2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Dương Đình Lôi & Xuân Vũ): Q. VII-Chương 122…Hết

Chương 127

Đài giải phóng tiếp tục rao:
ai muốn bán lúa giống …?

Cô bé phát ngôn viên đọc như nước mưa tuôn xuống cống:

Tin miền Nam chiến thắng:

Thính giả thân mến:

Cuộc tổng tấn công của Quân Giải Phóng đang bước sang giai đoạn 3 ở Miền Nam với những chiến thắng vô cùng rực rỡ. Trước khi đi vào bản tin sốt dẻo, chúng tôi xin nhắc lạ những chiến thắng hồi đầu Xuân 1968 đợt 1 của cuộc tấn công:

– Quân Giải Phóng đã chiếm Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy Sàigòn và làm chủ tình hình nơi này trong 12 ngày liền khiến cho quân Ngụy như rắn mất đầu. Nhiều đơn vị đã làm binh biến và kéo ra hàng quân Giải Phóng. Hiện nay quân Ngụy đã tê liệt chiến đấu hoàn toàn và tan rã từng mảng lớn.

– Quân Giải Phóng đã chiếm đài phát thanh Sài Gòn ngưng mọi chương trình của đài nầyvà thay thế vào đó tiếng nói của đài Giải Phóng.

– Quân Giải Phóng đã đánh sập tòa đại sứ và các cơ quan viện trợ Mỹ. Tên đại sứ Mỹ đã phải lủi trốn hoặc đã chui sang sống nhờ ở các tòa đại sứ đế quôc. Tất cả những cư xá của lính Mỹ đều bị san bằng hoặc tấn công nặng nề. Lính Mỹ càng có dịp phản đối chiến tranh. Một lính Mỹ đòi hồi hương bị treo trên trực thăng bay đến chết.

Sân bay Biên Hòa bị hư hại nặng nề không còn hoạt động được. Một phần lớn sân bay đã bị quân Giải Phóng chiếm đóng. Đến nay các loại phi cơ đều nằm ụ, không thể cất cánh.

Thính giả thân mến:

Quân Giải Phóng dưới sự lãnh đạo của mặt trận Giải Phóng đứng đầu là Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đang phát huy chiến thắng Mậu Thân, thừa thắng xông lên lập thành tích biến đau thương thành sức mạnh trước cái chết của chủ tịch Hồ Chí Minh vô vàn kính yêu.

Bỗng con chuột lông vàng khè chạy vọt qua chiếc ra-dio làm đứt làn sóng điện. Giọng nói tắt ngấm. Thu Hà mò bắt trở lại: khè khè xè xè…

Sau đây là tin chiến thắng mới:

Quân Giải Phóng vừa đột nhập căn cứ Đồng Dù của Sư đoàn 25 Mỹ ở Củ Chi. Đây tà những tên lính hung ác nhất trên chiến trường Miền Nam. Quân GP đánh hỏng giàn pháo, phá sân bay và một số kho tàng đạn dược làm cho bọn xâm lược vô cùng điêu đứng. Chúng tôỉ xin nhắc lại năm 1965 anh hùng du kích Nguyễn Văn Cội đã từ địa đạo trổ ngách lên căn cứ này đánh tan xác 13 xe tăng và bắt sống một tiểu đội lính Mỹ, bắt chúng lái xe ra khu Giải Phóng. Chiến công này làm cho quân Mỹ co cụm không dám càn ra các xã lân cận như trước nữa. Cho đến nay căn cứ Đồng Dù như một cái xác không hồn nằm giữa khu GP. Năm 1966 một đội cảm tử đã chận đánh và tiêu hủy 8 xe M113 ngay trước cửa căn cứ này. Kể từ lúc đóng tại đây bọn lính Tia Chớp Nhiệt Đới đã bị quân GP tấn công gây cho vô số thiệt hại, đặc biệt du kích đã làm cho chúng mất ăn mất ngủ bằng vành đai thép.

Và vừa mới đây ngày 20-9-69 biểu hiện ý chí biến đau thương thành sức mạnh, một nữ dũng sĩ đã dùng mưu kế đánh vào trung tâm căn cứ này diệt 48 lính Mỹ ngay trong câu lạc bộ giữa bữa ăn trưa. Một đội nữ dũng sĩ bên ngoài hiệp sức tấn công đốt phá sân bay trực thăng đốt cháy 6 chiếc UHA-1 và 16 chiếc OH6…

Nghe đến đó tôi bật dậy cười ha hả và gọi Thu Hà:

– Chắc thằng Bảy Ga chơi tụi nó rồi em ạ!

– Cái gì hả anh?

– Đơn vị mình làm ăn to rồi.

Nói xong tôi vọt ra cửa che tay nhìn về phía Đồng Dù. (Tôi đóng kịch cũng khá!)

