MÁU VÀ NƯỚC MẮT TRÊN LƯNG TRƯỜNG-SƠN (Hải Triều)

9- Đường Mòn Hồ Chí Minh….
http://lichsuviet. cjb.net/view_ article.asp? id=2734&cat= 6

Đường mòn Hồ Chí Minh (theo cách gọi của người phương Tây, ở Việt Nam ngoài cách gọi này con đường còn có tên khác là đường Trường Sơn) là tên gọi của mạng lưới giao thông quân sự chiến lược mà chính quyền Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà) xây dựng tại miền Trung Việt Nam và Lào để chi viện cho những người Cộng Sản miền Nam trong 16 năm (1959–1975) của thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Về mặt quân sự Đường mòn Hồ Chí Minh là một chiến trường vận chuyển giữa quân đội miền Bắc và khối đồng minh quân sự Mỹ – Việt Nam Cộng hòa.

Sự hình thành Đường mòn Hồ Chí Minh

Đường mòn Trường Sơn trở thành một con đường nối liền Bắc Nam trong những năm đầu của cuộc Chiến tranh Đông Dương khi nó là một trong những tuyến đường đưa cán bộ di chuyển giữa hai miền để tránh sự truy quét của quân Pháp. Tuy nhiên, khi ấy nó chỉ là một con đường có tính cách chiến thuật. Sau khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ra đời, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, đã phủ nhận Hiệp định Geneve về Việt Nam năm 1954, chia cắt đất nước. Để tiếp tục chi viện cho những người Cộng Sản miền Nam, chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã quyết định xây dựng những con đường chiến lược. Trên cơ sở đó đã có 2 tuyến đường được xem xét là tuyến đường bộ qua dãy Trường Sơn và tuyến đường biển trên biển Đông. Cả 2 đều có tên gọi là đường Hồ Chí Minh. Riêng tuyến đường bộ, do đoàn cán bộ đầu tiên chỉ huy xây dựng tuyến đường này được thành lập vào tháng 9 năm 1959, nên con đường còn có mật danh là đường 559.

Đường mòn Hồ Chí Minh nối liền miền Bắc với miền Nam, bao gồm các hệ thống đường đất ở phía Đông và Tây dãy Trường Sơn, hệ thống đường ống dẫn xăng dầu. Quân đội miền Bắc triển khai các đơn vị công binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không để đảm bảo hoạt động của đường mòn này. Miền Bắc dùng đường mòn này để vận chuyển bộ đội, vũ khí, xăng dầu, đạn… vào phía Nam và vận chuyển thương bệnh binh ra Bắc.

Trong khi đó, lực lượng quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa ngăn chặn bằng các hành động quân sự bộ binh, không quân. Lực lượng quân sự Mỹ còn sử dụng các máy móc điện tử phát hiện thâm nhập, thường được gọi là “hàng rào Điện tử McNamara”, để xác định các khu vực có hoạt động của quân đội miền Bắc.

Trên thực tế, đường mòn Hồ Chí Minh trải dài gần suốt các tỉnh miền Trung với các hoạt động quân sự tập trung ác liệt nhất ở Quảng Bình và Quảng Trị. Trong Chiến tranh Việt Nam ước lượng đã có 3 triệu tấn bom đổ xuống Lào mà chủ yếu là để cắt đứt giao thông trên đường mòn này. Tính đến ngày 30-4-1975, đường Trường Sơn đã tồn tại gần 6000 ngày đêm.

Ngoài ra, hoạt động vận chuyển của quân đội miền Bắc còn được thực hiện trên biển, tạo nên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển ít nổi tiếng bằng.

Sau chiến tranh đường mòn Hồ Chí Minh không còn được sử dụng và hầu hết các con đường chỉ có ý nghĩa quân sự đã nhanh chóng trở nên hoang phế. Những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, để kỷ niệm con đường, tên gọi Đường Hồ Chí Minh được dùng để gọi con đường mới, là đường thứ hai sau đường quốc lộ 1A, xuyên suốt Việt Nam.

Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển

Theo báo Quân Đội Nhân Dân thì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, để chi viện cho chiến trường miền Nam, cùng với con đường vận tải bộ vượt Trường Sơn, quân VC còn có con đường vận tải chiến lược vượt biển Đông. Đó là “Đường Hồ Chí Minh trên biển”, con đường gắn liền với “Đoàn tàu không số”, với gần hai nghìn lần tàu thuyền vượt trùng khơi, trải qua muôn vàn hy sinh gian khổ, để vận chuyển gần 160 nghìn tấn vũ khí, cập 19 bến bãi thuộc địa bàn 9 tỉnh miền Nam.

Từ “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”…

Trước sự phát triển lớn mạnh của VC, từ năm 1959, cùng với việc thành lập đoàn vận tải 559 vượt Trường Sơn, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương VC quyết định nghiên cứu mở tuyến đường vận tải trên biển chi viện trực tiếp cho chiến trường miền Nam. Người đầu tiên được truyền đạt chủ trương và giao nhiệm vụ này cũng chính là người đoàn trưởng đầu tiên của Đoàn 559: Võ Bẩm. Ông quê ở Quảng Ngãi, theo “cách mạng” từ trước năm 1945. Ngoài kinh nghiệm mở đường vận tải xuyên Trường Sơn, trong kháng chiến chống Pháp, ông đã từng chỉ huy tàu gỗ vượt biển chở vũ khí về chi viện cho chiến trường Khu Năm…

Võ Bẩm kể: “Giữa lúc đang tập trung rải quân lập tuyến giao liên đường bộ thì Bộ gọi tôi lên giao nhiệm vụ nghiên cứu mở thêm tuyến vận tải trên biển. Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh nói với tôi: “Đúng là rất mạo hiểm, khó khăn, nhưng cũng chính vì vậy mà kẻ địch sơ hở, chủ quan. Ta nên triệt để khai thác điều đó. Vả lại, chỉ cần một vài chuyến đi trót lọt, cũng bằng hàng nghìn người mang vác đường rừng, lại vào được tận Nam Bộ”…

Theo đó, tháng 7-1959, tiểu đoàn vận tải biển 603 VC được thành lập, đóng tại cửa biển sông Gianh-Quảng Bình, với tên gọi là “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”. Khẩn trương và bí mật là hai “yêu cầu” gắt gao nhất. Thuyền phải giống thuyền đánh cá của ngư dân miền Nam, từ hình dáng đến ngư cụ. Thậm chí vải buồm, dây thừng cũng nhờ trong đó mua chuyển ra. Một số cán bộ VC Khu Năm cũng được điều động ra bổ sung cho đơn vị để khi gặp địch ứng xử cho “y chang” ngư dân Nam Trung Bộ. Trong đó có Huỳnh Ba, người Quảng Nam, giấy căn cước giả mang tên Nguyễn Nửa. Sau một thời gian tập luyện, thăm dò và chuẩn bị mọi mặt, đêm ba mươi Tết Canh Tý (27-1-1960), chuyến tàu đặc biệt đầu tiên xuất phát do Nguyễn Bất chỉ huy.

Những người ở lại bồn chồn chờ đợi. Một ngày, hai ngày… rồi một tháng, hai tháng… vẫn bặt vô âm tín. Ở miền Nam thông báo không đón được tàu.

Chuyến đi đầu tiên không thành. Sau này, Nguyễn Bất từ nhà tù Côn Đảo trở về kể lại: Xuất phát được một hôm thì tàu gặp gió lớn chuyển hướng, dạt vào đảo Lý Sơn-Quảng Ngãi. Loay hoay thoát nạn thì gặp phe Việt Nam Cộng Hòa tuần tiễu, đành phải phi tang để giữ bí mật. Cả sáu người bị phe Việt Nam Cộng Hòa bắt, tuy không khai thác được gì nhưng phe Việt Nam Cộng Hòa vẫn giam cầm mỗi người một nơi…

