2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Dương Đình Lôi & Xuân Vũ): Q. VII-Chương 122…Hết

2000ngaydem_bia7

Chương 122

Người con gái về từ Tam Biên

– Bắn tụi Mỹ Cụm dã ngoại này khoẻ lắm thầy Hai! Tư Thới – Ct C4 nói với tôi.

– Ờ khoẻ, nhưng phải rút thiệt nhanh! Nếu chậm, xe tăng bắt sống.

Đây là đợt 3 đó nghen bà con. Lấy gì đánh? Phải dùng pháo. Pháo lớn không còn đạn, có còn cũng không dám moi lên xài. Nổ một phát nó rượt tận ổ. Thành ra phải dùng cối 81. Thứ này bắn được bao xa? Nhưng phải bắn để lên tiếng: “Ta còn vài ngoe chớ chưa chết hết”!

Trước khi nổ súng Mậu Thân, tôi có gặp Năm Lê, báo cáo về tình trạng ĐKB (Đạn Khoan Bêtông) với anh. An không muốn xài, nhưng ông Tư Lệnh Ba Xu lại bảo “không cần bắn trúng mục tiêu, miễn có tiếng nổ trong lòng địch tà được rồi! ” Bây giờ tôi ân hận đã không cương quyết để đạt ý kiến không dùng ĐKB. Sáu Phấn đi cất giấu loại này mà bị chết thui cùng một hầm 12 người với ông Tham mưu trưởng Đào Hải.

Nếu ĐKB tốt thì dùng có ngại gì! Nhưng nó đơn sơ đến phát sợ. Không có tối thiểu những gì cần thiết cho một hỏa tiễn loại nặng như vậy. Lính đặt tên là súng “máng heo”. Bắn 4 quả vô Trung Hòa không trúng gì hết, cũng không lọt vào vòng rào, chỉ rơi ngoài ruộng, nông dân không dám lại gần, ruộng phải bỏ hoang. Đâu còn ai cả gan đào lên lấy thuốc nổ ngoài Năm Cội ngày xưa?

Tư Thới nói:

– Trận này không quan trọng, thầy ở nhà dưỡng sức.

– Tôi đến chấm tọa độ cho ông bắn.

Trực thăng Trái chuối đến, hạ thấp rồi “neo” một chỗ. Lính Mỹ tuột hết quần áo chạy tới. Từ bụng trực thăng nước túa ra như hoa sen. Nước này chở từ Hawail sang chớ nước Sài Gòn không xài. Chúng tắm xong vô tăng có sẵn các em ở Hóc Môn lên nằm chờ. Tư Thới ra lệnh bắn 8 quả, pháo Đồng Dù trả hỏa vài trăm phát như muối bỏ biển nhạt phèo. Đợt 3 mở ra và khép lại như thế đó! Tôi không màng cho người đi điều tra kết quả làm chi.

Về nhà leo lên võng nằm lắc lư, chiều sẫm tối, nghe đài BBC Luân Đôn. Đài này có đoạn nhạc mở đầu rất hấp dẫn nhưng lính không bao giờ nghe. Chúng chỉ mê Vọng Cổ và nghe tin đài Sài Gòn. Loạ thế?

Hôm nay BBC phát tin toàn Miền Nam.

Đợt 3 Cộng quân im lìm, có vẻ như kiệt sức. Sợi dây cung đã dương hết mức, không còn cũng được nữa đến lúc phải chùng. Cô đô không còn tiếng súng. Quân Sài Gòn đã kiểm soát các phố xá và thành nội. Cộng quân bỏ xác đầy trên đường rút lui. Tin chưa rõ tướng Trần Văn Quang Tư lệnh và Tướng Lê Chưởng nào đó đã bỏ mạng.

Ở các tỉnh miền Trung, Cộng quân không chiếm được thành phố nào trừ một vài khu trong thị xã Quảng Ngãi nhưng bị quân Sài Gòn đánh tan ngay. Những đơn vị đánh hăng nhất là TQLC, Sư đoàn 1 BB Sài Gòn.

