CHIẾN-THẮNG AN-LỘC 1972: Phần III

VÀI NÉT VỀ MỘT NGƯỜI HÙNG:
ĐẠI TÁ HỒ NGỌC CẨN

Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

anloc_phan3-4

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 03 năm 1938 tại Cần Thơ. Thân phụ là một hạ sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Thuở nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật gì. năm 10 tuổi, ông bị bệnh quai bị, cả hai bên. Tính tình hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi ông bắt đầu đi học (1945) thì chiến tranh Pháp Việt bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn. Mãi đến năm 1947 ông mới đi học lại. Ông học không lấy gì làm giỏi cho lắm, thường thì chỉ đứng trung bình trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp đơn xin cho ông nhập học trường Thiếu Sinh Quân.

Thời điểm này, trên toàn lãnh thổ Việt Nam có 7 trường Thiếu Sinh Quân, phân phối như sau:

– Trường Thiếu Sinh Quân đệ nhất quân khu, ở Gia Định

– Trường Thiếu Sinh Quân đệ nhị quân khu, ở Huế

– Trường Thiếu Sinh Quân đệ tam quân khu ở Hà Nội

– Trường Thiếu Sinh Quân Móng Cái, dành cho sắc tộc Nùng

– Trường Thiếu Sinh Quân đệ tứ quân khu ở Ban Mê Thuột

– Trường Thiếu Sinh Quân ở Đà Lạt của quân đội Pháp

– Trường Thiếu Sinh Quân Đông Dương của quân đội Pháp ở Vũng Tàu

Hồ Ngọc Cẩn được thu nhận vào học lớp nhì trường Thiếu Sinh Quân đệ nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy theo chương trình Pháp. Ông đỗ tiểu học năm 1952. Cuối năm 1952, trường Thiếu Sinh Quân đệ nhất quân khu di chuyển từ Gia Định về Mỹ Tho.

Khi hiệp định Genève ký ngày 20-07-1954, thì ngày 10 tháng 08 năm 1954, trường Thiếu Sinh Quân đệ tam quân khu di chuyển từ Hà Nội vào, sát nhập với trường Thiếu Sinh Quân đệ nhất quân khu ở Mỹ Tho. Niên học 1954-1955, trường Thiếu Sinh Quân đệ nhất quân khu bắt đầu dạy chương trình Việt, và chỉ mở tới lớp đệ ngũ. Hồ Ngọc Cẩn học lớp đệ lục A, giáo sư dạy Việt văn là ông Nguyễn Hữu Hùng, từ Bắc di cư vào. Thực là một điều lạ, là giữa một số bạn học chương trình Việt từ Bắc vào, mà Hồ Ngọc Cẩn lại tỏ ra xuất sắc về môn Việt văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, thì bài của Cẩn được tuyển chọn là bài xuất sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng bài của Cẩn chỉ đứng thứ nhì trong lớp mà thôi. Năm này Cẩn bắt đầu làm thơ. Thơ của Cẩn không có hùng khí, đa số những bài thơ này cực kỳ lãng mạn.

Ghi chú : Ông Hùng bấy giờ mới đỗ tú tài. Trong thời gian dạy tại trường Thiếu Sinh Quân, ông tự học, đỗ cử nhân luật. Sau khi đỗ cử nhân luật, ông được bổ làm thẩm phán ở Tuy Hoà, rồi làm bộ trưởng Lao Động, rổi thẩm phán ở Phước Tuy, rồi lại làm bộ trưởng Lao Động. Sau 1975, ông sống tiềm ẩn ở Houston, bang Texas, Hoa Kỳ và từ trần năm 2000.

Hết năm học, Cẩn đã 17 tuổi. Theo học quy của trường Thiếu Sinh Quân, thì khi một học sinh 17 tuổi mà chưa học hết đệ ngũ sẽ được gửi đi học chuyên môn. Còn như 17 tuổi, mà học hết đệ ngũ thì được giữ lại học đệ tứ, rồi cho học lên cao nữa. Niên khoá 1955-1956, Hồ Ngọc Cẩn được gửi lên học tại Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, về vũ khí. Sau ba tháng, Cẩn đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, Cẩn lại đậu chứng chỉ bậc nhì, và bắt đầu ghi danh vào quân đội với cấp bậc binh nhì.

