trưởng.

Cả đám cận vệ thích thú phụ họa mỗi đứa một câu:

– Thích nhỉ, qua một cây cầu “khí gió ” mà bằng đánh Mỹ cả chục trận.

– Tớ sẽ học đi cầu khỉ mới lập công được!

Ông Chín ngồi thở dốc, cho phép cả đoàn hút thuốc nhưng phải che lửa thật kỹ. Ông thân mật hỏi tôi:

– Còn cầu khí gió nào nữa hết anh Năm ?

– Dạ, còn một cái nữa, nhưng ít nguy hiểm hơn cái này.

– Một ngàn năm tôi còn nhớ “Rạch Kè “.

– Qua cái kia là tới ấp Bàu Trâm, chỉ đi trên giồng cát.

Vào được trong ấp hy vọng tìm nhà nghỉ ngơi, nhưng dân đã bỏ nhà đi từ hôm súng nổ tới nay. Nhà không vườn trông lạnh lẽo rợn người. Phải vọt luôn. Từ Bàu Trâm qua ấp Nhà Việc phải qua một xóm nhà đông độ một trăm nóc. Rồi lại qua một cánh đồng vài trăm thước mới tới Đồng Mả. Đây là cánh đồng mả loạn hay đồng ma cũng thế. Giữa đêm mà ngồi giữa cánh đồng này chẳng khác ngôi giữa đám oan hồn. Vậy mà hai anh du kích bảo cả đoàn dừng lạ đây để họ vô xóm bắt liên lạc với du kích Bình Mỹ. Tôi coi đồng hồ: tám giờ. Đáng lẽ chỉ mất bốn mươi lăm phút mà đội bảo vệ ông Chín hành quân một hai tiếng đồng hồ. Tôi lại đến bên ông Chín rù rì xin lỗi việc lộn mèo xuống sông. Ông cười vui vẻ:

– Không sao! Tại cầu khỉ lại gặp cây gậy khỉ nên mới làm trò khỉ!

Rồi ông hỏi tôi có rành đường xuống Bình Mỹ không ?

– Dạ rành. Tôi đã từng làm D phó của D2 Gò Môn. Bắt đầu qua khỏi đường sô 8 thì toàn lội sình, không có đường mòn, bộ đội nấu cơm bằng rề sô, anh nào cũng thối hết móng chân. Dân di chuyển toàn bằng xuồng. Phải qua Rạch Tra lớn bằng ba Rạch Kè, giao liên chỉ có xuồng con, mỗi chiếc chở năm, bảy người.

– Vậy một trung đoàn làm sao hành quân?

– Dạ, tôi không rõ.

Ông Chín thở dài, rồi hỏi:

– Đồng Ma chôn những ai mà nhiều mả thế?

– Ở Củ Chi cũng có Đồng Mả, chôn toàn tín đồ Cao Đài bị mình biết hồi cách mạng mới nổi lên.

– Mình là ai?

– Dạ, mình là Việt Minh. Cụ thể là Hai Bứa, Ba Tô Ký. Hồi đó tôi còn nhỏ, nghe nói là mấy ông xỏ xâu cả dọc người đem ra đồng đào lỗ bắn rồi lấp đất. Những người chưa chết rống lên ban đêm; cách hai ba cây số còn nghe. Không biết Đồng Mả này có giống Đồng Mả Củ Chi không ?

Ông Chín ngồi lặng thinh. Bỗng mấy cậu bảo vệ tới báo cáo có tiếng người tới gần. Ông Chín bảo quan sát cho kỹ.

Chập sau, các cậu lại trên báo cáo tiếp:

– Dạ thưa anh Chín, lính của mình.

– Lính mình ở đâu đây?

– Dạ, họ đánh Sài Gòn về.

Ông Chín đang hút thuốc bỗng đánh rơi điếu thuốc, kêu lên một tiếng thất thanh:

– Hả?

Cậu bảo vệ nói tiếp:

– Dạ, lính mình thật, một tốp năm người lôi một người bị thương nặng vừa mới chết. Chúng em tiếp với họ đào lỗ dập.

Ông Chín kêu lên và vùng đứng dậy nhớn nhác, miệng kêu ư ử không ra tiếng gì. Hồi lâu mới bảo:

– Cậu nói lại nghe xem nào ?

– Dạ thưa anh Chín, lính mình đi Sài Gòn về. Một người bị thương chết. Bốn người kia đào đất dập. Tụi em vừa giúp sức với họ. Họ nói họ thuộc sư đoàn 304 ngoài Bắc vào.

Ông Chín lại kêu “hả hả ” cả chục tiếng liền.

– Trời ơi! 304, sư đoàn của tôi làm chánh ủy. Sao tụi nó lạc loà i chết vùi dập như vậy hả ?

– Dạ, em không biết. Em chỉ nghe chúng nó nói thế.

– Chúng nó đâu rồi?

– Dạ, chúng nó còn gục đầu trên cái mộ đất mới đằng kia. Để em bảo chúng nó tới trình diện anh Chín và nhận lệnh của anh Chín.

