TỰ VỊ THẾ KỶ (Xuân Vũ): Vú Em, Lão Đầy Tớ và Cụ Ngáo

VÚ EM, LÃO ĐẦY TỚ VÀ CỤ NGÁO

(Tặng những người trong truyện.)

Người lính khố xanh dừng lại ở ngưỡng cửa giơ chiếc lồng đèn lên và hỏi:

– Có ai chạy vô nhà này không?

Tiếng một người đàn bà đáp vọng ra:

– Dạ bẩm ngài không có ai vô đây hết mô!

– Răng có dấu chân ướt ở cửa buồng kia?

– Dạ đó là chồng em đi làm về đang nằm với em đây!

Người lính gằn giọng:

– Có thật chồng o không?

– Dạ thật mà!

– Để tui vô xem.

– Dạ, ngài cứ vô xem cho tường, em không láo mô!

Người lính hạ chiếc đèn xuống, bước vào nhà rồi đến bên cửa buồng khoác tấm màn rọi đèn, thấy một người đàn ông nằm đắp chăn quay mặt vô vách.

Người lính hỏi:

– Có phải vợ chồng thiệt không?

– Dạ, ông nói răng lạ rứa. Không phải chồng mà nằm ri được răng?

– O biết gì mà rống cái họng lên. Tụi cộng sản là giảo quyệt lắm. Nó giả làm chồng các o mà các o không dám nói gì. Tôi đoan chắc là tên kia không phải chồng o. Nếu thiệt vợ chồng thì phải làm cái việc vợ chồng cho tôi coi thì tôi mới chắc.

– Ông biểu rứa mà không thấy lương tâm cắn rứt hay răng? Ai làm cho được?

– Tôi để sổng thằng Cộng con này lương tâm tôi mới bị cắn rứt… Nhưng thôi được, nếu phải là chồng o thì sáng mai tôi đến đây tôi phải thấy anh ta ở tại nhà.

– Dạ, mai ông đến, chồng tôi vẫn còn ở nhà trình diện cho ông .

Người lính quay ra nhưng vẫn chưa chịu đi, nói:

– Có một dúm lẩn lút truyền bá cộng sản trong kinh đô. Nhà nước Bảo-hộ đã bắt được ba tên đầu sỏ, một tên đã tử hình, hai tên đưa Côn Đảo, còn sót một tên. Tên này nhỏ thó, mặt như học trò, ừ mà nó là học trò thiệt. Nó học chưa hết trung học, không lo học hành mà bỏ trường đi phá làng phá xóm. Nhà nước Bảo-hộ tập nã nó gắt lắm. Ai chứa chấp sẽ bị liên can. O nói lại cho trong xóm Vỹ Dạ này biết nghe.

– Dạ.

Người lính nghĩ sao không biết vừa quay đi lại trở lại bước thẳng vào buồng giơ chiếc đèn soi vào đầu giường và bảo:

– Tên kia, quay mặt ra coi.

Gã đàn ông quay mặt ra và đưa tay lên che ngang, có lẽ vì chói ánh đèn.

– Bỏ tay ra!

Người lính nói một mình:

– Tau nghi thằng này quá! – nói vậy rồi soi đèn xuống chân giường bảo: – Đưa chân tau coi!

Gã đàn ông thò chân ra khỏi chăn. Người lính xem xét rồi nói:

– Chân mày ở ngoài mới đi vào nên còn ướt.

Người đàn bà nói hớt:

– Dạ chồng tôi mới đi về…

– Tau chắc thằng này bị tập nã đây. O nhớ đấy, sáng mai tôi trở lại, thì o phải đưa thằng chồ..ồn..g o ra cho tôi đọ hình.

Nói xong người lính trở lui rồi đi ra đường.

Gã đàn ông ước chừng người lính đã đi xa (người lính không có mang giày nên đi không khua động) thì ngồi bật dậy nhảy xuống đất sụp lạy người đàn bà đền ơn cứu mạng.

Anh ta run run nói:

– Nếu không có o che chở tôi đã bị bắt rồi. Tôi vừa sổng ra khỏi xa-lim số 6 tại Thừa Thiên này.

– Lần trước ông đến nói chuyện cho tôi nghe, tôi chịu lắm. Tôi có đi thuật lại với bố chồng của tôi là ông lão đầy tớ nhà cụ Hàn Vũ ở cách chân Thành Nội chừng nửa dặm, rồi nhân dịp ông bố đẻ tôi đến thăm vợ chồng tôi, tôi cũng có kể cho ổng nghe luôn.

– Rứa hả? Ông bố đẻ ở đâu? Nói tôi biết để hôm nào bị lính đuổi tôi chui.

– Bố đẻ của tôi ở góc Tây Thành Nội chỗ có chòm nhãn còi.

– Cái nhà ngói xưa lụp xụp đó phải không?

– Dạ không, cái chòi tranh cách chân thành mươi thước ở phía mặt trời lặn cơ.

– Ông ấy là người nghèo, là bọn với mình đó. Ông ấy làm nghề gì?

– Dạ, ổng làm hai cái nghề lạ lùng lắm, nói ra nghe kỳ kỳ.

– Nghề gì cũng tốt cả trừ nghề quan lại, nghề vua chúa.