Quy chế dành cho các Thiếu Sinh Quân Việt Nam thời ấy là quy chế dành cho các Thiếu Sinh Quân Pháp trong thời bình. Một học sinh ra trường, thì ba tháng đầu với cấp bậc binh nhì, ba tháng sau với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ. Chín tháng sau Cẩn là trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí.

Chiến tranh tại Miền Nam Việt Nam tái phát vào năm 1960 tại một vài vùng. Sang năm 1961 thì lan rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, Bộ Quốc Phòng cho mở các khoá sĩ quan đặc biệt. Được nhập học trường này, là tất cả các hạ sĩ quan có trên năm năm công vụ và có bằng trung học đệ nhất cấp. Với sự nâng đở đặc biệt của Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng, nguyên là một cựu Thiếu Sinh Quân, các hạ sĩ quan xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân, không cần phải hội đủ trình độ học vấn, cũng như thâm niên công vụ, đểu được nhập học.

Nào ngờ, với sự nâng đỡ đặc biệt này, đã cung cấp cho đất nước Việt Nam không biết bao nhiêu sĩ quan gương mẫu, anh hùng trên chiến trường.

Hồ Ngọc Cẩn tốt nghiệp khóa 2 sĩ quan đặc biệt với cấp bậc chuẩn úy. Dường như có một mật lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm hay Đại Tướng Lê Văn Tỵ, các tân chuẩn úy xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân đểu được đưa về phục vụ tại các binh chủng : Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Quân Báo, và Lực Lượng Đặc Biệt.

Sau khi ra trường, Hồ Ngọc Cẩn theo học một khóa huấn luyện Biệt Động Quân, rồi thuyên chuyển về phục vụ tại Khu 42 Chiến Thuật, với chức vụ khiêm tốn là Trung Đội Trưởng. Lãnh thổ khu này gồm có các Tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh), Chương Thiện, Sóc Trăng (Ba Xuyên), Bạc Liêu, Cà Mâu (An Xuyên). Về sau, vì tình hình chiến tranh thay đổi, quân Cộng Sản từ du kích chiến chuyển sang đánh cấp tiểu đoàn và trung đoàn, các Đại Đội Biệt Động Quân cũng phải kết hợp thành tiểu đoàn. Các đại đội Biệt Động Quân của Khu 42 Chiến Thuật kết thành hai tiểu đoàn, Tiểu Đoàn mang số 42, đơn vị mà Cẩn phục vụ, được tặng mỹ danh là Tiểu Đoàn Cọp Ba Đầu Rằn. Tiểu Đoàn mang số 44 được tặng mỹ danh là Cọp Xám U Minh Hạ.

Tôi đã gặp Hồ Ngọc Cẩn bao giờ? Tại đâu? Câu chuyện như thế này:

Năm 1966, khi đọc trong Đại Nam chính biến liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí viết về “Nguỵ Tây Sơn”, có rất nhiều nghi vấn trong những trận đánh giữa vua Quang Trung với vua Gia Long trong rừng U Minh. Tôi nảy ra ý xuống vùng tận cùng này của đất nước tìm hiểu thêm. Bấy giờ đang xảy ra vụ biến động Miền Trung “các Thầy mang bàn thờ xuống đường”, chiến cuộc tại Miền Tây cực kỳ sôi động, mẹ tôi, bà má má (vú nuôi) cực lực phản đối, vì đi như vậy dễ tiêu diêu Miền Cực Lạc lắm. Nhưng bố tôi, sau khi tính số tử vi của tôi, cụ lại khuyên tôi nên đi. Cụ nói :”Con đi lần này sẽ có thêm nhiều bạn tốt, hơn nữa có dịp biết về vùng đồng lầy Cà Mâu”. Tôi nhất quyết đi, bà má má tôi khóc khốn khổ, nhưng cũng không cản được cái tính phiêu lưu và mê sưu tầm của tôi.