Ơ các tỉnh châu thổ Cửu Long, Cộng quân cũng đang bỏ chạy thê thảm sau khi áp dụng chiến thuật “A thần Phù” không kết quả mà thiệt hại to. Cộng quân vô thị xã Mỹ Tho từ 3 cánh: Chùa Vĩnh Tràng, cầu quay và Giếng nước.

Vào trong thành phố không biết đường, họ loay hoay bị nhân dân tự vệ tiêu hao nặng. Một đoàn độ 20 người trốn trong chùa Vĩnh Tràng bị bắt sống.

Ở Bến Tre quê hương của Bà Định nữ Phó Tư lệnh quân giải phóng, Cộng quân cướp thuyền vượt sông Cái Cối bị địa phương quân chận đánh, lớp chết trên bờ, lớp chết chìm. Cộng quân đốt nhà ở xóm lá tiệm rượu và cầu nhà thương để tự cứu nguy nhưng không kết quả.

Nhìn chung toàn Miền Nam, tiếng súng thưa dần, dân chúng trở lại gần như sinh hoạt bình thường nhưng Cộng quân còn một chiến thuật mới: chận đường xe đò và cướp giật hành lý.

Tin giờ chót: Đồng Dù cái căn cứ Sư Đoàn 25 Bộ binh Mỹ bị bắn 2 trái đạn hỏa tiễn nội hóa Hà Nội, không nổ. Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ ở Sài Gòn đã cho đào lên nhưng không rõ xuất xứ của loại đạn này: Liên Xô hay Trung Cộng.tướng Giáp vô nằm ở Bắc vĩ tuyến 17 đã rút về Hà Nội.

(Tôi định tắt đài. Nhưng còn tiếc nên chưa vặn qua.)

Ông ta không làm gì được hơn ngoài sự chỉ huy không hiệu quả ở chiến trường Miền Nam Việt Nam. Ông đã thất bại trong ý định làm một Điện Biên Phủ thứ hai. Nếu ông đặt Bộ chỉ huy của ông ở Miền Nam thì rất có thể ông sẽ trở thành Đờ Cát Việt Nam với danh tiếng của ông và tan như bọt nước.” Cụp. Tôi vặn sang làn sóng khác.

– Anh Hai có khách! – Thằng Đá bảo.

– Ai vậy?

– Khách cỡi Hon da. Em không biết là ai.

Tôi sợ người tình “có trái tim rục lửa”. Nàng hay xuất hiện bất ngờ và cho nhiều tin giật gân chết người.

Một người đàn bà vận đồ đen, nách kẹp tép da, tóc cắt ngắn, bước vào. Thằng Đá đốt đèn để trên bàn.

Tôi nghe nghèn nghẹn trong cổ. Chưa kịp nói gì thì Bảy Ga, Hai Khởi bước vô. Hai người sững sốt trước người khách lạ. Hai Khởi nói:

– Cô có phải là người hỏi thăm Hai Hà hôm qua không?

– Dạ phải, và anh trả lời là ở Củ Chi không có Hai Hà.

– Bây giờ có rồi đó. Hai Hà đó !

Tôi bị bất cập, lúng túng, nói luôn y như thật.

– Đây là em Thu Hà, con dì Bảy tôi, công tác ngoài Tam Biên vô tìm tôi.

– Ừa, vậy mà tôi không biết nên hôm qua chối ngang. Bậy quá, xin lỗi cô em nhé ! Hé hé !

Hai Khởi nói và nháy tôi. Hắn quỉ lắm. Vả lại đôi lúc tôi cũng có tâm sự riêng với hơn về Thu Hà. Hắn đâu có quên. Hắn quác ra: “Kẻ Củ Chi người Trường Sơn biết chừng nào gặp nhau được. Chiến tranh này kéo dài 20 năm nữa, ông ở đó mà chờ!”

Nay nghe tôi giới thiện Thu Hà là con gái Dì Bảy của tôi, chắc y cười thầm: em bạn dì ở đâu như trên trời rớt xuống vậy? Chỉ có em “ruột dư” mới dám men tới hang này để “bắt cọp” thôi.