Dưới nắng trưa chớp sao, không thấy gì hết. Cái căn cứ này đã tan hoang rồi còn đâu nữa mà nhìn thấy.? Một chiếc trực thăng trái chuối vừa cất cánh lên. Có lẽ chúng đang bốc xác lính Mỹ đem về Sài Gòn. Lại một, hai chiếc tiếp theo lên lên xuống xuống dưới bụng có đeo lòng thòng một cục to. Đó là pháo. Giàn pháo bị phá hủy nên chúng cho đem pháo mới thay thế.

Cơ hội này không thừa thắng xông lên lập thành tích mới dâng Bác, Đảng còn đợi chừng nào? (Tôi quên lửng Bác đã ngủm từ lâu rồi!)

Tôi bảo Thu Hà:

– Em ở nhà một mình nhé !

– Anh đi đâu?

– Anh về đơn vị có việc gấp chút rồi trở lại ngay!

– Em ở nhà một mình thì được. Có gì em chui hầm. Nếu lính chụp em sẽ trang sức như gái ấp chiến lược, ngoài ra em có thẻ bọc nhựa Sài Gòn phòng thân, nếu pháo nện thì em chui hầm. Còn anh không có cậu nào theo anh hết?

– Được mà.

Thu Hà ôm chặt lấy tôi không cho đi. Tôi vụt nhớ cái máy bộ đàm tôi đem theo lâu nay không dùng tới. Lưu Bị bận phục vụ Ngô Quận Chúa ở miết trong cung, quên cả cầm thương lên ngựa, có nhớ chi cái máy bộ đàm cỏn con vô dụng này. Tôi mở máy gọi Bảy Ga.

– Đồng Dù bị các cha đánh tiêu rồi hả?

– Thầy nghe tin ở đâu đã quá vậy?

– Ông cho người đi thám thính coi.

– Để tôi đến gặp thầy.

Tôi bảo: Tôi suy nghĩ hoài không biết tên ma bùn nào dám cả gan vượt qua mũi gã Thiên Lôi này làm ăn to vậy? Chẳng lẽ Năm Sĩ phục rượu cho chúng nó? E88 đâu còn tên quân nào mà chơi bạo thế?

Chiều hôm đó có người đến gặp tôi. Không phải Bảy Ga mà Năm Tân. Từ ngày tôi gặp hắn chuẩn bị đi dưỡng lão ở Cao Miên tới nay hơn 1 năm. Tôi quên hẳn hắn.

– Anh Hai! Mạnh giỏi?

– Mạnh chớ chết chóc gì mậy? Sao trôi về đây?

– Mệt quá anh à!

– Cái thằng! Sao được đi an dưỡng lại kêu mệt?

– Anh muốn đi thử một chuyến không? Thay vì lên cânlại mất ký

.

– Sao các ông lớn bà bé kéo nhau qua biên giới rần rần vậy?

– Mắm bò hóc khó nuốt lắm anh à ! Thà ở đây ăn muối quẹt mà ngon hơn.

Năm Tân cởi súng và ba lô hỏi sang chuyện khác:

– Anh có gặp chị Tư em ở đâu không?

– Từ mày đi tới bây giờ tao chỉ gặp bả một lần thôi.

– Chỉ bớt bịnh không anh?

– Tao nghe nói bả khi tỉnh khi điên, không hết hẳn. Mặt bả lơ lơ láo láo không được bình thường.

– Còn con Thơ?

– Nó sống nhờ sửa xe tăng đồ hộp Mỹ và lòng nhân từ của bà Năm Đang.

– Trời, Chị Tư và con Mạnh (em vợ Tư Nhựt) hè nhau chết chồng vào mồng hai Tết. Còn Sài Gòn mình vô đợt mấy rồi anh?

– Mầy ở trển không nghe gì à?… Đâu cũng nửa đợt 3, gần vô đợt 4 rồi đó ! Phải mầy lại sớm một chút nghe tin chiến thắng, đã lắm! – Tôi tóm tất bản tin vừa rồi cho hắn nghe và bảo- Tao kêu Bảy Ga cho trinh sát đi nghiên cứu xem có đúng không?

Năm Tân nói ngay:

– Anh không phải cho trinh sát mò vô Đồng Dù, e nguy hiểm. Anh chỉ cần kêu Bảy Ga cho một cô em cải trang đi vô ấp chiến lược gặp vợ em thì biết hết. (Vợ Năm Tân làm công trong Đồng Dù lấy lương nuôi y chiến đấu từ Đồng Khởi tới nay).

Tôi khen ý kiến hay, nhanh nhiều tốt rẻ. Bèn gọi Bảy Ga bảo làm y như vậy rồi quay sang Năm Tân giới thiệu Thu Hà. Năm Tân ngạc nhiên nói:

– Em mừng cho anh, từ nay thuyền cặp bến.

Tôi bảo:

– Tình hình an dưỡng thế nào? Hổng biết chừng tao cũng phải đi một cú. Kể nghe coi, chắc ăn toàn ăn đặc táo hả?