Ông Chín xua tay trong bóng tối như tìm một cái gì.

– Để tôi đến trình diện chúng nó. Trời ơi! Những thằng lính của tôi sao vô đây chết vô danh nhục nhã thế này. Tôi đã đem con tôi bỏ chợ.

Rồi ông Chín lọm khọm bước tới, như không còn đủ sức lê tấm thân của ông nữa. Ông vừa đi vừa khóc, nhưng cố nén tiếng rống trong cổ họng nên nó thành tiếng hục hục như cổ họng ông sắp bể ra.

… . Bỗng thình lình ánh chớp sáng lòe, đi theo tiếng nổ long trời lở đất. Xè xè xè, ầm ồm ầm, tiếng pháo 175 cực nhanh của Đồng Dù.

Tôi quen tụ i này như cơm bữa. Ngày nào đêm nào không đội dăm quả ăn cơm không ngon. Không của Đồng Dù 175 thì của trung Hòa 105, không của Trung Hòa thì của Bình Dương 155, của Chà Rầy 105 và 155, của Trảng Bàng 105, không khi nào yên.

Tôi đè ông Chín nằm xuống và lôi mấy cậu cận vệ phủ lên. Dứt loạt tôi lại hỏi:

– Anh Chín có sao không?

Rồi kế loạt khác. Từ Tết tới nay các khẩu đều bắn chụm về phía này để chặn hành quân của ta xuống Sài Gòn. Tôi tìm một mả đá ong lôi ông đến, đè ông xuống một trụ đá Chúng giã rời rời, không kéo dài nhưng không dứt loạt nên không dám chạy mà chỉ nằm bẹp dí đưa lưng cho chúng giã.

Bỗng một tiếng kêu lên:

– Thầy mẹ ơi! Chết con rồi!

Ầm ầm ầm! Đất đá miểng đạn rơi lạch bạch, đi veo véo. Khói thuốc khét lẹt cả mũi.

– Sao không nghe tiếng đề pa ?

– Dạ đạn nổ rồi mới nghe anh Chín ạ!

– Pháo gì lạ thế?

– Dạ loại cực nhanh.

Dứt một loạt tôi bảo:

– Từ nãy giờ mình bị Đồng Dù và Trung Hòa. Coit chừng pháo Bình Dương, thành pháo thủ cách mình chỉ sáu cây số thôi. Nó có 105 lẫn 155 nhưng không phải cực nhanh.

Tôi vừa dứt tiếng thì nghe cụp cụp… ầm ầm.

– Ở đâu mà nổ gần thế?

– Dạ nó bắn ở cánh đồng mình vừa qua.

– Sao nó lại bắn giữa ruộng?

– Dạ, tụi nó chận đường giao liên của mình. Có một anh D phó của mình trên đường xuống Sài Gòn cặp với một cô y tá dông ra Sài Gòn (Năm Bụng và nàng Thu Hà) và mới đây có một anh E phó dắt nguyên một C đi chiêu hồi (Phan Văn Xướng và Đoàn Chính, Cao Huynh, Bùi Thiện, Nguyễn Long. . . ).

– Bỏ mẹ rồi!

Ông Chín kêu lên nột tiếng thật thanh. Tôi tưởng như trông thấy nét mặt xám ngắt của ông. Hồi lâu ông mới nói:

– Sao ông Ba Xu không báo cáo gì với tôi hết. Như vậy thì chúng nó biết tôi xuống đây rồi. Trở lại mau, trở lại mau.

Cậu đội trưởng bảo vệ báo cáo tiếp:

– Dạ có hai cậu hy sinh, bốn cậu bi thương.

– Các cậu giải quyết lấy! -rồi quay lại tôi- Trở lại, trở lại mau.

Tôi nói:

– Anh Chín đi với Sáu Hùm, để tôi ở lại đi tìm du kích giải quyết thương binh tử sĩ.

– Không được. Cả hai phải đi với tôi và một nửa đội bảo vệ Một nửa ở lại giải quyết thương binh tử sĩ.

Tôi phải nghe lệnh ông ấy, hộc tốc trở lại đưa ông về điểm phát xuất hồi chiều. Kết quả một cuộc hành quân, Đồng Mả thêm mấy cái mả và ông tướng biết thế nào là pháo cực nhanh.

Câu chuyện trên đây do quận đội trưởng Năm E kể lại cho tôi nghe, đến nay đã gần ba mươi năm mà tôi vẫn còn nhớ nguyên. Tội nghiệp, sau chuyến đi đó, Năm E lẫn Sáu Hùm bị xe tăng càn chết ở Phú Hòa Đông, không kịp lãnh lon lãnh gáo lớn nhỏ để đeo với người ta.

HẾT QUYỂN V

(còn 2 quyển VI và VII)

(xem tiếp quyển VI tại đây)

Advertisements
This entry was posted in Dương Đình Lôi & Xuân Vũ, Hồi-ký - Bút-ký. Bookmark the permalink.