Hai Khởi hỏi tôi:

– Sao, ông tướng… Gạo chừng nào xuất hiện để tôi cho ra quân đây ông lớn?

– Có rồi, nhưng còn phải chở xay giã.

– Cứ đưa cho tôi, tôi bắt lính ăn lúa cho đỡ đói.

– Bậy hoài cha.

– Chớ thằng Tư Linh cho tù ăn bắp sống thì sao? Đói cái gì mà chẳng nuốt?

Thu Hà nói:

– Cháu thay mặt Hậu Cần R xuống đây lo việc cung cấp cho các cánh đi Sài Gòn đây. Các chú cần bao nhiêu?

Hai Khởi dội ngược khi nghe tiếng “chú” , nhưng vẫn xôm tới:

– Còn tụi ở Củ Chi như bác” và “chú” Thiên Lôi này thì bỏ đói hả chá… áu?

– Cháu chịu trách nhiệm cả quân khu, kể cả du kích.

Hai Khởi xá xá:

– Chắc kiếp trước khéo tu nên nay tôi mới có quới nhơn phò trợ. Mà cháu cho tiền mặt hay rải lúa cho gà ăn?

– 200 ngàn tiền mặt. Sau đó sẽ tính tới võng, áo quần, bi đông và các thứ khác!

Bảy Ga chậm rãi với giọng móc họng:

– Thầy Hai có cô em gái làm lớn mà lâu nay mình không biết. Có em rể chưa vậy thầy?

– Cô ấy xa tôi đã 4 năm. – Tôi đáp ngay – Hồi gặp trên Trường Sơn thì chưa, bây giờ ơ… ơ… chắc có… ó rồi!

Thu Hà mở tép da lấy ra mấy xấp bạc buộc ràng rất kỹ, đưa cho tôi:

– Đây là của E Quyết Thắng.

Hai Khởi nói:

– Phần E Mũi Nhọn của Tư Nhựt tôi lãnh giùm luôn!

– Tiền đó gai góc, khó nuốt nghe cha.- Bảy Ga chọt.

Hai .Khởi bảo:

– Để tôi về đưa tiền cho quản lý để mua đồ quán về cho lính ì xèo tối nay. Mấy nữa rày tẩm bổ bằng nước mưa, ruột cứ kêu eng éc như heo con.

Rồi với tay kéo tôi:

– Thầy Hai ra đây cho tôi báo cáo mấy công tác bí mật.

Tôi đi theo Hai Khởi ra góc sân:

– Gì đây cha? – Tôi gắt nhẹ.

– Ông nhận làm chỉ mấy chục lính “Sài Gòn quay”, tôi biết đưa về đơn vị nào? (như lính B quay Trường Sơn)

– Đứa nào lanh lợi cho vô ở trinh sát thằng Bòn, đứa nào còn khỏe cho vô C4, C2 đứa nào lù khù cho thay Hai Nương và con Ẻng nấu bếp.

– Cái đám này coi bộ bất mãn tợn. Thứ cá lia thia sọc dưa, bỏ bao nhiêu muối cũng không mun lại.

– Thằng nào đi Sài Gòn về mà chẳng sọc dưa?

Hai Khởi rỉ tai tôi:

– Ông cần kềm chân người tình có trái tim rực lửa và nường “rủng xỉ” của ông không?

– Thôi cha non. Bịt giùm cho tôi cái tin này.

– Ông đã giới thiệu là em bạn dì rồi, tôi cần gì phải bịt?

– Em bạn dì thiệt đó cha!

– Bạn dì, ban ngày đâu lưng, ban đêm lại “đâu rốn” hà?

Quay vô nhà Hai Khởi nói oang oang với tôi, cốt ý cho mọi người nghe:

– Thầy Hai lâu ngày gặp lại em bạn dì, nên tìm nhà riêng tâm tình sâu. Văn phòng giao cho Bảy Ga. Có chuyện gì thằng Đá chạy kêu – rồi lại nói thinh không:

Mạ non mà cấy đất gò
Hai bụng nhập lại hai giò chòi lia.