Năm Tân cười:

– Ăn đặc cáo thì có.

Tô bảo Thu Hà nấu cơm cho Năm Tân ăn với cá mòi “đứng” (1). Vừa ăn Tân vừa kể chuyện đi an dưỡng.

… Qua đất Miên. Trời ơi! Mới biết nước nào cũng khó sống hơn nước mình. Tụi Thổ nó thù mình thâm xương anh à ! Mình tưởng nó kính phục mình và thân thích mình lắm. Ai dè tưởng vậy mà không phải vậy đâu anh ơi!

Tôi nói:

– Tại mày đi không trúng lạch chớ tụi Miên đỏ là đồng chí của mình lâu rồi mà !

– Em đi giấy của Khiêu Sam Phan là chúa tể Khờ Me đỏ rồi còn ai hơn nữa anh ! Nhưng dân đàng Thổ, nó ghét minh đâu hồi xưa tới bây giờ. Thằng nào cũng nhìn mình bằng cặp mắt trắng dã thấy mà lạnh xương sống. Nó không làm gì mình cũng sợ. Nếu xảy ra chuyện gì mình kêu ai, chạy đi đâu? Lên đến phum Tà Nốt em đã muốn trở về rồi. Nhưng lỡ đi, thôi đi đại. Chờ mất một tháng mới có giấy phép lưu hành trên đất Miên. Mình còn cái bộ xương. Em tưởng em như con cá lóc rộng lâu ngày trong khạp, thịt thà mất hết chỉ còn cái đầu chờ vờ. Mấy đêm đầu ngủ trên xứ Thổ, em nhớ nhà quá. Mình đang chiến đấu mà bị đưa đi lưu đày. Nó cho em ngủ trong chuồng trâu thúi rùm, lại sợ nó cáp duồn. Thằng liên lạc là người của Khờ Me đỏ. Nó nói tiếng mình lơ lớ, tỏ vẻ thân ái, nhưng nó liếc cây K54 và cái đồng hồ. Coi bộ nó muốn “đeo giùm” mình. Em lột phức cái đồng hồ cho nó .

– Có qua đồn bót gì không? Tôi hỏi.

– Nhiều chớ. Nó bắt mình đóng tiền mãi lộ. Mẹ, lính tráng gì bận xà rông, ở trần, chơi bài và hút á phiện ngay trong bót. Cờ bạc thua, đem cả xe mô-tô ra chung. Không đủ bắt cả vợ con thay vào. Tụi này đụng trận, cho em một D, em lùa một hơi thấu Nam Vang. Chuyện dài lắm anh ạ ! Ở trên đó một năm, em phải kể cho anh nghe một tháng mới hết.

– Chuyện gì rắc máu kể vài cái nghe thử?

– Chuyện này em không bị nhưng dân cán mình lên đó ai cũng nghe.

– Đông không?

– Lềnh khênh, không thiếu mặt nào. Lớn nhỏ đủ hết. Dân chánh phải cấp khu trở lên. Còn quân đội thì bét nhất phải tiểu đoàn phó. Đại đội trưởng hụt tiêu chuẩn. Em gặp ông Tám Xe Ngựa, Hai Phón, chồng bà Út Siêng trên đó. Em biết họ mà do không biết em nên họ hỏi thăm bên nhà tự nhiên lắm, không mắc cỡ chút nào.

– Rồi chuyện gì?

– Có một đoàn đâu 5, 6 nhơn gì đó vô trong một Sóc ghé lại ngủ nhờ. Chủ nhà cho lên nhà sàn nằm tử tế. Nửa đêm nó bó cửa phóng hỏa.

– Chết ai không?

– Chui ra được vài mạng nhưng bị chà gạc lụi.

– Tụi nó thù mình dữ vậy sao?

– Thù chớ. Nó nói với nhau, kêu mình là thằng duồn mà!

– Hồi 45 tụi nó nổi lên đòi đất. Tiếng cáp duồn có từ đó. Đất Hà Tiên Rạch Giá là của nó mà. Mình lùa nó chạy rồi chiếm luôn. Mối thù của nó đối với mình là thù truyền kiếp chớ không phải thù mất con gà con vịt gì đâu nghe!

Năm Tân tiếp:

– Em trôi lần lên tới Sông Bé.

– Sông Bé nào? Sông Bé Phước Long à?

– Em không biết. Anh dở bản đồ ra xem. Ở đây người ta đi đuôi tôm ra vô Hồng Ngự hằng ngày, buôn hàng, buôn bạc Sài Gòn đổi Rịa.

Rịa là giống gì?

– Là tiền con Mên. Lên đó tiền Sài Gòn phải đổi ra Rịa mới xài được. Trời, Sông Bé cứ vài trăm thước có một miệng đáy. Cá nhiều không thể tả. Cá mè, cá rô cỡ bắp tay, bàn tay không thèm ăn, đổ cả đống phơi khô làm phân trồng dưa hấu. Còn ruộng hai bên bờ kinh cứ chiều đem lưới bén ra giăng, sáng lôi lên cá dính gỡ không hết.. Nấu canh chua chỉ húp nước và ăn rau chớ không ăn cá.

