THÁNG TƯ NGHIỆT NGÃ 1975 – Sài gòn Thất Thủ (Olivier Todd – Dương Hiếu Nghĩa dịch)

MỘT VÀI MỐC THỜI GIAN
TRƯỚC NĂM 1975

1930: Hồ chí Minh thành lập “Đông Dương Cộng Sản Đảng” tại Hong Kong
22/12/1944: Võ nguyên Giáp bắt đầu mở các cuộc hành quân chống Pháp
16/4/1945 Hồ chí Minh thành lập “ủy ban cứu quốc”. Bảo đại thoái vị. Chánh Phủ Lâm Thời được thành lập.
2/9/1945 Tại Hà Nội (có một vài sĩ quan Hoa Kỳ đứng bên cạnh) Hồ chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
24/9/1946: Tướng Leclerc đến Saigon
Hồ chí Minh ký với Pháp một hiệp ước theo đó Pháp nhìn nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong Liên Bang Đông Dương và nằm trong Khối Liên Hiệp Pháp
1/6/1946 Hội nghị Fontainebleau (Pháp)
Hội nghị không tiến hành được vì đô đốc Thierry d’Argenlieu đòi hỏi tách Nam Kỳ (Nam Việt) ra khỏi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Nam Kỳ phải có thể chế tự trị riêng)
11/1946 Đô đốc Thierry d’Argenlieu hành quân “Bình định”, dội bom Hà Nội
19/12/1946 Hà Nội kêu gọi kháng chiến chống Pháp. Chiến tranh ở Đông Dương bắt đầu.
4/1947 Bộ đội Việt Minh rút vào chiến khu kháng chiến ở miền thượng du Bắc Việt, vì Pháp đã chiếm xong các tỉnh thuộc Bắc Kỳ và Trung Kỳ
5/6/1948 Một Hiệp Ước được ký kết tại Vịnh Hạ Long, Bảo Đại trở thành Quốc Trưởng của nước Việt Nam
14/1/1950 Hồ chí Minh tuyên bố là chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là chánh phủ Việt Nam hợp pháp duy nhất.
2/1950 Trên thực tế nước Việt Nam bị chia cắt làm hai
3/8/1950 Phái đoàn viện trợ và cố vấn quân sự Hoa Kỳ gồm 35 người đến Việt Nam , gọi tắt là MAAG (US Military Assistance Advisory Group)
7/5/1954 Điện biên Phủ thất thủ
8/5/1954 Tại Hội nghị Geneve, Liên Xô và Trung Cộng làm áp lực để phái đoàn VNDCCH chấp nhận vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) là ranh giới của hai Miền Nam Bắc.
20/7/1954 Thủ tướng Mendes France Pháp và cộng sản Việt Nam ký “Hiệp Ước Ngưng Bắn Và Đình Chiến Genève 1954”.
Hoa Kỳ không ký vào bản Tuyên Bố cuối cùng.
Cuộc chiến kéo dài gần 8 năm. Lệnh ngừng bắn có hiệu lực trên toàn cỏi Đông Dương . Hiện có 342 quân nhân Hoa Kỳ tại Miền Nam Việt Nam
8/8/1954 Hơn 1 triệu dân từ Miền Bắc di cư vào Miền Nam, hầu hết là người công giáo
8/8 /1954 Ủy Ban An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ tuyên bố tại Hoa thạnh Đốn là Hiệp Ước Genève là một “thảm họa” mở đường cho cộng sản xâm chiếm Đông Nam Á.
20/11/1954 Thủ Tướng Pháp, ông Pierre Mendes France rời Hoa thịnh Đốn.
Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập.
Quân Đội Viễn Chinh Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam.
Hoa Kỳ bắt đầu thay thế Pháp trong trách nhiệm trang bị và huấn luyện QĐQGVN.
26/10/1955 Ông Ngô đình Diệm Tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa. Ông là Thủ Tướng, kiêm Quốc Phòng và Tổng Tư Lệnh Quân Đội.
12/1955 Ngoại trừ các mỏ than và hệ thống Hỏa Xa, Tất cả 150 cơ sở kỹ nghệ, thương mãi khác của Pháp tại Bắc Việt đều bị quốc hữu hóa mà không có được bồi thường,
28/4/1956 Người binh sĩ cuối cùng của Quân Đội Pháp rời khỏi nước Việt Nam .
Phái Đoàn Quân Sự Pháp đặc trách về Hải Quân và Không Quân sẽ rời khỏi Việt Nam một năm sau.
Tháng 5/1959 Các cố vấn quân sự Hoa Kỳ được gởi tới đơn vị cấp Trung Đoàn của QLVNCH.
20/12/1960 Hà Nội loan báo thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (FNL: Front National pour la Liberation du Sud Việt Nam )
11/12/1961 Những chiếc trực thăng đầu tiên của Hoa Kỳ tới Việt Nam với 400 quân nhân.
15/10/1962 Phi hành đoàn trực thăng Hoa Kỳ tham chiến chống Việt Cộng
2/11/1963 Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đảo chánh ông Ngô đình Diệm, và tuyên bố thành lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa . Danh xưng vẫn là Việt Nam Cộng Hòa.
14/7/1964 Sĩ quan Bắc Việt được gởi vào chỉ huy các đơn vị Việt Cộng thuộc MTGPMN.
18/9/1964 Hai đơn vị bộ đội Bắc Việt xâm nhập Quảng Trị, phía Nam vĩ tuyến 17
22/2/1965 Tướng Westmoreland xin 2 tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vào giữ an ninh cho các căn cứ Mỹ tại Đà Nẳng