Lại còn la to lên lần nữa:

– Mấy đứa coi chừng, tối nay phá… áo bắn mạnh nghe bây! Nóc nhà này bay mất đó. Rán mà chui cho lẹ !

Bỗng thằng Thượng chạy vào báo:

– Anh Tư Quân chết rồi !

– Mày nói cái gì lạ vây mậy? – Tôi quát như máy.

– Chị Tư về nhà mới có mấy bữa. Anh về thăm bị biết kích thằng Giắc phục kích bắn chết cả tổ trinh sát!

– Trời đất!

– Đi đâu cho nó bắn?

– Dạ ảnh tìm chỗ phân tán D1, tiện đường về thăm chị Tư ở Bàu Tre.

Tư Re vợ Tư Quân theo đơn vị làm y tá 3 năm qua, coi như quân số của E. Chị rất tích cực, nấu cơm, tải thương, việc gì cũng làm để được đi theo chồng “lấy xác về chôn “. Tội nghiệp chị tâm sự với tôi ít ai biết.

– Ba sắp nhỏ tôi là dân ruộng rẫy không biết dàn binh bố trận như anh. Ảnh đâu có học hành gì mà chỉ huy mặt trận này, chiến dịch nọ. Nhưng ở trên phong chức, ảnh không thể từ chối. Em biết chắc ảnh không thọ lâu đâu anh Hai à ! Ảnh thường than thở với em: “Nếu anh có bề gì em gắng nuôi con và lấy chồng khác làm ăn, đừng ở vậy.

Chị Tư không dấu diếm tôi chuyện riêng của hai vợ chồng. Đóng quân lúc nào tôi cũng bảo trinh sát dành cho anh chị một nhà riêng. Gặp những khi công việc nhiều, ban chỉ huy làm choàng qua để anh có thì giờ sống với vợ.

Tư Quân cũng như Tư Nhựt. Hôm nay bỏ vợ mồ côi.

Nhưng anh may mắn hơn Tư Nhựt là được vợ lấy xác về chôn. Chỗ anh bị phục kích chỉ cách hè nhà 300 thước.

Con chim bay về tổ tông nên bắn. Nhưng Giải Phóng đã từng nổ pháo vào khu nhà vợ con lính biết bao nhiêu lần ở Trung Hòa, Củ Chi, Đồng Dù.

Nay quả báo, Tư Quân phải nhận lại. Đời đã vay mấy ai khỏi trả ? Đã bảo ở đất Củ Chi này đánh giặc bị tiêu hao đã đành, không đánh cũng tiêu, mà tiêu lảng nhách. Tư Quân bị biệt kích bắn, còn có thể hiểu được. Chứ Ba Nhẫn Dv đi moi đồ hộp Mỹ bị mìn nổ chết đau biết mấy ? Người ta nghĩ là du kích hận thù Ba Nhẫn. Có thể vì Ba Nhẫn phết cho cô Trang một quả dưa chuột trong mấy lúc “ngồi thum”. Trang 18 tuổi con chị Hai Tràng ở quân nhu. Chị Hai chết chồng chỉ một mẹ một con. Cho con bé theo các chú khác chi giao trứng cho ác, chị sợ lắm, cứ nhắc nhở chằn chằn. Nhưng rồi chuyện sợ xảy ra vẫn xảy ra.

Người ta nghi du kích thù bộ đội phỗng tay trên quơ mất cây nhà lá vườn của anh chàng nào đó nên anh ta gài bậy trái mìn tặng bộ đội chơi gọi là tình quân dân cá nước mặn mà. Tưởng chơi tụi lính lãi ai dè dính một chính trị viên “dê” (d=tiểu đoàn).

Hổng biết rồi vợ anh ta có được lãnh bảng vàng danh dự và anh có được lên đài tử sĩ không? Nhờ sự mớm bóng trắng trợn mà hợp lý của Hai Khởi, tôi được giải phóng.

Thu Hà chở tôi đi thoát tục bằng chiếc xe Honda bay.

Gái Trường Sơn sốt rét nước da vàng ẻo mà phóng Honda trông cũng hách. Ở khu giải phóng thời buổi này ai có Honda mà cỡi? Lấy cớ là đi tìm hiểu tình hình hậu cần của đơn vị, nhưng hậu quái gì. Nàng tha tôi đi ta bà thế giái.