Nhưng làm thế nào để có thể được vào tất cả các làng, những xã, mà không gặp trở ngại? Làm sao có phương tiện di chuyển? Chỉ một cú điện thoại, ông bố tôi đã kiếm cho tôi cái giấy giới thiệu của tờ tuần báo trung lập lớn nhất ở Paris. Bà má má kiếm cho tôi giấy giới thiệu của tờ nhật báo Hoa văn tại Hương Cảng. Thế là tôi bỗng trở thành ký giả bất đắc dĩ. Tôi đến bộ tư lệnh MACV xin giúp phương tiện làm phóng sự chiến trường ở vùng 4 Chiến Thuật. Tôi chỉ mong tìm hiểu lịch sử, chứ nào có chủ tâm làm ký giả!

Nhưng sau chuyến đi ấy, quá xúc động về cuộc chiến tranh thê thảm, tôi đã viết rất nhiều bài ký sự chiến trường, đăng trên một số báo ngoại quốc. Khởi đầu, uất hận trước cái chết của một cô bạn gái tên Nguyễn Thị Tuyết, mới hai mươi tuổi, làm nữ cán bộ Xây Dựng Nông Thôn tại kinh Tắc Vân, Cà Mâu. Tôi là thày thuốc, mà cô bị trúng đạn, chết trên tay tôi. Tôi viết bài “Giang biên hoa lạc” gây xúc động mạnh cho độc giả Hương Cảng và giới Hoa kiều tại Việt Nam. Sau tôi có dịch bài này sang tiếng Việt với tên là “Hoa rơi bên bờ kinh Tắc Vân”. Tôi gửi bài này dự thi giải ký sự chiến trường của Cục Tâm Lý Chiến năm 1967. Bài tôi được giải nhì. Giải nhất về Trang Châu cũng là một bài ký sự của y sĩ tiền tuyến. Một trong các giám khảo nói với tôi “Về nội dung, bài của cháu với Trang Châu cùng nói lên niềm mơ ước của tuổi trẻ quên mình cho quê hương. Nhưng bài của Trang Châu trung thực, còn bài của cháu thì uớt át quá, thê thảm quá, dù rằng đó là sự thực”.

Sau đây, tôi xin trích ra nguyên văn một đoạn tôi viết về Hồ Ngọc Cẩn, trong bài “Ngũ Hổ U Minh Thượng” kể chuyện năm Tiểu Đoàn Trưởng nổi danh can đảm, có máu văn nghệ, nhất là phong lưu tiêu sái, tại chiến trường cực Nam 1966. Ngũ Hổ đó là:

– Đại Úy Hồ Ngọc Cẩn, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/33

– Thiếu Tá Lưu trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 42 BIệt Động Quân

– Thiếu Tá Nguyễn Văn Huy, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 44 BIệt Động Quân

– Thiếu Tá Lê Văn Hưng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/31

– Đại Úy Vương Văn Trổ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3/33

Ghi chú : Tôi xếp theo thứ tự ABC. Trong năm người này thì Kiệt tuẫn quốc năm 1967. Ngày 30 tháng 04 năm 1975, Hưng tự tử, Cẩn bị xử bắn. Còn Trổ, sau khi lên Đại Tá lĩnh Tỉnh Trưởng Kiên Giang, hiện định cư tại Houston, bang Texas, Hoa Kỳ. Còn Huy, tôi không biết sau ra sao? (LBBS: Đại Tá Nguyễn Văn Huy, tốt nghiệp Khóa 16 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, gốc Biệt Động Quân,cựu Trung Đòan Trưởng Trung Đòan 12 Sư Đóan 7 Bộ Binh, nguyên Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng /TK Kiến Tường ( Vùng IV), hiện đang cư ngụ tại California, Hoa Kỳ).