7/4/1965 Tổng Thống Johnson tuyên bố sẳn sàng mở những cuộc thương thảo không điều kiện nhằm chấm dứt chiến tranh
Tháng 6/1965 Đơn vị Úc đầu tiên đến Việt Nam
27/11/1965 Ngũ Giác Đài cho Tổng Thống Johnson biết là cần phải tăng quân số tác chiến ở Việt Nam từ 120.000 lên 400.000. và có thể lên trên nửa triệu sau đó.
15/2/1966 Trả lời thơ yêu cầu của Hồ chí Minh, Tổng Thống De Gaulle không muốn dính líu đến vấn đề Việt Nam : “Hai bên phải thi hành Hiệp ước Geneve 1954, chánh phủ VNDCCH phải giữ tính cách hoàn toàn trung lập.
4/9/1966 Qua ông William Bundy, Hoa Kỳ Bắc bỏ đề nghị của De Gaulle theo đó Hoa Kỳ trước hết phải tuyên bố rút quân ra khỏi Việt Nam
24 /1/ 1967 Lệnh của Ngũ Giác Đài: Các phi công Hoa Kỳ không được phép dội bom vào các mục tiêu trong vòng đường bán kính 9 cây số chung quanh Hà Nội .
3/9/1967 Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu được tái đắc cử
30/1/ 1968 Mồng một Tết Mậu Thân. Với sự hổ trợ của nhiều đơn vị chánh quy Bắc Việt, Việt Cộng mở cuộc tấn công vào 37 tỉnh thị trấn quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa, chiếm Hué, Dalat, Kontum và Quảng Trị. Tại Saigon, 19 tên Việt Cộng chiếm giữ trong 6 tiếng đồng hồ một phần của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ.
10/2/1968 Cuộc “Tổng công kích” nầy hoàn toàn bị thất bại mặc dầu giữ được Hué gần 1 tháng.
Trên phương diện thuần túy quân sự, cuộc tổng công kích nầy là một thất bại lớn của Bắc Việt. Nhưng trên phương diện chánh trị và tâm lý thì rất tai hại cho Hoa Kỳ.Tháng 5/1968
Phái đoàn Thương thuyết Bắc Việt đến Paris.
5/5/1968 Cộng Sản mở cuộc Tổng công kích đợt 2
9/5/1968 Tổng Thống Thiệu tuyên bố rằng mặc dầu Hoa Kỳ thương thuyết với địch, nhưng ông không bao giờ nhìn nhận Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
10/6/1969 Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập (GRP).
25/1/1972 Tổng Thống Richard Nixon tiết lộ rằng Henry Kissinger đã mật thương thuyết với Bắc Việt từ năm 1969 ngay tại Pháp.
21/2/1972 Tổng Thống Nixon đi Trung Quốc. Gây bất mãn cho giới lãnh đạo Bắc Việt
30/3/1972 Quân Đội Bắc Việt mở cuộc tấn công quy mô vào Miền Nam Việt Nam.
4/4/1972 Hoa Kỳ tái dội bom Bắc Việt sau thới gian ngừng dội bom 3 năm rưởi.
22/5/1972 Tổng Thống Nixon đi Liên Xô.
8/10/1972 Tại Paris thương thuyết gia Bắc Việt Lê đức Thọ lần đầu tiên chấp thuận một kế hoạch theo đó họ không loại bỏ Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu.
12/12/1972 Tổng Thống Thiệu luôn phản đối “nền hòa bình giả hiệu” được toan tính ở Paris.
16/12/1972 Kissinger cho biết là cuộc thương thuyết rơi vào bế tắc.
18/12/1972 Hoa Kỳ tái dội bom xuống Bắc Việt bằng B.52 và các oanh tạc chiến đấu cơ khác.
8/1/1973 Kissinger và Lê đức Thọ đạt được thỏa thuận tại Paris
15/1/1972 Hoa Kỳ ngưng dội bom xuống Bắc Việt
21/1/1973 Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đồng ý ký tên vào Hiệp Định Paris.
15/3/1973 Hoa Kỳ gởi một kháng thư đến Hà Nội về việc Miền Bắc cho xâm nhập bất hợp pháp bộ đội và chiến cụ vào lãnh thổ Miền Nam Việt Nam .
Kissinger đề nghị với Tổng Thống Nixon tái oanh tạc Miền Bắc . Nhưng ông Nixon từ chối.
29/3/1973 Những tù binh Hoa Kỳ cuối cùng được trao trả tại Hà Nội
3/4/1973 Tổng Thống Nixon và Tổng Thống Thiệu gập nhau tại San Clement, Californie
25/4/1873 Cuộc bàn cải giữa hai bên Miền Bắc và Miền Nam về tương lai của nước Việt Nam tại La Celle Saint Cloud (Paris) bị bế tắc.
15/8/1973 Quyết định của Quốc Hội Hoa Kỳ được thi hành: cấm dội bom và cấm mọi “hành động quân sự” của Hoa Kỳ ở vùng Đông Nam Á Châu.
16/10/1973 Giải Nobel về Hòa Bình được trao cho Kissenger và Lê đức Thọ. Lê đức Thọ từ chối.
9/8/1974 Tổng Thống Nixon từ chức, Phó Tổng Thống Gerald Ford lên thay.
3/12/1974 Cơ quan tình báo Miền Nam Việt Nam ước tính là cộng sản sẽ tiếp tục mở các cuộc tấn công qui mô vào Miền Nam
31/12/1974 Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố con số 80.000 thương vong trong năm 1973, cao hơn tất cả trong những năm chiến tranh …

—>Chương 1-5

Advertisements
This entry was posted in DƯƠNG HIẾU NGHĨA dịch Tháng Tư Nghiệt Ngã (Olivier Todd), Hồi-ký - Bút-ký, Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.