– Sáu Phương hiện giờ công tác ở đâu? – Tôi hỏi ngay về cái trạm giao liên ở Tam Biên.

– Ảnh sốt ác tính chết cách đây 3 năm. Anh đi được 8 tháng thì anh sốt. Chỉ 3 ngày là ói ra máu rồi chết.

– Trạm cứu thương mà để ông trưởng trạm chết như vậy sao?

– Ác tính trời cũng không cứu được anh à. Có sống cũng tàn tật như thương binh bị B52 không làm sao trở lại bình thường được.

– Còn các anh khác đâu?

– Trạm giải tán, mỗi người đi một nơi.

– Không ai chết?

– Ngoài Sáu Phương.

– Sao em về được trong này?

– Em có ông ba nuôi.

– Ai?

– Ông Năm Đăng đó !

– Đã đăng lại còn đó!

Năm Đăng tên thật là Năm Thược, có chức Phó tư lệnh Quân khu IV là kẻ đã mở đường suốt Trường Sơn, xây dựng khu Mã Đà (Mã Đà sơn cước anh hùng tận) là nơi hàng ngàn cán bộ chiến sĩ tập kết kiệt sức và vùi chôn nắm xương tàn ở đây. Năm Thược có vô Sài Gòn, đáng lẽ được coi là công thần, nhưng không hiểu tại sao bị tụi Bắc Kỳ đá văng khỏi mâm cỗ Giải Phóng. Hiện nay sống vất vưởng ở thành Hồ. Không biết ông ta có hận Mã Đà chăng ?

– Nếu không có ổng làm sao em thoát khỏi Mã Đà mà về đây?

Tôi ôm eo ếch cô bé chắc cứng. Cái bụng lép kẹp. Tiếng nói tràn vui:

– Em không ngờ còn gặp lại anh.

– Anh cũng không ngờ.

– Đồn bót giăng giăng như vầy mà anh ở được sao

– Năm năm rồi- Tôi bỏ ngón trên làn da bụng nàng 65, 66, 67, 68, 69 nàng kêu nhột và ẹo người rúc rích.

– Gần 2000 ngày đêm.

– Sao em tính kỹ vậy?

– Em đếm từng ngày mà.Ở đây anh có biết ông Bảy Hốt với anh Tư Thêu không?

– Có.

– Nhân viên của em đấy!

– Oai nhỉ. – Hai Tốt bợ nguyên một bao bạc dông ra Sài Gòn làm lính đói nhăn răng cũng là nhân viên của em nốt?

– Chung một hệ thống nhưng ổng đi hồi em chưa phụ trách. Anh biết bà Sáu Tỉnh không?

Tôi lắc lư. Nàng cười:

– Anh quen nhiều ít ?

– Anh chỉ đến mua bình toong và thắt lưng Mỹ thôi.

– Cô Bảy Dũng sĩ đánh Mỹ rầm trời vậy mà không lấy được của Mỹ kỷ niệm cho anh sao?

Tồi hơi mệt nên nói đỡ:

– Cô ấy được đài Giải phóng đánh giùm chớ các cô chỉ để dành quảng cáo thôi!

– Anh thấy em chạy Honda có bằng “người ta” không?

Tôi biết cô nàng muốn gay cấn nhưng tôi cố nói lướt:

– Ờ em chạy khá lắm. Anh còn chưa biết chạy đây!

– Em bọc cỡi Honda té trầy mặt mấy lần. Có lần trẹo chân, suýt lãnh sổ thương binh.

– Em chở anh đi đâu bây giờ?

– Anh muốn đi đâu?

– Em muốn đi đâu anh đi đấy?

Khi nàng đỗ lại, tôi nhìn cảnh vật lạ hoắc.

– Đây là đâu vậy Thu Hà?

– Lâm Vồ ! Trên đó là Tịnh Phong. Phía sau là Tầm Đinh.