Ngày 19 tháng 04 năm 1966, tôi tới phi trường Vĩnh Lợi bằng phi cơ Caribou của quân đội Hoa Kỳ. Người đón tôi là Thiếu Tá Raider, trong tóan cố vấn của Sư Đoàn. Tại đại bản doanh của cố vấn đoàn 21 BB, Đại Tá cố vấn trưởng Hathaway không biết gì về chủ đích chuyến đi của tôi. Ông chỉ căn cứ vào giấy giới thiệu do hai chủ báo cấp, mà đoán rằng tôi là một tên thày thuốc trẻ, thích phiêu lưu, nên đi làm ký giả. Ông cho tôi biết tình hình địch rất chi tiết. Về tình hình quân đội Việt Nam tại năm Tỉnh tận cùng đất nước, ông nói :

– “Khu 42 Chiến Thuật,do Sư Đoàn 21, thuộc Quân Khu 4 trấn nhậm. Sư Đoàn có 3 Trung Đoàn mang số 31, 32, 33. Trung Đoàn 31 đóng tại Chương Thiện, Trung Đoàn 32 đóng tại Cà Mâu, Trung Đoàn 33 đóng tại Ba Xuyên. Ngoài ra còn có hai tiểu đoàn Biệt Động Quân mang số 42 và 44. Tiểu Đoàn 42 đóng tại Bạc Liêu, Tiểu Đoàn 44 đóng tại Long Xuyên.”

Ông ca tụng quân đội Việt Nam như sau

– Lương bổng cho người lính Việt Nam, chỉ gọi là tạm đủ ăn. Doanh trại không có, trang bị thiếu thốn, nhưng họ chiến đấu như những đoàn sư tử. Tuy vậy vẫn có những điều đáng phàn nàn. Ông là thày thuốc cầm bút, xin ông lướt qua những cái đó.”

Bốn hôm sau, có cuộc hành quân cấp sư đoàn. Tôi được gửi theo Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân.Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Phó là Trung Úy Hồ Ngọc Cẩn. Cái tréo cẳng ngỗng là đối với cố vấn đoàn thì tôi là ký giả. Còn Kiệt với Cẩn lại tưởng tôi là bác sĩ tình nguyện ra mặt trận. Tiểu Đoàn được đặt làm trừ bị tại phi trường Vĩnh Lợi, từ 7 giờ sáng, chuẩn bị nhẩy trực thăng vận. Nếu khi nhảy thì Tiểu Đoàn sẽ nhảy làm hai cánh. Cánh thứ nhất gồm Đại Đội 1 và 2 do Hồ Ngọc Cẩn chỉ huy. Cánh thứ nhì gồm Đại Đội 3 và Đại Đội Chỉ Huy do Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt chỉ huy. Tôi với Kiệt, Cẩn ngang ngang tuổi nhau. Tôi có máu giang hồ của người tập võ, coi trời bằng vung, lại cũng có học qua quân sự, nên chúng tôi thân cận nhau dễ dàng. Đại Úy cố vấn tiểu đoàn muốn tôi nhảy theo bộ chỉ huy. Anh nói tôi:

– Lần đầu tiên ra trận, “sơ” có sợ không ?

Tôi trả lời như những nhân vật trong lịch sử Việt Nam:

– Tráng sĩ khi ra trận, không chết thì cũng bị thương, nếu sợ chết thì đừng ra trận.

Cẩn hỏi tôi đã học quân sự chưa? Tôi đáp:

– Kiến thức về quân sự của tôi chỉ bằng phó binh nhì thôi. Nhưng cũng biết bò, biết núp, biết nhảy, biết bắn. Đánh nhau bằng súng thì tôi dở ẹc, nhưng đánh cận chiến thì tôi có hạng, vì tôi là ông thày dạy võ,

Thông dịch viên dịch lại cho cố vấn Mỹ nghe. Họ khen tôi:

– Ông bác sĩ này ngon thực.

Tôi hỏi Kiệt:

– Trong hai cánh, thì cánh nào có hy vọng được đánh nhau nhiều hơn.

Kiệt chỉ Cẩn :

– Anh cứ nhảy theo thằng này, thì sẽ toại nguyện. Tha hồ mà hành nghề.

Tiểu Đoàn cũng có sĩ quan trợ y. Anh biệt phái cho tôi một y tá cấp trung sĩ, với đầy đủ thuốc cấp cứu. Trên lưng tôi chỉ có bộ đồ giải phẫu cấp dã chiến. Khoảng 10 giờ thì có lệnh: Một đơn vị Địa Phương Quân chạm địch tại Vĩnh Châu. Địch là tiểu đoàn cơ động Sóc Trăng. Tiểu Đoàn phải nhảy trực thăng vận đánh vào hông địch. Địa điểm nhảy là một khu đồng lầy.