Tôi bảo:

– Vậy là cửa tiên, còn la cái gì, em bậu!

– Nhưng mà chán lắm anh ơi ! Đi đâu cũng một thứ đó. Mấy ông lớn chiếm nhà to có các em phục vụ như vua, tối ngày nghe Cải Lương Nhạc Nhọt Sài Gòn, rồi nằm sấp nằm ngửa cho các em đấm bóp.

– Em đui cà then à ?

– Không, nữ sinh ở thành ra trắng phau, mướt rượt chớ Miên đâu! Rồi cũng kiểm thảo, dâm ô, tham ô, cũng thầy chích, thầy nạo y như ở Bưng Còng.

– Hai cái ô đó ở đâu mà không có. Mày lo dữ hôn?

– Chống Mỹ như mấy chả, em xin giơ hai tay hai cẳng, chống muôn năm!

– Mày không có kiếm được “hũ rượu uống không đau lưng” nào à ?

Năm Tân nhăn mặt:

– Thôi, thôi anh ơi! Cái thứ đó khó hốt lắm! Anh em mình quơ hụt bộn bàng. Bi khai trừ đảng kia đó. Lý do: làm mất tình hữu nghị quốc tế Việt Miên.

– Còn tụi nó lụi mình bằng chà gạc thì không mất gì sao?

– Tại nước của nó mình qua ở đậu mà còn quơ hốt nọ kia. Nó không tức sao được!

Chiều hôm sau Bảy Ga gọi tôi:

– Báo cáo thầy Hai tôi cho con Phương gặp vợ Năm Tân rồi.

– Thế nào?

– Không có gì cả. Đồng Dù còn nguyên không sứt cái lông nào! Bảy Ga nói oang oang trong máy- Nó mướn thêm dân công cất nhà cho lính Mỹ mới tới ở đó cha nội.

– Còn mấy cục đen thui si-nóc đeo hôm qua là cái gì?

– Nó đem thêm pháo.

– Mấy vụ đài nói không có vụ nào xảy ra à?

– Đó là vụ con Lan gài chất nổ trong hộp cô-ca, vụ Út Bá dẫn đội cảm tử vô và vụ thằng Cội đột nhập thất bại hồi nó mới đóng Đồng Dù, toàn là “bánh ú o” của má con Chín Khuân chớ mấy năm nay, ngoài trận thầy đánh xe tăng ở gần Ngã Ba Trùm Tri đâu có trận nào. Nếu có, thì mình phải biết chớ!

Năm Tân nhìn tôi . Tôi nhìn lại.

Hồi lâu tôi hỏi:

– Bây giờ mày tính sao?

– Anh coi công tác nào giao cho em một cái.

Tôi cười:

– Mày muốn “cái vắn” hay cái dài?

– Anh phá em hoài !

– Mình sắp vô đợt mới, thiếu gì công tác. Thằng Cử mới ở R về, tao giao cho nó phụ trách D3 còn mày D1 được không?

– Em xin Df như cũ thôi.

– Sợ làm “Dê trưởng” mệt hay sao? Hề hề !

– Vết thương sọ não của em bị ở trận Đồng Lớn chưa lành anh ạ! Trời nắng nhức lắm.

– Thôi được, để tao sắp xếp cho mày “dê phó”.

Một chập, Năm Tân lại hỏi:

– Sao anh ở đây kỳ vậy?

– Tạisao kỳ?

– Đây là Xóm Thuốc, căn cứ của khu bị hôi ổ rồi, anh không biết sao?

Tôi cười:

– Tao không biết thì còn ai biết mậy ? Sau khi mình pháo kích văng cái chuồng cu Trung Hòa bắn rơi B27 ở Đồng Chà Dơ tao đem chiến lợi phẩm về trình mấy ông ở đây. Cây Colt bằng thép trắng nhãn hiệu Ngựa Bay của thằng phi công, ông Mười Niên chộp đeo liền. Mấy ổng nhậu thịt chó, có bà Út Tức nữa… Hiện giờ tụi mình đang bị Mỹ “dậm cù” xây cụm hết rồi. Nó chỉ cần đặt vài cái lọp lùa một phát là vô hết.

– Anh biết vậy sao còn ở đây?

– Trong binh thư yếu tố mạo hiểmbất ngờ rất quan trọng. Đôi khi phải dùng.

– Tôi ớn anh quá !

– Bây giờ mày coi thử, khắp Củ Chi này còn đóng ở đâu được? Chúng nó san bằng Củ Chi bằng mọi giá để giữ an ninh cửa ngỏ Sài Gòn đang bị đe dọa. Chúng nó đâu có ngu mà nhắm mắt để mình tung hoành.