– Dạ, trước đây ông làm cái nghề gì mà chuyên chém đầu người ta.

– Ăn cướp à?

– Dạ không! Chém đầu rồi bỏ đó chớ không có cướp của mô!

– Làm ở đâu?

– Ở trong Thành Nội đôi khi, nhưng thường là sau bãi đất trống ở chân thành phía Bắc.

– Á à, vậy là ông nhà làm nghề đao phủ.

– Nhưng mà ổng thôi, thôi lâu rồi. Ổng già yếu nên quan Hình Bộ Thượng Thư cho nghỉ. Bây giờ ổng vác tròng đi thịt chó, chó vàng, chó mực…

– Thế là vô sản của bọn mình rồi.. Để tôi đến nói chuyện. Bố chồng, bố đẻ của chị và hai vợ chồng chị là bốn người, họp thành một tiểu tổ sinh hoạt.

– Dạ, tiểu tổ là cái chi ?

Để hôm nào sẽ nói tiếp, bây giờ tôi phải đi để lính trở lại. – Người thư sinh cắt ngang câu chuyện và vội vã chạy vọt ra băng mình qua đêm tối.

Trời âm u, lại bắt đầu đổ mưa. Người đàn bà lặng lẽ ra đứng ở bệ cửa ngó theo. Bất giác hai hàng nước mắt tuôn tràn.

Nàng thương chàng thư sinh. Mới bằng ấy tuổi đầu mà đã lăn lóc gió sương. Tướng mạo đó, học thức đó, kiếm một địa vị trong xã hội này đâu khó khăn chi. Vậy mà len lỏi đi nói chuyện cứu vớt người nghèo.

Người đàn bà trở vào buồng nằm, nước mắt ràn rụa. Con mình thì không nuôi nổi. Cho nên:

Nàng gởi con về nương xóm cũ
Nghẹn ngào trở lại đầy xe nôi
Rồi từ hôm ấy ôm con chủ
Trong cánh tay êm luống ngậm ngùi.

Nàng nhớ con nằm trong ổ lạnh
Không chăn, không nệm ấm, không màn
Biết đâu trong những giờ hiu quạnh đó
Nó gọi tên nàng tiếng đã khan
! (*)

Đêm nay nàng được về thăm chồng thăm con rồi sáng mai trở vô nhà cụ Hàn. Nàng cho nó bú xong, chồng nàng bế đi lối xóm chơi. Nàng bắt chồng nàng phải giữ con, nếu không chàng sẽ đi ra sông Hương xuống đò đi chơi suốt đêm. Đi làm đã mệt lại không chịu ở nhà nghỉ ngơi.

Nàng đang nhớ con thì chồng ẵm con về. Hai bố con ướt dầm. Nàng thay quần áo cho con rồi thầm thì với chồng:

– Cái người thư sinh hôm nọ lại đến, mình ạ!

– Thư sinh nào?

– Cái người mảnh mai nước da trắng đến nói chuyện người nghèo chi đó với mình.

– À, rồi sao?

– Cậu ấy bị lính đuổi gắt, vô đây em giấu. Em thấy thương quá.

– Có nói chừng nào trở lại không?

– Không, nhưng cậu ấy bảo bốn người họp thành một tiểu…ơ ơ… tiểu ờ ờ…tiểu tổ.

Tiểu tổ là cái gì? Là những ai?

– Em quên rồi… ờ ờ để em nhớ ra coi…Chúng mình và hai bố. Cậu ấy bảo sẽ đến nói chuyện với bố.

– Đúng rồi! – Người đàn ông ra chiều tư lự.

Hai vợ chồng lên giường. Đứa bé đã ngủ từ lâu. Họ không nói chuyện giàu nghèo, con cái, nhà cửa, tiền bạc mà họ thì thào với nhau những chuyện:

Tất cả sẽ là vui và ánh sáng
Ta ôm nhau thân ái và vang ca.(*)

Ừ, ngày mai bọn vua quan ô lại và đám Tây tà sẽ không còn nữa. Nước này của mình, mình phải được làm chủ. Mình phải được sung sướng.

Mấy tiếng cộng sản, vô sản, tiểu tổ bắt đầu làm óc họ nghĩ ngợi và mơ tưởng.

– Anh đừng xuống đò hát nữa nghe.

– Anh xuống đò nhưng anh đâu có đùa cợt với các ả, mà anh ngâm thơ cho các ả nghe.

– Thơ gì?

– Anh được cậu thư sinh chép cho bài thơ dài hay lắm. Để anh đọc em nghe. Khúc đầu anh quên khuấy, nhưng khúc giữa và khúc chót rất hay. Em nghe này:

Trăng lên trăng đứng trăng tàn
Đời em ôm chiếc thuyền nan xuôi dòng
Thuyền em rách nát
Mà em chưa chồng
Em đi với chiếc thuyền không
Khi mô vô bến rời dòng dâm ô
Trời ơi! em biết khi mô
Thân em hết nhục dày vò năm canh
Tình ơi gian dối là tình
Thuyền em rách nát còn lành được không? (*)

– Thơ chi lại có tiếng “dâm ô” ở trỏng?