Sau khi Kiệt họp các sĩ quan, tóm lược ngắn tắt nhiệm vụ, tình hình trong mười phút, Cẩn dẫn tôi ra phi đạo. Hai đại đội đã lên trực thăng từ bao giờ. Chúng tôi cùng leo lên một trực thăng. Hai mươi lăm chiếc trực thăng cùng cất cánh.Trực thăng bay khoảng bảy phút, thì Cẩn chỉ vào khu làng mạc trước mặt:

– Kìa, chỗ chúng mình đáp kìa.

Trực thăng hạ cánh. Thoáng một cái hơn hai trăm người từ trực thăng lao ra. Một cảnh tượng mà không bao giờ tôi quên: Những người lính dàn ra thành một hàng ngang. Họ núp vào những cái bờ ruộng, mô đất, tay thủ súng, mặt đăm đăm nhìn về trước. Đó là một làng, lưa thưa mấy ngôi nhà tranh, ẩn hiện dưới những cây dừa xanh tươi. Mặc dù súng trong làng bắn ra, nhưng những người lính ấy vẫn chưa bắn trả. Tôi đưa mắt nhìn một lượt các sĩ quan, người thì nằm, ngưòi thì quỳ, cũng có người đứng.

Từ lúc nhảy xuống, Cẩn không hề nằm, quỳ, mà đứng quan sát thế trận địch. Một là điếc không sợ sấm, hai là tự tin vào số tử vi của mình thọ, tôi cũng đứng.

Hơn mười phút sau, cánh quân thứ nhì đã nhảy xuống trận địa. Trận vừa dàn xong, thì sĩ quan đề lô xin pháo binh nã vào những chỗ có ổ moọc-chiê, trung liên, đại liên trong làng. Một lệnh ban ra, hơn bốn trăm con cọp dàn hàng ngang, vừa bắn vừa xung phong vào trong làng. Trong khi súng trong làng bắn ra, đạn cầy các ụ đất, trúng vào ruộng nước, bụi, nước bắn tung.

Hàng quân tới bờ ruộng cuối cùng, cách bìa làng không đầy 50 thước, thì súng nhỏ từ trong mới nổ. Cả hàng quân đều nằm dài ra sau cái bờ ruộng. Giữa lúc đó, sĩ quan pháo binh trúng đạn lật ngược. Tôi chạy lại cấp cứu, thì không kịp, viên đạn xuyên qua sọ anh. Thế là pháo binh vô hiệu. Trực thăng võ trang được gọi đến. Cố vấn Mỹ báo về trung tâm hành quân. Cố vấn tại trung tâm hành quân ra lệnh cho phi công trực thăng nã xuống địa điểm có địch quân.

Tôi đứng cạnh Cẩn tại một mô đất. Cẩn không trực tiếp cầm máy chỉ huy, mà ra lệnh cho các đại đội, trung đội qua hiệu thính viên,.

Sau khi trực thăng võ trang nã ba loạt rocket, đại liên, thì lệnh xung phong truyền ra. Cả tiểu đoàn reo lên như sóng biển, rồi người người rời chỗ nằm lao vào làng. Không đầy mười phút sau, tiếng súng im hẳn.

Bây giờ là lúc tôi hành nghề. Những binh sĩ, bị thương nặng được băng bó, cầm máu, rồi trực thăng tải về quân y viện. Còn như bị thương nhẹ thì được điều trị tại chỗ. Tôi ngạc nhiên vô cùng, khi thấy những binh sĩ bị thương khá nặng, nghe tôi nói rằng: Nếu họ muốn, tôi có thể gắp đạn, may các vết thương đó cho họ, mà không phải về quân y viện. Họ từ chối đi quân y viện, xin ở lại để tôi giúp họ. Tôi cùng sĩ quan trợ y, bốn y tá làm việc trong hơn giờ mới xong. Tôi hỏi Cẩn:

– Tôi tưởng, thương binh được về quân y viện chữa trị, nghỉ ngơi, thì là điều họ mong muốn mới phải. Tại sao họ muốn ở lại?