Năm Tân ngồi im ra chiều tư lự. Một hồi lâu lai hỏi:

– Hồi còn ở trên Miên, em có nghe đài nói: “Chánh phủ Cách Mạng” gì đó ra đời. Anh biết chánh phủ gì không?

– Tao không rành, chỉ nghe ông Năm Lê gọi là “hòn đá thọ khí âm dương của loài khỉ bị búa tầm sét đả nứt sinh ra nó”.

– Em nghe có tên anh Ba mình trong đó, phải không anh?

– Tên gì?

– Trần Đình Xu, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng!

Tôi giật mình, gạt phắc:

– Anh Ba mình tên Ba Đình. Xu là ông nào không phải ổng đâu!

Thu Hà đem ra một bình trà và một đĩa kẹo đậu phộng. Hai đứa uống trà ăn kẹo. Trời, nhai rôm rốp nghe dòn đến nỗi sợ trực thăng đầm già phát hiện phóng rốc-kết. Bỗng Năm Tân buột miệng:

– Anh giấu em hoài anh Hai !

– Tao giấu mày cái gì?

– Ổng đạp mìn ở biên giới. Mới đầu nghe ở Mỏ Vẹt, sau rõ lại là ở Phước Chỉ bên Hiếu Thiện.

– Tầm bậy!

Năm Tân làm thiinh. Hắn ngửa cổ hớp chút trà còn lại trong đáy tách và nói thinh không:

– Bãi mìn của ai gài ác quá! Rộng mấy trăm thước!

Thấy không chối lấp được tôi hỏi:

– Ai nói với mầy?

– Tụi giao liên biết hết. Khách cũng rành. Nhưng làm bộ bí mật.- Năm Tân chép miệng- Thằng Mười Trường bộ đui sao chớ, xã Phước Chỉ là đất của nó mà người ta gài mìn nó không biết thì làm quận đội cái gì?

– Nó cũng chết chớ bộ chỉ phái đoàn thôi sao!

– Bàn cờ có 2 con xe, thí hết còn đánh chác gì! (ý Năm Tân nói Sáu Di và Ba Xu)

Hai đứa lại lặng im. Hồi lâu tôi nói sang chuyện khác:

– Còn đánh chớ sao không. Mày về củng cố D1 rồi đánh Đồng Dù.

Năm Tân lõ mắt nhìn tôi. Tôi thản nhiên:

– Mày tưởng tao đùa à?… Mày đi một năm ở nhà thay đổi nhiều lắm. E mình đã phân tán mỏng chỉ chiến đấu bằng tổ tam tam thôi chớ không tập trung D, C nữa.

– Anh nói chơi hoài! Tam tam chế mà đánh ai?

– Với tổ tam tam ta có thể chơi bay cái Đồng… Dù… Ủa thiệt mậy! Mày không nghe đài nói hồi chiều sao?

Năm Tân gạt:

– Bảy Ga cho đi thám thính về, bảo nó còn nguyên mà ! Hổng lẽ đài GP nói thi…iệt?

Tôi cười:

– Bữa nay nó còn nguyên nhưng ngày mai nó tiêu tùng. Mày quên duy vật biện chứng pháp rồi sao. Tất cả đều đổi thay theo ý muốn của Mác.

Năm Tân ngồi ngớ ra. Rồi nói:

– Ờ, phải. Hồi em đi thì anh còn cu ki. Khi em về anh đã có “chị Hai”. Đổi thay theo Mác là vậy đó.

– Tao quyết định cưới vợ sau một trận đội dưa hấu chùm ở Ràng.

Tôi gọi:

– Thu Hà ! em lấy cái xắc-cốt ra cho anh.

Thu Hà đem xắc-cốt ra. Tôi lấy bản đồ Đồng Dù trải trên đất rồi hai đứa bò nhoài lên quan sát như “Hồ chủ tịch và Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghiên cứu Sa Bàn Điện Biên Phủ.”

Tôi lấy đèn pin quáu của nàng Ua mua cho tôi ở chợ Bắc Hà soi lên bản đồ và giải thích.

– Đây là tỉnh lộ 8A chạy lên Bình Dương gặp nhau ở ngã tư Trùm Tri với hương lộ 237 có cổng chính Đồng Dù . Còn đây là Đường 2 Làng với các bãi mìn cố định. Cắt ngang là suối Bà Cả Bảy, chảy bọc sau lưng Đồng Dù. Trước đây xe tăng chưa lọt được, nhưng từ năm 1966 trở đi, nó lội qua luôn bằng những tấm vĩ sắt, rượt mình chạy tóe phở.

– Em biết rồi anh Hai. Anh khỏi phải nhắc em cũng nhớ. Trời! Làm sao em quên được những trận bị xe tăng càn đuổi ở Phú Hiệp, Bàu Lách, Bàu Trăn, đến chừng đứng lại chỉ còn cái quần tiều.