– Đây là thơ ngụ ý. Mới đầu anh nghe cậu ấy đọc anh cũng nói như em nhưng sau đó anh được cậu ấy giải thích như sau: Cô gái giang hồ trên sông Hương than thở rằng cuộc đời nhục nhã của cô không biết bao giờ mới chấm dứt được. Thì cậu ấy trả lời rằng ngày mai sẽ chấm dứt thôi.

– Làm sao chấm dứt được?

– Nhờ mình chống bọn quan lại và bọn Tây tà.

– Mình làm sao chống nổi?

– Bởi vậy mình mới tụ họp lại cho đông. Ở xóm Vỹ Dạ, một tiểu tổ, ở đầu cầu Tràng Tiền một tiểu tổ, ở chợ Đông Ba một tiểu tổ rồi ở trên sông Hương các cô ả cũng họp thành tiểu tổ. Các tiểu tổ họp lại sẽ chống với tụi pa-nhe, ban-bù, mã tà, mã tà tét…(**) Đó gọi là cách mạng vô sản.

– À à.. vậy mình phải nghe lời cậu ấy mới được.

– Cậu ấy còn trẻ hơn mình nhưng cậu ấy được người khác truyền bá nên hiểu nhiều.

– Người nào?

– Mấy người phải chém hôm nọ.

– Eo ơi, khiếp lắm. Em chịu thôi. Em không đi tiểu tổ đâu. Mà anh cũng đừng đi nữa.

– Bậy nào. Muốn ăn phải lăn vào bếp, em không đi, chừng đó có giành phần không?

Người đàn bà nằm im lìm.

Sáng dậy, nàng đến nhà cụ Hàn sớm. Thằng bé con vắng vú cả đêm, vồ lấy nàng. Đầu óc nàng cứ lâng lâng những câu nói của chồng đêm qua.

Ôm đứa bé trong tay nàng chạnh nghĩ đến con mình. Con người ta sao trắng xinh bụ bẫm, con mình thì gầy tọp lòi xương.

Có những đêm nàng..

hồi hộp bước ra vịn cửa lầu
Nhìn xuống ven trời dày bóng nặng
Tìm nghe trong gió tiếng con đâu.
Gió vẫn vô tình lơ đãng bay
Những tàu cau yếu sẻ lung lay
Xạc xào động cánh nàng mơ tưởng
Nghe tiếng hồn con vẳng tới đây.

Nàng nghiêng mình rũ rượi
Nàng gục đầu thổn thức trong bàn tay
Nàng tự hỏi: Nguồn gốc sầu kia bởi
Số phận hay do chế độ này? (*)

Nàng đã được cậu thư sinh trắng trẻo trả lời. Nàng phải xa con là do chế độ tàn ác bất công này chứ chẳng phải do số phận gì cả.

Chiều. Nàng ăn cơm xong bế cháu cụ Hàn đi ra vườn. Nàng gặp bố chồng đang bổ củi. Lão già vào đây làm đầy tớ đã trên mười năm. Thấy con dâu đến,

Lão truơng hai bàn tay
Nhìn con và trợn mắt
Tau không hay đùa bỡn
Làm việc quá trâu cày (*)

Lão trỏ quanh vườn, phủi bụi trên đầu và tiếp:

Đến già còn bửa củi
Gánh nước , cuốc vườn cau
Đất bụi lấm đầy đầu
Mà chủ còn hất hủi!
Như cái kiếp ăn mày
Ngồi ăn trong góc xó
Buồn thiu như con chó
Áo rách chẳng ai may
Quần rách giờ tuốt cả
Lạnh thì nằm queo
Trơ trụi như con mèo
Không có vài tấm rạ! (*)

Đứa con gái thấy cha bần hàn lem luốc thì đau lòng nhưng cố nén. Nàng …

… riết chặt bàn tay
của bố: – Bao nhiêu nỗi
u buồn và tức tối
sẽ tan biết ngày mai…(*)
đó bố à!

Lão đày tớ trợn mắt hỏi:

– Ở đâu mà con học những chuyện kỳ cục đó?

Người con gái nói:

– Con với chồng con nghe một cậu thư sinh dạy cho nhiều chuyện lắm bố ơi. Cậu ấy hứa hôm nào sẽ nhờ con đưa cậu tới thưa chuyện với bố.

– “Thưa” thốt gì. Tao là thằng đầy tớ, là kẻ dưới chân người ta rồi, ai còn “thưa” tao. Mà cậu ta nói những gì?

– Cậu ta nói:

Có một xứ mênh mông
Nửa Tây và nửa Đông
Mạnh giàu riêng một cõi.
Nơi không vua không quan
Không hạng người ô uế
Sống đau xót lầm than
Nơi tiêu diệt lòng tham
Không riêng ai của cải
Hằng triệu người thân ái
Cùng chung sức nhau làm
Để cùng nhau vui sướng
Ai già nua tật nguyền
Thì cứ việc ngồi yên
Đã sẵn tiền nuôi dưỡng.(*)

Lão đày tờ buông cán búa trong tay ngơ ngác nhìn đứa con gái tưởng đó là tiên nữ có phép lạ.

Lão câm lặng hồi lâu mới thốt nên lời:

– Có thiệt như vậy hả? Có thiệt hả con?

– Có chớ bố! Cậu ta biết rõ mà.

Lão già rưng rưng:

… Ồ hay nhỉ
Ai già nua được nghỉ
Cũng no ấm trọn đời
(*) – thiệt sướng!

