TỰ VỊ THẾ KỶ (Xuân Vũ): Đứa bé mất mẹ

Đứa Bé Mất Mẹ

Một buổi chiều êm-ả, tôi ngồi trong vườn hoa, nhìn ra biển xanh để mơ-mộng trong cô-đơn. Nhưng sự êm-ả nhung lụa của biển và những con tàu chạy xa xa trên mặt biển gợi lên trong tâm-trí tôi cái quang-cảnh đảo Phú-Quốc, một hòn đảo ở phía Nam nước tôi, nơi đã xảy ra một thảm-cảnh hãi-hùng mấy năm trước đây.

Dù tôi muốn thả hồn theo cánh nhạn trắng bềnh-bồng trên mặt biển xanh hay để lòng tan theo bọt sóng, tôi cũng không thể. Quang-cảnh ngày xưa đã sống dậy trong đầu tôi nóng bỏng như mới ngày hôm qua mà tôi vừa là chứng-nhân vừa là nạn-nhân.

Lúc bấy giờ là hoàng-hôn. Tôi đã đưa gia-đình tôi xuống tàu lớn đậu ngoài khơi từ đêm hôm trước. Tôi yên tâm là tôi đã thoát chết. Tôi lẳng lặng đứng trên boong tàu nhìn.

Tất cả các loại thuyền buồm, tàu hải-quân và những thuyền chèo chạy đen cả mặt biển và khói từ các ống khói tàu phun lên như hơi thở của những con quái-vật làm xám xịt cả nền trời chiều và tối ám cả tâm-trí tôi. Tất cả những thuyền ấy chạy đâm vào chiếc tàu lớn, nơi tôi đang đứng, với tất cả tốc-độ của chúng. Người trên thuyền đông nghẹt như đũa trong ống. Sau cùng những thuyến ấy đã đến và móc vào tàu lớn. Người dưới thuyền vẫy tay la ó mong được sự cứu vớt của những người đang đứng trên tàu. Nhiều người tìm cách leo lên nhưng tàu lớn quá cao, không có thang nên không leo lên được.

Chỉ có một cách và là cách tốt nhất, là chờ đợi chiếc bọc lưới từ trên lái tàu lớn hạ xuống. Chiếc bọc lưới từ từ hạ xuống giữa những tiếng kêu gào càng to hơn và khi nó chạm boong thuyền thì người ta xô lấn nhau ác-liệt để được chui vào trước nhất. Mỗi bọc lưới chỉ có thể chứa được độ mươi người. Khi nó vừa cất lên thì có vài người liều mạng đeo toòng teng cả bên ngoài. Thế mà họ không rơi. Khi bọc lưới lên đến boong tàu thì chính họ là những kẻ nhảy xuống trước nhất.

Những chuyến du-hành của chiếc bọc lưới cứu người cứ vận-chuyển đều đều, không nhanh hơn cũng không chậm hơn, bất chấp cả sự sốt ruột của những kẻ xấu số đang chờ đợi dưới kia. Cứ vớt hết thuyền này, nó lại vớt tới tàu khác. Khi một chiếc tàu đã sạch người thì chủ tàu cài tay lái cho nó đâm liều vào một miền xa vô-định để chết ở đó.

Trước mắt tôi là đảo Phú-Quốc mờ dần trong đêm đang xuống và sau lưng tôi là một thành-phố chói loè ánh sáng. Đó là một bộ-phận của Đệ-thất Hạm-đội với những trực-thăng bay lên đáp xuống rộn rực cả một vùng trơì. Ở chân mây, mặt trời đã ngấm xuống như một hòn máu nhuộm đỏ mặt biển, máu của đồng-bào tôi và của chính tôi.

Càng tối, cảnh tượng càng hãi-hùng hơn. Tiếng kêu la thảm-thiết từ các thuyền còn đầy ứ người chưa được vớt. Cứ mỗi chuyến lưới cất lên thì có độ trên mười người được cứu, bất kể nam-phụ-lão-ấu, miễn ai vào được thì thoát.