Tôi tiếp:

– Bề dài của nó là 3 km. Bề ngang 2 km. Như vậy châu vi của nó là 10km , đều bao bọc bằng dây kẽm gai 3, 4 lớp, bãi mìn, hào hố và hàng trăm thứ chướng ngại vật. Ngoài ra còn những hàng rào sống, là ấp chiến lược Cây Bài, xóm Cây Sộp. Thứ này nhạy hơn cả hàng rào điện tử Mắc Ra Ma.

– Biết rồi anh Hai. Nhà vợ em ở ấp Cây Bài chớ đâu!

Tôi lại tiếp:

– Bây giờ đi vào ruột Đồng Dù. Ngoài rìa phía suối Bà Cả Bảy có một khoảng trống lớn hình chữ thập, đó là bãi trực thăng, lúc nào cũng thường trục từ 30 đến 40 chiếc đủ loại. Phía sát hàng rào bên cạnh bót canh là hầm xăng. Gối đầu lên sân bay có nhiều ô. Em xem cho kỹ nhé. Kể từ phía Đường 2 Làng, ô thứ nhất rộng lớn là bãi đậu xe tăng lúc nào cũng thường trực từ 20 đến 30 chiếc. Ô kế là trận địa pháo đủ loại. Ô kế là tháp nước và nhà lính. Ô kế cũng là nhà lính. Ô rìa bên phía tỉnh lộ 8A là kho đạn. Em thấy kiến trúc của nó rất khoa học. Hầm xăng và kho đạn ở ngoài rìa, nếu bị pháo kích bên trong không bị hại lây.

Năm Tân mọp sát xem và hỏi:

– Giáp với bãi xe tăng là cái gì đây anh?

– Đó là pháo. Bãi pháo rất rộng. Gồm có 15 -20 khẩu. 4 ô liền đó là nhà lính. Chính giữa là Bộ chỉ huy và câu lạc bộ. Cạnh câu lạc bộ là nhà thương. Bên rìa trái là kho quân cụ, còn các ô trống kia là linh tinh. Chung quanh có 8 chuồng cu ngó ra 4 phía. Muốn đánh hạ căn cứ này mình phải có 4 sư đoàn bộ binh,2 trung đoàn pháo, 25 tổ đặc công, đó là chưa kể các thứ râu ria khác như B40, súng phun lửa, bộc phá. Phải sử dụng ít nhất 15 ngàn trái pháo, 1500 bộc phá v.v… thì mới đánh hỏng cái căn cứ này, có nghĩa là làm cho nó mất khả năng chiến đấu. Phải hi sinh ít nhất 1 trung đoàn. Hậu cần phải có 2 ngàn dân công. 20 địa điểm cứu thương và giải phẫu.

Năm Tân ngồi chăm chú nghe. Khi tôi dứt lời, y hỏi:

– Quân đâu mà đánh lớn vậy anh? Đi Sài Gòn về mình như con cua rụng hết ngoe càng, chỉ còn có cái mu.

– Ồ! tao có kế hoạch rồi. chỉ cần 2C là đủ tấn công và tiêu diệt nó trong chớp nhoáng.

– Thiệt sao anh Hai?

– Tao đùa một chuyện quan trọng như vậy à?

Một chốc, Năm Tân mới hỏi:

– Anh cho em đi mũi nhọn nào?

– Mày đi mũi chính như Tư Nhựt vô Sài Gòn, dám không?

– Anh biết em mà anh Hai. Bây giờ em muốn chết hơn lúc nào hết. Chết là khỏe nhất.

– Bậy nà? Nếu mày muốn chết thì tao để mày ở nhà . Thằng nào sợ chết mới được danh dự tham chiến.

Rồi tôi “trình bày” kế hoạch tỉ mỉ cho hắn nghe:

– Mình đánh bằng địa đạo chiến, Năm Tân ạ !

– Nghĩa là sao?- Năm Tân nhìn tôi, không hiểu gì hết.

Tôi trỏ trên bản đồ, giảithích tiếp:

– Mình chia quân làm 3 mũi. Mỗi mũi có 2 đường tiến quân song song, một ở trên mặt đất, một luồn dưới địa. Mũi trên D1 do mày chỉ huy từ xã Phước Hiệp đánh thẳng qua cổng chính tiêu diệt chỉ huy Sở của Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 25, phá hủy các phương tiện liên lạc với các nơi.

– Em làm sao hoàn thành nhiệm vụ nổi anh?

– Để tao bảo. Tao đã cho đào địa đạo thông vô dưới đít chỉ huy Sở, đặt sẵn 1 tấn TNTrồi. Đến giờ G tao cho châm ngòi. Bay tung tất cả. Mày chỉ cần vào đó lượm xác Mỹ như nhái chết trong giỏ thôi.

– Trời, kế hoạch ghê vậy sao anh Hai ?