– Bọn cọp nhà này vẫn vậy. Chúng tôi sống với nhau, kề cận cái chết với nhau, thì xa nhau là điều buồn khổ vô cùng. Đấy chúng nó bị thương như vậy đấy, lát nữa anh sẽ thấy chúng chống gậy đi chơi nhông nhông ngoài phố, coi như bị kiến cắn.

Tôi đi một vòng thăm trận địa. Hơn hai trăm xác chết, mặc áo bà ba đen, quần đùi. Những xác chết đó, gương mặt còn non choẹt, đa số khoảng 15 đến 20, cái thì nằm vắt vẻo trên bờ kinh, cái thì bị cháy đen, cái thì mất đầu. Cũng có cái nằm chết trong hầm. Không biết, trong khi họ phơi xác ở đây, thì cha mẹ, anh em, vợ con họ có biết không?

Sau trận đó thì Cẩn được thăng cấp Đại Úy. Cuối năm 1966, Cẩn từ biệt Tiểu Đoàn 42 BIệt Động Quân đi làm Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 33, Sư Đoàn 21. Việc đầu tiên của Cẩn khi làm Tiểu Đoàn Trưởng là xin Sư Đoàn cho tất cả các sĩ quan, hạ sĩ quan xuất thân trường Thiếu Sinh Quân về chiến đấu cùng với mình. Cẩn đã được thoả mãn một phần yêu cầu. Tôi hỏi Cẩn:

– Anh đem các cựu Thiếu Sinh Quân về với mục đích gì?

– Một là để dễ sai. Tất cả bọn cựu Thiếu Sinh Quân này đều ra trường sau tôi. Chúng là đàn em, dù tôi không phải là cấp trên của chúng nó, mà chúng nó lộn xộn, tôi vẫn hèo vào đít chúng nó được. Nay tôi muốn chúng về với tôi, để tôi có thể dạy dỗ chúng những gì mà tại quân trường không dạy. Hai là, truyền thống của tôi khi ra trận là chết thì chết chứ không lùi, vì vậy cần phải có một số người giống mình, thì đánh nhau mới đã. Bọn cựu Thiếu Sinh Quân đều như tôi cả.

Suốt năm 1967, Cẩn với Tiểu Đoàn 1/33 tung hoành trên khắp lãnh thổ năm Tỉnh Hậu Giang, khi Đại Ngãi, khi Tắc Vân, khi Kiên Hưng, khi Thác Lác, khi Cờ Đỏ. Sau trận Tổng Công Kích Mậu Thân, Cẩn được thăng Thiếu Tá. Năm 1968, Cẩn là người có nhiều huy chương nhất quân đội. Thời gian này tôi bắt đầu viết lịch sử tiểu thuyết, nên tôi đọc rất kỹ Lục Thao, Tam Lược, Tôn Ngô Binh Pháp, cùng binh pháp của các danh tướng Đức, Pháp, nhất là của các tướng Hồng Quân. Tôi dùng kiến thức quân sự trong sách vở để đánh giá những trận đánh của Cẩn từ 1966. Tôi bật ngửa ra rằng Cẩn không hề đọc, cũng không hề được học tại trường sĩ quan, những binh pháp đó. Mà sao từ cung cách chỉ huy, cung cách hành sử với cấp dưới, cấp trên, nhất là những trận đánh của Cẩn bàng bạc xuất hiện như những lý thuyết trong thư tịch cổ?

Năm 1970, Cẩn thăng Trung Tá, rời Tiểu Đoàn 1/33 đi làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9. Năm 1972, Cẩn được lệnh mang Trung Đoàn 15 từ Miền Tây lên giải tỏa An Lộc. Cuối năm 1973, Cẩn được trở về chiến trường sình lầy với chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện. Lần cuối cùng tôi gặp Cẩn vào mùa hè năm 1974 tại Chương Thiện. Tôi hỏi Cẩn:

– Anh từng là Trung Đoàn Trưởng, hiện làm Tỉnh Trưởng. Anh có nghĩ rằng sau này sẽ làm Sư Đoàn Trưởng không?