Bỗng nhiên cái bọc lưới không hạ xuống nữa. Nó tự nhiên chấm dứt sứ-mạng cứu người. Mặc cho tiếng kêu gào, cái bọc lưới đui điếc vẫn cứ làm ngơ, ôm chặt ngọn cột, không tụt xuống nữa. Chiếc tàu lớn đã không còn chỗ. Người chen đặc như nêm cối. Tuy không còn cách nào để leo lên tàu lớn, nhưng người dưới thuyền không chịu thua. Họ cứ gào thét và vẫy tay ném nón, tung khăn mong chiếm được sự thương xót của những kẻ ở trên.

Từ một chiếc tàu hải-quân, người ta ném một cuộn dây lên. Một người chụp lấy buộc chặt sợi dây vào một trụ sắt trên boong tàu. Như thế là chắc chắn chiếc tàu hải-quân không bị trôi ra xa. Sóng khá to cho nên sợi dây bị giật rất mạnh, tưởng chừng có thể làm đứt ngay. Mặc kệ, một người từ dưới treo mình dưới sợi dây và leo phăng phăng lên. Người đứng trên vẫy tay khuyến khích. Nhưng sợi dây bị sóng giật mạnh quá, hơn nữa đường dây dốc đứng, nên anh ta leo được một quãng ngắn thì bị sút tay rơi xuống biển, giữa những ngọn sóng vô tri. Một người lính thủy Hoa-Kỳ vội vã mang bộ đồ lặn và nhảy xuống mò, nhưng vô hiệu-quả.

Trời đã tối hẵn. Người ta còn chồm xuống nhìn nhưng không còn trông thấy gì ngoài bọt sóng trắng xoá phủ lên xây nấm thủy-mộ cho một con người bạc-phận.

Tôi tìm cách trở về hầm tàu nơi tôi đã ổn-định chỗ cho gia-đình tôi. Trong khi rẽ những đám người dày đặc, tôi nghe từ loa phóng thanh một giọng nói hấp tấp: “Chúng tôi yêu-cầu bố mẹ của một em bé trai tám hoặc mười tháng đến ca-bin số 1 để nhận lấy con về!”. Tiếng nói lập lại hai lần rồi sang chuyện khác cũng có tính-chất thông-tin.

Ca-bin số 1 là điểm tựa của gia-đình tôi. Tôi phải cố sức chen lấn mới về được đến nơi. Người ta ngồi đứng, xô đẩy cãi cọ với nhau để tìm một chỗ khá hơn. Mệt thở không ra hơi, nhưng tôi nhìn thấy những người mới lên tàu còn khổ ải hơn tôi nhiều. Đói khát, ưu sầu hằn lên khuôn mặt của họ.

Tôi chú ý một anh lính trẻ mặt quân-phục đứng bên góc ca-bin tay ôm một đứa bé và là một đứa bé trai. Nó vừa được đề-cập tới trên máy phóng thanh chắc? Linh-tính tôi tự bảo. Thằng bé đã được cha nó bế. Nó có phước hơn biết bao nhiêu người đã mất hết cả của cải lẫn gia-đình. Giờ này, cộng-sản đã vô tới Sàigòn rồi. Big Minh đã nhục-nhã đầu hàng rồi và gọi kẻ thù bằng “người anh em phía bên kia!!”

Nhưng sau một lúc quan sát những cử-chỉ vụng-về trong cách bồng bế trẻ con, tôi nhận ra anh lính trẻ kia không phải là cha đứa bé. Tôi thu xếp để nhường một chỗ cho anh lính và đứa bé, mặc dù cả gia-đình tôi cũng chỉ chiếm chừng hai thước vuông cho bảy người. Nhưng anh lính trẻ từ-chối . Anh ta cứ đứng dưới cầu thang và lắc ru đứa bé trong hai tay. Đứa bé mất mẹ khóc ngất lên và vung tay chòi chân đòi tụt xuống còn anh ta thì cố giữ nó lại và dỗ cho nó nín. Thấy nó không chịu nín, anh ta quát:”Tao ném mày xuống biển bây giờ!” Tuy mồm nói thế mà tay vẫn lắc ru rồi nói với nó bằng một giọng dịu-dàng hơn. Dường như anh ân-hận đã lỡ nói những lời như thế với một đứa bé.