– Mình làm đám cưới…

Tôi chưa dứt lời. Bỗng rùng rùng… ầm ầm ầm. Xe đang phóng bỗng ngã lăn.

– B52, nằm xuống!

Nàng lồm cồm ngồi dậy, nói:

– Mình ở ngoài rìa.

Rùng rùng…

– Nó rắc tới đấy.

Tôi ôm nàng lăn xuống hẻm sâu bên mép đường.

– Còn loạt nữa.

Trời! tụi này chơi vào lúc chạng vạng. Khói bay khét nghẹt. Hai tai nghe e e, mũi như nghẹt.

– Gần lắm em à !

Tôi lôi nàng chạy nhưng sụp xuống hố. Nàng la lên:

– Anh làm sao vậy?

– Mình ở trong vòng. Mau lên! Coi chừng nó rải trùng.

Tôi trở lại dựng chiếc xe dậy.

Nàng ngồi lên đạp máy. Xẹc Xẹc Xẹc. Đèn pha chói xanh lè. Rụ… rụ.. xe vọt. Hai đứa lại nhào lăn xuống hố!

– Mình bị… em à !

Xe tắt máy. Đèn hết cháy. Tôi lại đỡ xe lên. Hố bom sâu quắm. Đìa? không đo nổi. Hai bánh trước quẹo qua một bên như con vịt gãy cổ.

– Cái tép của em đâu rồi ?

– Ừa… coi có văng đâu đó không? Tôi quờ quạng lia lịa.

Hai đứa ngó quanh. Trực thăng soi ngoài bờ sông. Tôi lôi nàng vọt lên lủi vào bụi.

– Coi chừng nó vô đây. – Nàng bình tĩnh trở lại.

– Ở ngoài Mã Đà chỉ có B52 chớ không có soi.

– Sau Mậu Thân nó chơi nhiều bài bản mình không thuộc được. Vùng nào nó cũng oanh kích tự do.

Tôi nhìn bốn phía tối om. Khói đạn không dày lắm. Chắc mình ở ngoài rìa thảm. Tôi kinh nghiệm nên biết vậy Nếu ở giữa thảm thì không thấy gì hết.

Vệt sáng to là Dòng Dù. Gần bên nó là Củ Chi. Xa xa kia, Trung Hòa. Chờ cho đèn soi của trực thăng biến mất hai đứa chui ra, lê chân trên mặt đất nhấp nhô.

Nàng tựa hẳn vào người tôi. Khạc hai ba tiếng.

– Bây giờ em mới thấy mệt.

– May mình không ở giữa vòng. Em có sao không? Tôi xoè tay trước miệng nàng.

– Nhổ ra coi có máu không? Em có thấy nhột nhột trong cổ không? Nàng lắc. Không sao.

– Mẹ nó! B52 mà chơi giác mình sắp đi ngủ.

Bỏ chiếc xe dưới hố, chúng tôi đi mình không.

– Anh biết hướng không? Em không còn nhận ra nữa.

– Em cứ theo anh.

Lại sụp hố bom. Nàng ngồi phệt xuống ho rỉ rả. Đất nhuyễn như bột, ấm hổi. Bụng tôi lo pháo giã tiếp. Không biết nó thấy cái gì mà rắc bom? Xem kỹ lại sát nách Đồng Dù. Đi đâu cũng không khỏi tháng này. Hay là… nó bồi cho Tầm Lanh?

Năm năm vèo qua như làn đạn bay. Đợi chờ nhau và hi vọng. Nàng ngồi trong tay tôi, nói như mê như tỉnh.

– Nếu cái hố bom này thành mồ chúng ta em cũng thỏa nguyện.

Tôi hôn nàng trên môi, nghe mặn chát. Cái thằng lê dương phiêu lưu từ nhỏ, nay tóc rựng bạc, lêu bêu cùng trời cuối đất, thương tích khấp người, bỗng nghe rưng rức nhớ quê hương. Trong sự bình tĩnh bất ngờ, tôi nói với nàng:

– Mình làm đám cưới đi em.


 Chương 123

This entry was posted in Dương Đình Lôi & Xuân Vũ, Hồi-ký - Bút-ký. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s