Người con gái tiếp:

– Ai cũng có nhà cửa
Cũng sung sướng bằng nhau
Vả không ai đè đầu
Làm chi có đầy tớ?(*)

Lão đầy tớ gặn hỏi:

Xứ ấy cũng không xa? (*)

Người con gái đáp:

Nước Nga
Vâng, nước ấy! (*)

Lão đầy tớ ngồi im

... há mồm khoan khoái
Lão ngồi mơ nước Nga…(*)

Đến chập tối lão đầy tớ ra cái chòi lá te tua ngoài góc vườn để ngủ. Lão chui tọt vào tổ rơm. Ấm quá, nhưng lão không sao ngủ được. Lão cứ nằm mơ nước Nga. Cái nước nửa Đông nửa Tây, ở đó không có người tham lam, không có ai nô lệ, ai ai cũng chung sức làm. Và tuổi già khỏi đi làm cũng sống sung sướng trọn đời.

Lão hiểu ra sự khổ cực này là do cái nhà nóc cong cong kia, trong đó toàn hạng người mũ cao áo rộng của một ông năm bảy chục bà. Ông Hàn Vũ chủ nhà này là một trong cái duộc dài pa-nhe, ban-bù, mã tà, mã tà tét, ăn trên ngồi trước đó.

Bỗng có tiếng lộc cộc ở cổng sau vườn. Cổng không khoá nên có người mở đi vào. Ăn trộm ăn cắp à?

Nhưng nhìn kỹ lại thì không phải. Đó là Cụ Ngáo. Cái tổ rơm này thường làm nơi tâm sự cho hai ông sui, hai người bạn có lẽ nghèo nhất đế đô.

– Anh đi đâu khuya vậy? – Lão đầy tớ cài then cửa và hỏi.

– Cũng có chút chuyện!

Lão đầy tớ mở cửa chòi đón sui gia vào và đánh đá lửa định mồi đèn. Nhưng cụ Ngáo thì thào vào mặt bảo:

– Có chuyện cơ mật. Đừng đốt đèn!

– Ở trong Cơ Mật Viện của Thánh Thượng hả? Anh lại được phục chỉ chém ai chắc?

– Không! Để tôi nói.

Hai ông già ngồi xuống ổ rơm. Cụ Ngáo nói thì thào:

– Hiện nay có một cậu thư sinh bị mã tà, phú lích, lính vệ, lính cơ chà và mật thám lùng bắt rất gắt. Vừa rồi cậu ta chạy vô chòi tôi nhờ tôi giấu mới thoát. Nếu không có tôi cậu ta bị bắt rồi. Cậu ta lạy tạ tôi. Tôi bảo đi đi, không cần lạy. Tôi làm đúng theo câu “Ngộ lâm nguy bất cứu mạc anh hùng!” Cậu ta đi rồi hôm sau trở lại nói cho tôi nghe lắm chuyện hay, nên dẫu khuya tôi vẫn tới thuật cho anh nghe.

– Chuyện gì vậy anh sui?

Cụ Ngáo rút chai rượu con trong túi áo bành tô vàng mà người ta chế là cụ mặc hồi thời đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vừa băng hà đến nay chưa giặt một lần nào. Cái áo có cô hồn, đi đến đâu chó sủa rùm trời tới đó.

– Tôi đã cài then cửa, trong vườn không có ai, anh cứ nói đi.

Cụ Ngáo rót rượu thầm mời sui gia rồi nói:

– Cậu thư sinh kia bảo mình sắp sướng đến nơi rồi. Vậy mà mình không hay.

Rồi cụ Ngáo kể huyên thiên. Chờ cho sui gia kể xong, lão đầy tớ nói:

– Tôi cũng đã nghe những chuyện đó rồi.

– Cậu ta cũng đến đây?

– Không, cậu ta đến nhà con dâu tôi.

– Cậu ta đến nhà con gái tôi?

– Và nói những chuyện đó với nó, nó kể lại cho tôi nghe.

– Ước gì nước mình là nước Nga để cho anh với tôi không phải vất vả nữa.

– Ừ nhỉ, tuổi già được nghỉ ngơi mà vẫn sống sung sướng mãn đời. Chỉ có ở bên Nga thôi!

Cụ Ngáo hớp một miếng ruợu rồi nói:

– Tôi có làm mấy bài về các mụ đầm, me dốt me Tây và mấy cô giang hồ nghe tức cười lắm. Để tôi đọc anh nghe vè Cô Gái Đi Đò:

Một đêm chẳng biết mấy chồng
Chà-và Ma-ní cũng đồng “lội” qua
Ngày đêm hớn hở vào ra
Ai ra thấy muốn cũng qua ngủ thuyền
Tình dài nghĩa vắn một đêm..