– Ghê chớ sao không ghê mậy. Mũi thứ hai, luồn dưới địa từ Nhuận Đức đánh vào phía Đường 1 Làng, chia làm 3 ngánh, một ngánh đánh đám xe tăng bằng 1 tấn TNT, một ngánh đánh giàn pháo cũng bằng thuốc nổ, một ngánh đánh bãi đậu máy bay bằng chất hóa học. Máy bay còn nguyên nhưng không cất cánh được. Ngánh này đốt hầm xăng. Trên mặt đất cũng có 3 mũi. Hễ nghe tiếng nổ là xông vô tiếp cận và giải quyết chiến trường, thu chiến lợi phẩm.

Năm Tân khoái chí kêu lên:

– Trời! đã quá anh Hai. Anh cho em đi cánh đánh trực thăng đi! Em thù tụi này lắm.

– Không được! Cánh này chơi bằng vũ khí đặc biệt mày đi an dưỡng lạc hậu rồi, không biết xài đâu.

– Còn cánh thứ ba, anh Hai?

Tôi tiếp:

– Cánh này từ Phước Vĩnh Ninh luồn vô. Mục tiêu của nó là kho đạn và kho quân cụ. Đốt cháy hoặc lấy đem về, tùy tình hình lúc bấy giờ tao sẽ có lệnh sau. Như vậy là toàn bộ Đồng Dù tê liệt hoàn toàn. Pháo quẹo nòng, xe tăng hỏng xích, trực thăng xụi cánh, bồn xăng cháy. Bộ Tư lệnh hoặc tan xác hoặc bị bắt sống. Chúng ta sẽ xóa sổ Sư Đoàn Tia Chớp Nhiệt Đới Mỹ ngay trên đất Củ Chi.

Năm Tân mơ màng:

– Em đề nghị anh cho dân công chiếm lĩnh nhà thương lấy thuốc men. Vừa rồi tụi Bảy Đạo vô Củ Chi làm ẩu, mình mang tiếng là ăn cướp, nhưng sự thực lấy có mấy xe bò vải, không có thuốc.

– Mày khỏi lo, kế hoạch tao đã vạch chi tiết hết cả rồi. Vấn đề quan trọng nhất là địa. Nhưng cũng đã hoàn thành. Chỉ còn chờ giờ G nữa là tao hạ lệnh tấn công.

– Vậy hả anh Hai? Anh có thể cho em biết làm sao địa đào nhanh vậy?

– Thằng Liên Xô mới viện trợ máy đào đất đã lắm! Cái nào cái nấy giống như bàn nạo dừa vậy. Đào êm ru không nghe tiếng động. Cứ kê vô là nó hít miết, mỗi phút đào được 4-5 chục thước ở tầng 1, còn tầng 2, tầng 3…

– Chắc đất cứng đào chậm hơn hả anh?

– Không! Xuống tầng 2 tầng 3 có loại máy mạnh cũng đào nhanh như vậy.

– Rồi đất đổ đi đâu cho hết?

– Ồ mày sao khéo lo! Liên Xô mà? Mày phải biết! Đào được thì đổ được, chớ khó gì. Nè, – tôi nói nhỏ lại – Có chuyên gia đào hầm bên các nước anh em gởi sang nghe cậu. Mấy ông này từng tham gia đánh Mỹ ở Triều Tiên cũng bằng loại địa đạo ăn luồn vô căn cứ địch kiểu này. Mỹ sang Việt Nam lại bị phép cũ. Có một đại úy tên NguyễnThành Linh là người mình, còn bao nhiêu đều là mấy ổng hết ráo.

– Mặt mũi râu ria họ như vậy, ăn ở đâu cho khỏi lộ bí mật, anh?

– Cái thằng ngây thơ quá mậy. Mày quên ở dưới địa đạo có nơi ăn chốn ở cho bộ đội à?

– Hồi nào, sao em không biết!

– Àạ ạ…. hồi đó mày đã đi an dưỡng bên Miên rồi, mà dầu mày có ở nhà, ai cho mày biết?

Năm Tân nói:

– Để em chạy kiếm một bình toong đế nhâm nhi rồi anh hãy kể tiếp nghe cho đã.

Tôi bảo Thu Hà đem bình toong rượu ra, hai anh em đưa cay với khô cá kèo.

Năm Tân hồ hởi tiếp:

– Anh có kế hoạch rút lui không?

– Tao biết, đường rút gay go hơn cả trận đánh nên tao đã tính cả rồi.

– Rút về Phú Hòa Đông là an toàn nhất anh ạ !

– Không! Bây giờ với chiến thuật địa đạo, rút lui là thụt xuống địa đạo chớ không đi đâu hết. Nếu cần tao cho qua bên sông nhấp nháy.

– Nhỡ tụi giang thuyền nó giăng ngang rồi làm sao?

– Mày đi có một năm mà lạc hậu quá ! Địa bây giờ có 2 ngánhchui qua sông. Một ở ngay Bến Dược, một ở Bến Hõm, cả hai đều luồn tới Long Nguyên. Thôi, tao chỉ có thể lộ bí mật cho mày đến mức đó thôi. Đừng hỏi nữa !