Một chập sau, tàu kéo neo. Tiếng dây xích chạy rút vào mũi tầu ầm-ì làm cho tôi trở về thực-tại và tôi nghĩ rằng tôi đã thoát chết trên chiếc tàu đang quay mũi ra khơi này mặc dù tôi không biết là đi đâu. Đi đâu cũng đi. Từ ác-mộng sang ác-mộng. Nghĩ cho cùng, thì cuộc đời chính là thế. Đứa bé trên tay anh lính đã mệt nhoài vì khóc la nên đã ngủ thiếp đi. Chiếc tàu đã hướng ra biển rộng lắc-lư trên những lượn sóng càng lúc càng to, bỏ lại sau nó… tất cả.

Các chiếc tàu con và thuyền bè vô chủ hoặc còn đầy người đang chạy loạn đủ mọi hướng.

Bỗng nhiên một tiếng khóc to dâng lên cùng khắp trên tàu. Tất cả mọi người đều khóc. Họ biết ra đi lần này là vĩnh biệt.

Tiếng khóc dịu dần khi đêm xuống hoàn toàn. Chiếc bóng đèn trên cầu thang chiếu sáng gương mặt người lính trẻ và đứa bé. Anh ta vẫn đứng đó, gương mặt lạnh-lùng, dường như anh ta không biết gì đến những biến-cố xảy ra chung quanh. Còn đứa bé thì vẫn ngủ say mặc cho tiếng chân chạy lên chạy xuống ầm ầm không dứt. Bây giờ anh mới ngồi xuống tựa lưng vào chân cầu cho đỡ mệt và cẩn thận giữ cho giấc ngủ của đứa bé. Thôi, thế là mọi sự đã an bài. Tôi bèn lân la hỏi chuyện anh. Anh ta nói:

“Tôi là lính. Tôi mất hết tất cả. Súng ống, đơn-vị… trừ bộ quân-phục và tinh-thần chiến-đấu.”

Anh ta ngừng một chốc rồi nói tiếp:

“Đứa bé này tuy thế mà hãy còn sướng hơn vô số người . Khi tôi nhảy vào được trong bọc lưới, mẹ nó hãy còn ở ngoài và bất thần bà ta đưa nó cho tôi. Tôi đã nhận đứa bé không suy nghĩ gì hết như nhặt một con chim bị gió thổi rơi khỏi tổ. Chiếc thuyền đánh cá của chúng tôi quá khẳm, sợ bị đắm. Bà mẹ muốn cho con bà, có lẽ là đứa bé nhất, được lên tàu lớn trước, còn bà sẽ đứng đó chờ chiếc bọc lưới hạ xuống và đưa cả phần gia-đình còn lại lên sau. Nhưng sau chuyến ấy không biết có bao nhiêu chuyến nữa. Không biết bà mẹ của đứa bé có lên kịp hay không? Người ta chen lấn kinh hồn!”

Anh lính trẻ nói với giọng ngang ngang không trầm không bổng cũng không để lộ một sự xúc-động nào trên nét mặt.

“Còn ba cháu đâu?” Tôi vụt hỏi.

“Tôi đâu có biết!” Anh ta khẻ lắc đầu “Có thể ông ta là lính chiến như tôi, cũng có thể là dân chài lưới còn kẹt dưới thuyền đó hoặc đã chết ở Vùng II Chiến-thuật trong cuộc rút lui thảm-hại vừa rồi. Ông cũng biết, tổng-thống khốn kiếp của chúng ta đã ra lệnh cho chúng tôi rút khỏi Vùng mà không cho một phương-tiện. Làm thế nào để rút? Thiệt là khiếp-đảm. Chỉ-huy-trưởng đơn-vị tôi đã tự bắn vào đầu còn chúng tôi chạy, mạnh đứa nào nấy chạy!”