Tôi đã đọc cho cậu ta nghe nhưng nghe xong cậu thư sinh bảo là chỉ nên chế diễu me Tây còn các cô đưa đò thì không nên vì họ là đồng chí của mình. Cậu ấy bảo rằng:

Ngày mai bao lớp đời nhơ
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay (*)

Cụ Ngáo lại uống rượu và run run cái đầu nói liên tục:

– Cậu ta có vẻ nho nhã và hay chữ lắm. Cậu nói chuyện với tôi xong, cậu bèn hỏi tôi làm nghề gì để sống. Tôi nói rằng ngày xưa thì tôi chẳng làm nghề gì. Chỉ chuyên môn đưa linh hồn người chầu Diêm Chúa. Bây giờ già rồi không cử nổi ngọn đoản đao nữa nên vác vòng đi giật chó bán cho các quán thịt chó. Nhưng khốn nỗi, tôi đi đến đâu chó sủa ran đến đó, có lắm lúc cả tuần không bắt được con nào thành thử bữa đói bữa no – Cụ Ngáo tiếp – Cậu ta nghe vậy cảm động lắm bèn ngẫu hứng đọc liền một bài thất ngôn bát cú tựa là Hỏi Cụ Ngáo để tặng tôi, như sau:

Nghe nói ngày xưa lão chặt đầu
Đầu xanh, đầu bạc tội gì đầu?
Sao không chặt hết đầu bao đứa
Mũ mão rồng bay, áo phượng chầu.
Nay lão vác tròng đi thịt chó
Chó vàng chó mực tội gì đâu?
Sao không thịt hết bao con đó
Liếm gót giầy Tây béo mượt đầu? (*)

– Hay nhỉ! – Lão đầy tớ tán thưởng – Cái cậu thư sinh này có lẽ cốt tiên sao biết chuyện bên Đông bên Tây và cả chuyện quá khứ vị lai nữa.

o O o

Người ta ùn ùn xuống tàu há miệng ở Hải Phòng để xuôi Nam chứ không chịu ở lại đón Bác và Đảng về thủ đô. Trong khi đó hai vợ chồng chị vú em và hai ông sui gia lại bỏ xứ Thần Kinh chạy ra Bắc bằng chuyến tàu hoả cuối cùng trong khi cầu Hiền Lương trở thành cầu Bất Lương.

Bốn người lớn và một đứa bé chạy ra đến Hà Nội thì đi chơi ngay Bờ Hồ. Họ thấy cờ đỏ sao vàng nhiều quá, lợp cả phố phường. Nước mình đã độc lập. Nước mình sẽ là nước Nga trong ngày gần đây. Mộng tưởng đã trở thành sự thực hiển nhiên rồi.

Cái tiểu tổ con con ngày xưa bây giờ phình ra khắp đất nước. Hồi 45, quả nhiên như lời tiên đoán của cậu thư sinh, Vua Bảo Đại thoái vị, bọn áo rồng mão phượng bay hết. Tây cũng văng luôn. Lão đầy tớ ra khỏi nhà cụ Hàn Vũ. Người con trai của cụ làm quan to trong triều đình bị xử chém. Và bởi chính tay cụ Ngáo. Cậu thư sinh ngày xưa được con gái cụ và chính cụ cứu, nay là chủ tịch ủy ban khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên. Ông chủ tịch trẻ quá nhưng nhân nghĩa song toàn, ông ta muốn báo đáp hai lần cứu tử, nên cho cụ Ngáo trở lại nghề cũ một lần cuối cùng: Đưa kẻ thù của nhân dân xuống hầu Diêm Chúa.

Bây giờ cụ Ngáo ra Hà Nội để sống tới chết ở cái

… nơi không vua không quan
Nơi tiêu diệt lòng tham
… Ai già nua được nghỉ
Cũng sung sướng trọn đời. (*)

Nước mình đang trở thành Thiên Đàng. Khỏi có phải ngồi mơ ước nước Nga nữa!

Khi cướp chánh quyền xong, ông chủ tịch trẻ bận quá nên không gặp được những ân nhân cũ để lạy thêm vài lạy nữa đền ơn cứu mạng.

“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
Hôm nay mười tuổi mang hoa tặng Người.”

Ngày Bác và Đảng về thủ đô, vui thiệt vui, vui hơn ngày mới cướp được chính quyền nhiều. Đi xem mãn con mắt mà còn muốn xem nữa.

Khi cuộc hoan hô rã hàng tản mác, họ mới thấy đói bụng. Giật mình ra, nhớ lại không có xu nào trong túi, bèn đến vòi nước phông-tên uống cầm hơi và lần đi tìm người thư sinh cũ: Hai ông già thì sẽ vô nơi Viện Dưỡng Lão vì hai ông đã bảy mươi ngoài.

Ai già nua được nghỉ
Cũng no ấm trọn đời. (*)

Còn hai vợ chồng chị vú cũng đã năm mươi thì xin việc làm vài năm rồi cũng đi dưỡng lão. Riêng đứa cháu thì vô trường học để sau này làm chủ đất nước. Năm người quá phấn khởi, quên đói, lê chân đi đến vườn Ba Đình. Ôi chao, cách mạng vô sản thành công rồi, tụi pa-nhe, ban-bù, mã tà… đều biến mất. Tôi nghiệp cho cái hoàng cung ở Huế giờ này chắc bỏ hoang. Nhưng kìa, ở Ba Đình nơi nhau rốn của cách mạng sao lại có cái nhà gì to hơn cả hoàng cung, nóc ngói đỏ au, xe cộ ra vào nườm nượp.

Đoàn người tìm cố nhân, vừa quay mặt ngó vào thì bị một anh phú-lích tay đeo găng trắng, đầu đội kê-pi trắng nạt tướp lên đầu:

– Các người kia đi đâu lôi thôi lếch thếch thế này hử?