Năm Tân nốc liên miên và kêu: “đã quá ! đã quá !” Tôi móc thuốc hút:

– Bây giờ chuyện tao lo độc nhất là gì mày biết không?

– Là điều động các đơn vị sao cho khỏi lộ bí mật!

– Phải rồi, nhưng tao sợ nhất là các ngánh địa đã đào vô đít Đồng Dù. Mặt đất mỏng quá, Mỹ lớn con nặng ký, đất phát sụp thì bể hết.

– Đại úy Nguyễn Thành Linh làm xong nhiệm vụ rồi rút về ngoải hay ở đây luôn anh?

– Tao không rõ.

– Sao anh không xin ổng ở lại huấn luyện cho mình?

Tôi không nhịn cười được nữa. Tôi bảo.

– Tao sắp thay công tác!

– Anh đi rồi ai chỉ huy thực hiện kế hoạch đánh Đồng Dù?

– Đài Giai Phóng! Nó đã tiêu diệt Đồng Dù hôm qua rồi, còn đâu tới tao với mày ! Há há hố hố hố!

Năm Tân nhìn tôi tẽng tò:

– Anh thiệt à !

– Mày thông minh không kém ông già Kẹt là mấy!

– Ông già Kẹt nào?

– Ổng vừa vọt lên Miên tìm thuốc rượu đau lưng, bộ mày không gặp ổng sao?

Năm Tân chợt hiểu, trả ngón lại tôi:

– Chắc ổng chờ anh hạ xong cái Đồng Dù rồi sẽ về đem “hũ thuốc rượu” thưởng cho anh đó !

Hai đứa nốc cạn bình toong đế. Rượu vào lời ra. Rượu cạn lời cũng hết. Chuyện cũ đất thép thành đồng tóm lại trong hai chữ “ngồi thum” như ếch già ngồi miệng hang. Hễ nghe động là chui. Xe tăng chạy ngoài đồng như bọ hung, trực thăng bay trên trời như ruồi. Pháo bắn vài chục trái, đồ bỏ. B52 cũng lờn. Thân này ví phỏng làm ma được ? ?

Lấy gì để chống những thứ đó? Rượu và em! Có rượu bớt sợ chết. Có em ngồi thum đỡ buồn. Xe tăng đẫy hầm, cán nhẹp hầm là chuyện xảy ra hằng ngày. Nghe mãi nhàm tai.

Một hôm Bảy Ga kêu tôi qua máy:

– Năm E và Sáu Hùm bị moi hầm bắn chết!

Tôi rụng rời tay chân. Hai ông bạn tình nghĩa mất rồi. Có bề gì tôi cậy nhờ ai? Tội nghiệp cô Bảy Bánh Ú hết dạ thờ chồng. Tội nghiệp mụn hùm con. Oe oe chưa lớn được mấy tí đã mồ côi. Cái chức Trung đoàn và Tiểu đoàn ông tướng Trần Độ phong láo cho 2 người một đêm rụng rún ở Rạch Cây Da, lon gáo chưa mang đã mất mạng.

Hôm sau tôi lại nghe tin: Hai Khứ và Bảy Điếc bị biệt kích moi hầm móc lên bắn chết tại miệng hầm. Năm Rỗ bị pháo. Họ bắt được lính Mỹ ở Truông Viết đem nạp cho tôi và mong sẽ đổi được cái máy cày cho xã Phước Hiệp. Nhưng máy cày chưa đến – Có lẽ không bao giờ đến – mà bộ ba đã đi, chưa biết cái máy ra sao.

Chiều trên chiến địa hoang tàn buồn tênh. Tôi ngồi trong nhà nhìn ra. Đất bốc hơi mù mịt từng cụm. Đó là linh hồn không tan của những người nằm yên trong lòng đất Củ Chi.

Một chòm cây lúa thưa còi cọc. Nhà mủ Hố Bò giờ còn có thế. Khu rừng bi xe tăng bào láng. Cô em xã đội trưởng và chú Tư Thiên bi xe tăng cán nhẹp không ai biết ở nơi nào. Tôi muốn đốt một cây nhang tưởng niệm.

Lụa, Là, Má Hai, bé Rớt. Bộ ván gõ với chiếc gối tai bèo, cây vú sữa ở góc sân, ngày tôi mới về… tất cả đều đã biến đi. Một mảnh trời đất nào thay vào đó.

(1) Loại cá mòi đựng trong hộp tròn cao chớ không phai hộp dẹp hình hột xoài. Cá mòi đứng rẻ hơn cá mòi nằm hộp dẹp.

Chương 128

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, DƯƠNG ĐÌNH LÔI & XUÂN VŨ: 2000 ngày đêm trấn thủ Củ Chi, Xuân Vũ, Xuân Vũ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s