Anh lính trẻ ngưng một chập rồi tiếp:

“Tôi hy-vọng ba má của đứa bé đã lên tàu rồi, hoặc sẽ tìm cách lên một chiếc tàu khác, nhưng còn chiếc nào nữa đâu… Hoạ may có phép thần. Tất cả sự việc xảy ra trong nháy mắt.”

Câu chuyện của chúng tôi kéo dài thêm mãi, đề-cập tới chiến-tranh, tới nhiều gia-đình bị rơi vào hoàn-cảnh éo-le, những chuyện thương-tâm hiếm thấy, trong đó có chuyện người leo dây ban chiều bị rơi xuống biển.

Bỗng nhiên, đám đông bị xáo động. Một gương mặt đàn bà hớt hãi đẫm nước mắt nhô ra. Bà ta hỏi:

“Ca-bin số 1 ở dâu?”

“Ở đây! Đây là ca-bin số 1”. Tôi mau miệng đáp, bụng bảo dạ rằng đây là bà mẹ của đứa bé đến nhận con “Bà đi tìm con phải không? Nó kia kìa!” Tôi vừa nói vừa trỏ đứa bé trong tay anh lính trẻ mà bà chưa nhận thấy.

Người đàn bà đứng lại, nhìn vào đứa bé đang ngủ trong tay người lính. Bà ta đứng ngớ ra, mồm há hốc. Tôi giục:

“Bồng nó đi. Con bà đó. Nó đòi mẹ, khóc không ngớt!”

Tôi thấy niềm đau của thế-giới này như vơi bớt. Nhưng tôi nghe tim tôi như bị kim châm khi bà ta lắc đầu chầm chậm một cách thất-vọng và mồm bà méo xệch ra trong lúc nước mắt rơi từng giọt trên đôi má hóp. Bà ta nói, giọng thều-thào gần như không ra tiếng:

“Không phải con tôi. Con tôi là con gái. Tôi biết không phải là con tôi nhưng tôi vẫn đến” – Bà nói tiếp “Biết đâu người ta loan tin sai. Nó là con gái mà người ta nói là con trai. Nhưng khi đến đây tôi mơí biết là họ loan tin đúng!… Đây không phải là con tôi… Bây giờ tôi phải đi tìm con tôi.” Và bà ta rẽ đám người mà đi.

Tôi nói vói theo:

“Có cả mười ngàn con người trên tàu này, làm sao bà tìm khắp được? Bà phải đến phòng thông-tin…” Nhưng bà ta không chú ý đến lời tôi nói, bà cứ lầm lũi chen đi giữa đám người .

Người lính trẻ không nói nửa lời, chỉ đưa mắt nhìn theo người mẹ biến dạng trong đám đông.

Đứa bé thức giấc. Anh ta cho nó uống nước với chiếc bi-đông nhà binh của anh. Vì khát, nó uống quá nhanh nên bị sặc. Anh ta thử đặt nó xuống sàn tàu để nghỉ tay nhưng đứa bé khóc to lên. Nó không muốn rời đôi tay ấm áp đã trở thành quen thuộc với nó. Anh lính bèn ngồi xuống, dựa lưng vào cầu thang và thấy đứa bé đã ngủ lại, anh ta cũng ngủ.

Tôi cũng mệt nhừ nhưng tôi phải thức để trông chừng đám trẻ của tôi và gói hành-lý cỏn con mà vợ tôi đang mệt lả nằm co, gối đầu. Cái gia-tài góp nhóp được khi ra đi đã rơi mất dọc đường bây giờ còn lại có bấy nhiêu đó.