– Dạ… đi tìm thiên đàng, ủa không, đi tìm người quen cũ. – Lão đầy tớ đáp.

– Đây là khu vực của những ông bà vô sản thượng lưu, các người là vô sản hạ cấp, quen sao được mà quen?

– Bẩm có ạ!

– Ai?

– Dạ cái cậu thư sinh!

– Ở đây toàn râu rìa mặt sắt cả không có ai là thư sinh.

– Dạ hồi tiền khởi nghĩa là thư sinh ạ!

– Anh ta ở đâu chứ không có ở Hà Nội!

– Dạ anh ấy ở Huế, sau lên chiến khu Việt Bắc, bây giờ đã về Hà Nội mần chung với cụ Hồ ấy ạ!

– Tên anh ta là gì?

– Dạ không rõ tên gì nhưng anh ấy có làm thơ tặng cho tui .- Cụ Ngáo móc trong túi áo bành-tô lấy bài thơ năm trước đưa ra.

Chồng chị vú em cũng mằn trong lưng quần lấy bài thơ Hương Giang trình thêm. Họ giữ kỹ những mẩu giấy này và trước khi ra Bắc không quên mang theo để làm tín vật khi đi tìm cậu thư sinh.

Anh lính gác mở giấy ra đọc nhẩm rồi nói:

– Vậy thì tôi biết rồi. Ông ấy bây giờ là thượng thư gì đó.

– Ủa ở đây cũng có triều đình nữa à?

– Còn ác hơn cả triều đình. Mới vừa ở rừng về đã bắt bỏ tù cả ngàn người rồi đó.

– Hả!

– Để rồi ông xem. Ruột Thượng Thư, Vua Chúa nhưng vỏ là Dân Chủ Nhân Dân biết chưa? Nhà ông ấy kia kìa . Đến ngay cái villa có tên là Trúc Hữu hay Cúc Rũ con khỉ gì đó, hỏi anh lính gác như tôi đây này thì rõ. Nhớ đừng có ỷ quen, a thần phù đi vào, lính nó lụi cho đổ ruột nghe chưa?

– Vâng.

Năm người lại dắt díu nhau đi. Đến cái cổng sắt to sừng sững thì dừng lại. Cụ Ngáo bạo dạn nhất dí mũi qua song nhìn vào trong.

Bỗng một tiếng quát vang lên:

– Phản động!

Cả năm người giật mình đánh thót. Cái chòi canh to sù sụ thế mà không thấy. Một anh lính gác đứng ló đầu ra quát tiếp:

– Đi ra!

– Tôi tìm người quen! – Cụ Ngáo ương ngạnh vênh mặt.

– Ai?

Không nói không rằng, chồng chị vú em và cụ Ngáo lại đưa tín vật ra. Người lính gác cầm lấy, nhìn qua, chạy vào bên trong một chập rồi trở lại.

– Đồng chí … thừa tướng cho mời tất cả! – Vừa nói người lính gác mở chiếc cổng phụ bên trái đủn cả vào và nói – Đi thẳng vào cái nhà “tôl” kia kìa ngồi đợi.

Chao ôi! Cách mạng thành công rồi. Nhà lầu to quá. Nhà ông Hàn Vũ ăn thua chi đâu. Và vườn hoa nữa . Hoa khoe sắc thắm như chào tri âm. Quả là nắng hạn gặp mưa rào. Nhưng kìa…

Anh lính gác bảo và nhà “ngồi chờ” nhưng nhà đâu có chỗ nào ngồi được mà ngồi chờ. Cả phái đoàn đành đứng chiêm ngưỡng thêm ngôi biệt thự. Chung quanh toàn rào sắt với một lần “tôl” bọc quanh kín mít, ai đứng ngoài kêu cứu bên trong cũng khó nghe.

Bỗng từ trên bậc thềm cao của cửa hông xuất hiện một người đàn bà. Cụ Ngáo không chú ý nhưng chồng chị vú thấy dáng người đàn bà hao hao quen còn chị vú chỉ ngờ ngợ.

Người đàn bà khoan thai bước đúng chín bậc tam cấp rồi chạy nhào tới ôm chầm chị vú.

– Chị quên em sao? Em đưa đò trên Hương Giang hồi trước. Anh xuống đò huấn luyện em hoài. Có lần em lên nhà gặp chị để sinh hoạt tiểu tổ đó.

– À, nhớ rồi. Em ra đây hồi nào?

– Em đi kháng chiến lên rừng Việt Bắc luôn với anh thư sinh, ủa, ông thi sĩ.

– Rồi ở luôn Việt Bắc à?

– Vâng, em ở trên đó phục vụ các đồng chí trung ương và Bác đúng mười năm. Bây giờ kém sức khoẻ nên không phục vụ được , chỉ công tác nội bộ trong phủ thừa tướng này thôi.

– Đi theo cách mạng tiến bộ dữ. Chị mừng cho em!- Chị vú nói – Hồi đó chị suýt đi rồi.