– Tôi lặn lội suốt 14 năm qua, gối chưa mỏi, nhưng kiến thức có hạn. Được chỉ huy Trung Đoàn là cao rồi. Mình phải biết liêm sỉ chứ! Coi sư đoàn sao được.

– Thế anh nghĩ sau này anh sẽ làm gì?

– Làm Tỉnh Trưởng bất quá một hai năm nữa rồi tôi phải ra đi, cho đàn em có chỗ tiến thân. Bấy giờ tôi xin về coi Trường Thiếu Sinh Quân, hoặc coi các lớp huấn luyện đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, đem những kinh nghiệm thu nhặt được trong mười mấy năm qua dạy đàn em. Tôi sẽ thuật trước sau hơn ba trăm trận đánh mà tôi trải qua, nhờ anh viết lại. Bộ sách đó, anh nghĩ nên đặt tên là gì?

– “Cẩm nang của các đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng trong chiến tranh chống du kích tại vùng đồng lầy”. Nhưng liệu Bộ Quốc Phòng có cho phép in hay không?

– Không cho in thì mình cũng cứ thuật, rồi đem giảng dạy, ai cấm được?

Đây là cuộc gặp gỡ cuối cùng của tôi với Cẩn.

Sau khi Miền Nam mất, tôi không được tin tức của Cẩn. Mãi năm 1976, tôi được tin: Ngày 30 tháng 04 năm 1975, khi tên tướng mặt bánh đúc Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, Cẩn chống lại lệnh đó. Các đơn vị Cộng quân tiến vào tiếp thu Tiểu Khu Chương Thiện thì gặp sức kháng cự, chết rất nhiều. Cẩn bị bắt, rồi bị đem ra xử tử.

Ghi chú :

Tại Sài Gòn 9 giờ bảy phút, tiếng súng kháng cự tại các đơn vị Dù chấm dứt. Tại Bộ Chỉ Huy Chương Thiện kéo dài tới 15 giờ.Trong khi đó, tiếng súng kháng cự của các Thiếu Sinh Quân còn kéo dài tới 19 giờ bốn mươi lăm phút tại Vũng tàu. Nếu tôi không lầm thì các Thiếu Sinh Quân Việt Nam là những người chiến đấu cuối cùng của Miền Nam.

Cuộc xử Cẩn có hai nhân chứng thuật lại:

Một là Trung Tá Bùi Văn Địch (hiện sống ở Berlin, Đức), xuất thân trường Thiếu Sinh Quân Hà Nội, sau đi vào Mỹ Tho. Trung Tá Địch đã sống với Cẩn 2 năm tại trường Thiếu Sinh Quân Mỹ Tho. Thời gian 1972, cả hai từng cùng phục vụ tại Sư Đoàn 9 Bộ Binh.

Hai là phu nhân của Trung Tá bác sĩ Jean Marc Bodoret, nhủ danh Vũ Thị Quỳnh Chi (hiện sống ở Marseille), em ruột của cựu Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang. Quang là người nạp đạn cho Cẩn sử dụng khẩu đại liên 30, bắn đến viên đạn cuối cùng trong công sự chiến đấu Tiểu Khu Chương Thiện. Bà Bodoret chứng kiến tận mắt cuộc xử án Cẩn.

Cuộc xử án như sau :

Ngay khi Cẩn bị bắt, người ta để Cẩn lên một chiếc xe mui trần, chở đi khắp thành phố Chương Thiện cho dân chúng xem như chiến lợi phẩm. Ngồi trên xe, Cẩn thản nhiên mỉm cười. Sau khi cán bộ Cộng sản kết tội Cẩn bằng những từ ngữ hiếm hoi thấy trong các đạo luật trên thế giới, người ta kêu gọi dân chúng ai là nạn nhân của Cẩn thì đứng lên tố cáo, rồi muốn đánh, muốn chửi tuỳ thích. Nhưng chỉ có vài cán bộ nội thành tố cáo Cẩn là ác ôn có nợ máu. Dân chúng không có ai lên tiếng cả. Người ta hỏi: Những ai đồng ý xử tử Cẩn thì dơ tay lên. Lại cũng chẳng có ai dơ tay. Thế là cuộc xử án ngừng lại.