Tôi đang thiu thiu thì bất chợt, một tiếng kêu vang làm tôi tỉnh ngủ. “Ca-bin 1 đâu?”. Một người đàn bà rẽ đám đông nhô tới với bộ mặt trầy-trụa khủng-khiếp. Một cách máy móc, tôi trỏ vào cầu thang với linh-tính rằng lần này thì hai mẹ con được trùng phùng. Thực vậy, bà ta nhào tới anh lính và cướp lấy đứa bé đang ngủ trên tay anh. Bà úp mặt trên đứa bé và khóc mùi giây lâu, tưởng như những giọt nước mắt nóng bỏng kia có thể tưới ướt cả đứa bé và làm ngập lụt cả sàn tàu.

Tôi cũng muốn khóc theo bà, nhưng tôi quay mặt đi và cố giữ nước mắt. Bà mẹ nựng nịu đứa bé và rủ rỉ với nó những tiếng dịu-dàng nhất mà một bà mẹ có thể nói được. Giây lâu bà mới ngẩng mặt lên để nhìn con cho rõ hơn. Hoa nở trong lòng tôi. Cám ơn Trời Phật, tôi thầm-thì.

Nhưng bỗng bà kêu lên bất ngờ:

“Không, không phải con tôi!”

Bà làm cả đám đông kinh-ngạc. Một ông cụ đứng gần đó hỏi:

“Không phải con bà à?”

“Không! Không phải con tôi!” Bà ta lắc đầu chậm chạp.

“Vậy sao bà bế nó?”

“Tôi tưởng là chỉ mình tôi trên thế-gian này mất con như vậy. Nhưng bây giờ tôi mới biết là không phải một mình tôi…”

Tôi thở dài. Tôi từng nghĩ như bà nhưng giờ đây, nhờ bà mà tôi biết rằng không phải chỉ có một người mẹ mất con chiều nay ở đây.

“Bà mất con ở đâu?” Ông cụ gắt hỏi.

“Tôi không thể nhớ được!”

“Bà ở đâu tới?”

“Từ dưới thuyền đánh cá!” Rồi bà nói thêm “Tôi có tới tám đứa con. Chúng tôi chạy ào xuống thuyền. Khi thuyền ra tàu lớn, đứa con gái lớn của tôi hỏi tôi em nó đâu? Tôi nhìn lại, tay tôi không còn ẵm thằng con trai tôi nữa… Tôi muốn trở lại tìm nó, nhưng làm sao? Tàu đã ra biển rồi…” Bà ta nấc lên và nghẹn lời.

Người lính trẻ nhận lại đứa bé. Nó khóc ré lên vì nó tưởng người đàn bà là mẹ nó. Tôi buồn nản vô cùng. Tôi không biết lời nào để khuyên lơn an ủi bà. Bà ta quệt nước mắt bằng tay và nói:

“Để tôi đi một vòng chung quanh tàu xem. May ra có người nhặt nó trên bãi biển và mang nó xuống đây!” Bà vừa đi vừa nói.

Trong những người ngồi, nằm, đứng chung quanh, có gia-đình của một người bạn làm cùng sở với tôi. Anh ta có sáu đứa con nhưng không có mụn trai nào. Vợ anh là người đầu tiên biểu-lộ tình-cảm với đứa bé bằng cách cho nó một tí sữa loãng .

Ngày hôm sau trên tàu, người lính trẻ đã có thể đặt câu bé xuống sàn tàu. Cậu bé đã hết khóc. Cậu bò hoặc đùa với mấy đứa bé con anh bạn tôi. Chúng nó thích cậu bé. Một đứa cho cậu bé mẩu bánh, còn bà vợ của anh bạn tôi thì mặc cho nó cái quần cụt vì nó chỉ có cái áo thun dính da.

Thấy thế, một ý-kiến như một tia chớp nhoáng lên trong đầu tôi. Tôi gợi ý ông bạn tôi hãy nhận đứa bé làm con. Anh ta bảo phải hỏi ý vợ anh. Kết-quả không được khích-lệ lắm. Bà vợ giải-thích:”Chúng tôi đã có sáu đứa rồi. Trong tình-trạng bấp-bênh này chúng tôi còn chưa nghĩ ra cách nào để nuôi chúng, nay thêm một đứa nữa thì làm sao chúng tôi xoay sở? Thấy đứa bé kháu-khỉnh tôi cũng thương lắm, nhưng thực-thà không dám nhận.”