Hai người đàn bà nhìn nhau, tủi tủi mừng mừng. Mới ngày nào còn trẻ trung, bây giờ tóc đã pha sương. Không đợi chị vú em hỏi, cô lái đò nói ngay:

– Các cụ, anh chị và cháu nghỉ tạm ở đây chút nhé. Để tôi lên xin ý kiến đồng chí thừa tướng tức là cậu thư sinh ngày trước. Bây giờ ông ấy làm to lắm. Hôm lễ mừng Bác Đảng về thủ đô có ông ấy đứng trên đài, người thứ mười một bên tay trái Bác.

– Vậy hả em? Sao hồi nãy chị nghe phú-lích gọi là Thượng-thư. Chắc ổng quên tụi khố rách này rồi.

– Ổng có tình nghĩa lắm. Ổng cứ nhắc cái lần ổng chạy vô buồng nhà chị và khen chị có tinh thần cách mạng cao hoài hè. Gọi ông bằng thừa tướng mới đúng chức vụ , nhớ nghe!

Cô lái đò lên nhà trên một chốc rồi trở xuống:

– Ổng nói các cụ và anh chị với cháu đến thiệt đúng lúc. Nhu cầu cách mạng đang lên cao. Ổng cho đi tìm cán bộ để công tác trong phủ này mà chưa có người tin cậy.

Cụ Ngáo nói ngang:

– Công tác gì thì công chứ bắt tôi trở lại nghề đẵn cổ người ta như triều Nguyễn thì tôi không làm nổi nữa. Lần chém cuối cùng làm cho tôi phát ốm đấy.

Cô lái đò cười:

– Bây giờ mình có nhiều súng rồi cụ đâu phải nhọc công như trước nữa!

Vừa đến đó thì một chiếc xe, thân dài nhằng, màu da người trườn qua cổng sắt lăn bánh vô. Mọi người đứng vẹt cả ra nhường chỗ cho xe chạy. Nó đến đổ ngay cửa nhà bếp. Cô lái đò đang đứng nói chuyện với cụ Ngáo bỗng kêu lên “Bà về!” rồi chạy vòng qua đít xe qua phía bên kia mở cửa xe và đưa tay đỡ.

Một người đàn bà mập ú, cổ thụt xuống hai mảng vai nung núc thịt, chui ra một cách khó nhọc, lạch bạch lê cặp mông vĩ đại lên hết chín bậc thềm rồi lẩn vào cánh cửa do cô lái đò vọt hai bậc một lên trước mở rộng.

Khép cửa lại xong, cô trở xuống thì anh tài xế cũng vừa mở thùng xe ra. Cô lái đò khuân các thứ vô bếp. Chị vú vốn yêu lao động nên đến tiếp một tay. Khối lượng thịt làm chị kinh hồn. Chưa bao giờ chị trông thấy nhiều thịt đến thế, ngoại trừ ở các thớt thịt chợ Đông Ba. Còn những hộp, những chai, những gói mang nhãn hiệu loè loẹt không biết của nước nào chứ không phải của ta sản xuất vì chữ nghĩa in trên đó không đọc được.

Ông lão đầy tớ và cụ Ngáo không ai bảo ai nhưng cùng hiểu ngầm rằng hôm nay có thể là ông thừa tướng đãi bọn mình một bữa cho bõ những bữa cơm muối lưng lửng dạ và vừa nuốt vừa chạy ở chốn Thần Kinh năm nào. Lão đầy tớ vốn cũng quen hoạt động nên lên tiếng hỏi cô lái đò:

– Cháu có cần làm giúp gì thì đây đã sẵn nhân công.

– Vâng, để cháu lên bẩm đồng chí thừa tướng xem ngài có sai bảo gì không?

Cụ Ngáo rủ rỉ với lão đầy tớ:

– Tôi không thiết đồ Tây đồ Tàu gì hết. Bây giờ cho tôi một cái sườn chó, tôi ướp sả, sẵn bếp kia tôi nướng rồi uống cúc rượu là nhất trần đời.

– Gì kia chứ cái đó thì dư có mà!

Cô lái đó trở xuống. Với nét mặt quan trọng, cô bảo:

– Đồng chí thừa tướng gởi lời thăm hỏi các cụ, anh chị và cháu bé là gia đình có công với cách mạng. Đồng chí nói sẽ dành những công tác đặc biệt trong nội phủ ưu tiên cho các cụ và anh chị. Hiện giờ đồng chí bận quá không xuống được để bắt tay mỗi người một cái.

Mọi người hớn hở chờ đợi công tác cách mạng mà cấp trên sắp giao phó. Cô lái đò chưa kịp nói tiếp thì lão đầy tớ đã xuýt xoa:

– Tự nãy giờ mảng lo mừng rỡ mà quên hỏi chuyện gia đình của cháu. Vậy tôi vô phép hỏi cháu có chồng con gì chưa?

Cô lái đò đang vui vẻ hoạt bát bỗng ngó xuống. Có lẽ cô nhớ lại cuộc sống ngày xưa trên Sông Hương của cô mà chạnh lòng

Thuyền em rách nát
Mà em chửa chồng

Nhưng cô cố lướt qua phút yếu đuối. Cô nói:

– Làm cách mạng phải hi sinh vô điều kiện bác ạ. Cách mạng trên hết. Như Bác Hồ đấy, có vợ con gì đâu. Mình phải noi gương Bác.

– À, cháu tinh thần cách mạng cao quá.