Rồi vài tháng sau, cuộc xử án Cẩn lại diễn ra ở sân vận động thể thao Cần Thơ. Lần này người ta chuẩn bị kỹ hơn, người ta cho tụi bò vàng xen lẫn với dân chúng. Cũng bản cũ soạn laị, nhưng người ta khôn khéo hơn, người ta không hỏi xem Cẩn đã nợ máu với ai, thì hãy ra mà xỉ vả, đánh đập. Người ta chỉ hỏi : Ai đồng ý xử tử Cẩn thì dơ tay. Bò vàng dơ tay. Một số dân chúng dơ tay. Số đông vẫn cúi đầu, không dơ tay.

Người ta hỏi Cẩn có nhận những tội mà toà án nêu ra không? Cẩn cười nhạt:

– Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho sự tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là nguỵ. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt.

Rồi Cẩn hô :

– Đả đảo Cộng Sản. Việt Nam Cộng Hòa muôn năm.

Sau khi Cẩn bị bắn chết dân chúng hiện diện khóc như mưa như gió. Trời tháng năm, đang nắng chói chan, tự nhiên sấm chớp nổ rung động không gian, rồi một trận mưa trút xuống.

Nắng mưa là hiện tượng bình thường của trời đất. Nhưng dân chúng Cần Thơ thì cho rằng Trời khóc thương cho người anh hùng, gặp cơn sóng gió của đất nước.

Khi tôi gặp Cẩn, thì tôi chưa khởi công viết lịch sử tiểu thuyết. Thành ra cuộc đời Cẩn, cuộc đời các cựu Thiếu Sinh Quân quanh Cẩn, in vào tâm não tôi rất sâu, rất đẹp.Vì vậy, sang năm 1968, khi bắt đầu viết, thì tôi bao giờ cũng khơi đầu bằng thời thơ ấu của những nhân vật chính. Trong bộ nào, cũng có những thiếu niên, khi ra trận chỉ tiến lên hoặc chết, chứ không có lùi.

Có rất nhiều người đặt câu hỏi : Giữa tôi và Cẩn như hai thái cực. Cẩn chỉ học đến đệ lục, tôi được học ở nhà, ở trường đến trình độ cao nhất. Cẩn là người Nam, tôi là người Bắc. Cẩn theo đạo Chúa, tôi là cư sĩ Phật Giáo.Tôi thì sống theo sách vở, Cẩn thì lăn lộn với thực tế. Tôi không biết uống rượu. Cẩn thì nổi danh tửu lượng cao nhất Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Tôi thấy người đẹp là chân tay run lẩy bẩy. Cẩn thì rửng rưng. Thế mà khi gặp nhau, chúng tôi thân với nhau ngay. Thân đến nỗi giải bày cho nhau tất cả những tâm sự thầm kín nhất, không một người thứ nhì biết được. Tại sao? Cho đến nay, tôi mới trả lời được rằng: Cẩn cũng như những người quanh Cẩn, là những hình bóng thực, rất quen thuộc mà trước kia tôi chỉ nhìn thấy trong lịch sử. Nay được gặp trong thực tế.

Hai mươi mốt năm qua, đúng mười hai giờ trưa, ngày 30 tháng 04, dù ở bất cứ nơi nào, tôi cũng mua bó hoa, đèn cầy, vào nhà thờ đốt nến, đặt hoa dưới tượng Đức Mẹ, và cầu xin cho linh hồn Cẩn được an lành trong vòng tay người.

Tôi lược thuật về cuộc đời của Cẩn mà không phê bình, vì Cẩn là bạn thân của tôi, và tôi không đủ ngôn tử đẹp đẽ để tặng Cẩn.

Viết tại Paris ngày 30 tháng 04 năm 1996.

anloc_phan3-5
Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

—->Xem tiếp

Advertisements
This entry was posted in Chiến Thắng An Lộc 1972 (Nhóm quân nhân QLVNCH), Một thời để nhớ, Người Lính VNCH. Bookmark the permalink.