Bà ta vẫn tỏ lòng thương hại đứa bé. Đôi khi bà ta bế nó trong tay và ru ngủ bằng những lời nói hoặc câu hát mà đứa bé Việt-Nam nào cũng nghe: “Con ơi, con ngủ cho lâu. Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về”. Bà ta nâng-niu đứa bé và rơi lệ. Tiếng khóc của đứa bé đã làm thổn-thức trái tim của người mẹ, cái nhìn trìu-mến của người mẹ đã cảm hoá đứa bé, đã dỗ cho nó nín mỗi khi nó khóc.

Nhờ bà mà người lính trẻ có cơ-hội nghỉ ngơi. Anh ta dán lưng vào cầu thang và ngồi chết một chỗ. Một lần anh ta nói với tôi:

“Tôi chưa bao giờ thấy một bà mẹ mất con như thế và chưa bao giờ một dân-tộc mất nước như dân-tộc Việt-Nam. Thật chưa từng có trên thế-gian! Cay đắng quá!”

Ngừng một chút anh ta lại nói:

“Trên đường rút bỏ Pleiku, tôi có chứng-kiến một gia-đình bồng bế nhau chạy. Bà vợ có thai gần ngày. Ông chồng một tay bế con một tay ôm gói quần áo. Một đàn nhóc chạy theo sau. Bà vợ đã đuối sức nằm vật ra bên lề đường. Anh chồng đứng lại đợi. Nhưng người vợ thều-thào bảo: Mình bỏ tôi đi, dắt con chạy mau lên! Không còn cách nào khác, anh chồng đưa đứa bé cho chị nó bế rồi cõng vợ đi. Nhưng chỉ được một khoảng cột dây thép thì để vợ xuống. Vợ anh ta lại giục: Đi đi!. Anh chồng sụp xuống lạy vợ bốn lạy rồi dắt bầy con chạy tiếp”

Anh lính trẻ thở dài và lắc đầu nguầy nguậy.

Còn tôi thì chỉ nghe, không biết nói gì thêm.

Buổi chiều thứ hai trên tày, lính thủy Hoa-Kỳ cho chúng tôi đồ hộp và nước uống. Chúng tôi không bị đói cũng không khát. Nhưng sau khi ăn uống xong, nhiều ông bà đã ói hết cả ra vì tàu lắc dữ quá. Họ cứ thò đầu vào thùng mà ói. Cứ nằm xuống lại ngóc dậy ói. Tôi phải nằm để khỏi ói.

Một lần trong đêm, tiếng gió rít trên cột tàu làm tôi thức dậy. Tiếng gió rít triền-miên như ai xé lụa. Tôi đưa mắt nhìn về phía anh lính trẻ. Anh vẫn không nằm. Anh ta ngồi trông chừng thằng bé đang ngủ trên sàn tàu giữa hai chân anh dựng lên.

Một lần khác tôi giật mình thức giấc vì tàu lắc mạnh. Tôi trông thấy một người lính thủy Mỹ. Tôi nhận ra vì cái bóng to lớn của anh. Anh lính Mỹ bọc đứa bé trong áo ấm của anh và sưởi nó trên ngực anh. Anh đứng hai chân hơi bẹt ra cho vững để chống lại những cái lắc bất thường của con tàu.