Cô lái đò nói tiếp:

– Đồng chí thừa tướng bảo sẽ ưu tiên cho chị vú trước vì chị đã có lòng hi sinh cao cả nên mới cứu được đồng chí thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Hiện nay ông bà mới có ba cậu ấm, còn một cậu hoặc một cô sắp ra đời. Ông sẽ giao cho chị săn sóc tất cả các cô cậu ấy. Không phải giặt quần áo chỉ lo ăn uống tắm rửa, dỗ ngủ, dắt đi ra vườn Ba Đình dạo mát thôi. Chị bây giờ đâu còn sữa . Hơn nữa đã có sẵn sữa Tây.

– Dạ. – Chị vú cúi mặt dạ khẽ như nghẹn ngào.

– Riêng anh thì săn sóc các luống hoa và giặt giũ. Không phải lau chùi xe hơi hoặc mó tay vào bếp vì các việc đó đã có anh xe và chị bếp làm rồi.

– Vâng ạ.

– Còn cụ tuy tuổi đã cao, đáng lẽ phải vô viện dưỡng lão nhưng viện ấy chưa có dự trù xây cất trong hai mươi năm kế hoạch nhà nước lần thứ nhất, vậy tạm thời ở lại đây giúp một tay bổ củi và móc mấy gốc cổ thụ kia đi để có đất làm liếp trồng rau cải.

– Vâng! Tốt lắm. Đó là nghề của tôi. Còn cháu bé?

– Cháu bé thì để ông bà sai vặt như lau giày, nhặt banh của các cô cậu chơi, hoặc là pa-nhe bưng thúng, xách bóp hoặc đỡ bà ra vào xe, lên xuống bậc tam cấp. Đến tối thì giờ có dư tha hồ học bài, chép thơ của đồng chí thừa tướng đem cho báo Nhân Dân in.

Cô lái đò sắp phổ biến công tác cho cụ Ngáo thì cụ xua tay:

– Thôi, thôi, tôi có công tác đặc biệt rồi! Xin cảm ơn cách mạng!

– Công tác gì ở đâu vậy cụ?

Vừa đến đó thì một chiếc xe rùa nắp đen chạy vô. Từ nãy giờ cổng vẫn để mở. Chiếc xe vừa qua khỏi cổng thì quẹo trái chứ không đi vào phía bếp. Mấy người ngóng cổ nhìn theo. Chiếc xe đổ trong cửa chính biệt thự. Một gã phú-lích lễ phục trắng chực sẵn ở đâu từ trên lao xuống cất tay lên rìa lưỡi trai nẩy ngửa chào rồi mở cửa xe. Một thằng người to lớn chui ra, khó nhọc còn hơn bà chủ lúc nãy. Khi nó đứng lên thì eo ôi, nó cao quá sức tưởng tượng. Tóc nó hoe, lưng rộng như cánh phản, mặt đỏ như gấc, lông tay vàng như lông bò tơ. Nó khệnh khạng bước lên thêm trong lúc gã phú-lích vọt ba bậc một mở cửa.

Trong khung cửa hiện ra một con người bé nhỏ vận com-lê đen, nơ đen, giày đen… Ông ta cuốc rất sâu, cái đầu hói ông ta suýt đụng rốn của thằng cha to lớn kia, chút nữa thì quỳ.

Cụ Ngáo ngạc nhiên tự hỏi:

– Ủa sao nghe nói Tây đi hết rồi, còn Tây nào đây?

Cô lái đò đến có vẻ khẩn cấp:

– Công tác thì đã ấn định vậy rồi, nhưng mời các vị mai hãy đến bắt đầu làm việc, còn bây giờ các đồng chí Liên Xô sắp tới ăn tiệc mừng Bác và Đảng ta về thủ đô, đồng chí thừa tướng bảo bà con chịu phiền đi lánh mặt chút, để các đồng chí ấy trông thấy thì hơi bất tiện!

– Vâng, tôi sẽ đi ngay. – Cụ Ngáo gãi đầu gãi tai – nhưng ở trong nhà có dây kẽm không, cô cho tôi xin một khúc, làm cái tròng.

– Để làm gì , cụ Ngáo?

– Tôi muốn phục vụ cách mạng bằng cái nghề cũ của tôi ấy mà! Tôi lại đi siết họng chó. Thời nào cũng lắm chó, chó m…ực, chó và..àng, chó đực, chó cái….

(*) Những câu thơ này lấy từ tập thơ “Từ Ấy” của Tố Hữu

(**) Pa-nhe= panier; ban-bù= bambou, là những tiếng dùng để ám chỉ bọn đội đít Tây

xuanvu_sign

—->Số tự chọ độc đắc

Advertisements
This entry was posted in Truyện ngắn, Xuân Vũ. Bookmark the permalink.

2 Responses to TỰ VỊ THẾ KỶ (Xuân Vũ): Vú Em, Lão Đầy Tớ và Cụ Ngáo

  1. Ha Lan Phuong says:

    CHỊ HAI ƠI CẬU THƯ SINH ẤY CÓ PHẢI LÀ TÊN TỐ HỮU KHÔNG ?

    Like

  2. Lê Thy says:

    Đố quý vị có nhận ra “chàng thư sinh trắng trẻo” trong truyện kể này là ai không ?

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s