Chúng tôi đến đảo Guam vào lúc bình-minh của ngày thứ tư. Khi đi xuống cầu thang để lên bờ, tôi hãy còn say sóng, nhưng tôi phải ẵm đứa con trai tôi, tay đắt đứa con gái còn vợ tôi thì dìu mẹ tôi. Tôi thấy anh lính trẻ bế đứa bé đang ngủ, đứng dưới cầu thang. Tôi để ý thấy chiếc áo của người lính Mỹ vẫn còn được anh dùng để bọc đứa bé. Bên cạnh đó vài ba nhóm đứng đợi người nhà trên tàu xuống. Trong đó hình như có cả hai người đàn bà mà tôi thấy hôm trước. Có lẽ hai người mẹ ấy vẫn còn nuôi một tí hy-vọng là một phép thần sẽ có thể xảy tới cho hai bà. Trời Phật nào lại để những bà mẹ mất con như thế?

Xuống thang xong, tôi bước lại gần anh lính trẻ, người bạn đồng cảnh-ngộ và là đồng-hành của tôi trên chặng đầu của cuộc đời lưu-vong. Anh ta nói với tôi rằng anh ta chờ mẹ của đứa bé. “Có thể bà ta sẽ đến. Ai biết được? Cũng như ai biết được rằng bỗng nhiên chúng ta lại vứt súng ra đi như thế này!” .

Tôi bắt tay từ-giã anh và dẫn gia-đình tôi đi về phía Orott Point. Trời đã rựng sáng, sao Mai đã mọc từ lâu. Một chân trời lạ lùng hiện lên trước mắt tôi.

Ngày hôm sau trên đảo Guam, tôi lại gặp anh lính trẻ trong nhà ăn, nhưng lần này thì không có đứa bé trong tay anh.

“Cậu bé đâu rồi?” – Tôi hỏi – “Anh có tìm gặp mẹ nó không?”

“Không! Tôi đã trao nó cho Hội Hồng-Thập-Tự Hoa-Kỳ”. Anh ta vui vẻ. “Thiệt là một cuộc phiêu-lưu ! Tôi đặt tên nó là Phú-Quốc. Có thể đảo Phú-Quốc là nơi nhau rốn của nó. Họ hỏi tôi ngày sinh của nó. Tôi làm sao biết được? Tôi suy nghĩ thoáng rồi đáp. Cứ xem nó sinh vào ngày 30 tháng 4 năm 75, ngày mà đất nước của nó rơi vào tay cộng-sản!”

Tôi ở lại đảo Guam bảy ngày chờ đợi đi Hoa-Kỳ.

Thỉnh thoảng trong nhà ăn, hay ở ngoài đường tôi gặp một bà đi lang-thang, quần áo xốc-xếch, mặt mũi hốc-hác và mắt sưng húp. Cứ mỗi lần gặp ai bà ta cũng hỏi: “Ông, bà có gặp con tôi không? Nó gần thôi nôi, tóc nó đen và lúc nào cũng cười toe-toét…” Mỗi lần tôi trông thấy bà ta ở xa xa, tôi lẩn đi. Tôi không muốn bị bà ta hỏi mà tôi không thể trả lời.

o O o

Cảnh tưởng hãi-hùng trên đây đã xảy ra đúng tám năm vào tháng Tư. Ngày tháng qua thật nhanh, nhưng hình ảnh của buổi chiều bên đảo Phú-Quốc vẫn còn trong trí tôi rõ như in. Cậu bé Phú-Quốc bây giờ đã tám tuổi. Cậu đang đi học trường tiểu-học nào trên đất Hoa-Kỳ? Ai là cha mẹ nuôi của cậu? Ai thì cũng tốt cho cậu ta cả. Tôi nghĩ rằng cha mẹ nuôi của cậu đã nói với cậu ta ít nhất một lần rằng cậu ta là người Việt-Nam. Ngày cậu sinh ra cũng chính là ngày cậu mất đất nước của cậu.

Và tôi cầu mong Trời Phật không để bất cứ đứa bé nào lâm vào cảnh của bé Phú-Quốc: mất anh mất chị, mất mẹ và mất nước chỉ trong một buổi chiều.

xuanvu_sign

—->VÚ EM, LÃO ĐẦY TỚ VÀ CỤ NGÁO

This entry was posted in 4.Truyện ngắn, Xuân Vũ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s