Sau ngày 30-04-1975, VC đã cố sức tìm kiếm nhưng vẫn không rõ tung tích những người còn lại. Mãi gần đây, một nhà văn hải quân VC mới lần tìm được một người nữa và có lẽ cũng là người duy nhất còn sống sót vì Nguyễn Bất cũng đã từ trần. Người đó chính là Huỳnh Ba, tức Nguyễn Nửa, nay đã ngoài 80 tuổi, sống ở quê nhà…

Đến “Đoàn tàu không số”

taukhongso2
VC tiếp nhận vũ khí từ “tàu không số” ở Năm Căn- Cà Mau

Chuyến vận tải đầu tiên của “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” không thành công nhưng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mở đường trên biển. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương VC chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ chuẩn bị bến bãi và cử những chiếc thuyền vượt biển ra miền Bắc, vừa thăm dò mở đường, vừa trực tiếp báo cáo tình hình chiến trường. Tổng cộng đã có 5 đoàn thuyền của các tỉnh vượt biển ra miền Bắc thành công. Đó là cơ sở quan trọng để ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng VC ra quyết định thành lập Đoàn vận tải 759, còn gọi là “Đoàn tàu không số”, có nhiệm vụ vận tải chi viện cho miền Nam bằng đường biển. Đến tháng 1-1964, đoàn 759 được đổi thành đoàn M25 trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân VC.

Ngày 16-2-1965, một chiếc tàu không số vào đến Vũng Rô thì bị Việt Nam Cộng Hòa phát hiện và tấn công. “Đường Hồ Chí Minh trên biển” bị lộ. Việt Nam Cộng Hòa tiến hành phong tỏa ráo riết các cảng miền Bắc và bịt chặn các đường biển vào Nam. Từ đó, những chuyến hàng của “Đoàn tàu không số” phải cải dạng thành tàu hàng, tàu đánh cá nước ngoài, xuất phát từ nhiều bến dã chiến và phải hành trình theo hải đồ quốc tế. Nhiều chuyến không thể vượt qua sự đeo bám, ngăn chặn quyết liệt của Mỹ, buộc nổ súng chiến đấu và hủy tàu. Nhiều người chết từ những “Đoàn tàu không số” . Tiêu biểu như Phan Vinh.

phanvinh
Phan Vinh, một trong vô số cán bộ VC bị chết trên biển.

Trong muôn vàn những câu chuyện được kể lai về “Đoàn tàu không số”, có một sự kiện gần đây được chắp nối, chứng minh. Đó là câu chuyện về “tàu không số” (thực chất là số hiệu C43) bị Việt Nam Cộng hòa tấn công ngày mồng một Tết Mậu Thân (1-3-1968) ở vùng biển Quảng Ngãi, đã được một số người ở Đức Phổ-Quảng Ngãi cưu mang và nữ bác sĩ Đặng T. Trâm cứu chữa, vượt Trường Sơn trở ra miền Bắc, tiếp tục những chuyến vận tải vũ khí về Nam…

Ghi chú:

– Bài viết trên đây được trích đăng trên trang nhà “Lịch Sử Việt Nam” của tác giả Trịnh Quốc Thiên

– Trong tài liệu ghi chú dưới tấm hình ghi: “Tàu không số của “Hải quân Bắc Việt” vận tải hàng vào miền Nam do vệ tinh quân sự Mỹ chụp.”

taukhongso1
“Tàu không số của Hải-quân Bắc Việt vận tải hàng vào Miền Nam do vệ tinh quân sự Mỹ chụp

Điều này cho thấy Hoa Kỳ biết và theo dõi các hoạt động của Cộng Sản trên biển mà họ gọi là “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”. Trên rừng Trường Sơn khó phát giác và khó ngăn chận hơn trên biển. Một chiếc tàu không số xuất phát từ miền Bắc làm sao qua mắt được máy bay và vệ tinh quân sự Mỹ. Thế nhưng tại sao hàng ngàn tấn vũ khí của Cộng Sản lại có thể vượt đường biển vào Nam mà không bị chận bắt?

Khi tàu xâm nhập bị phát giác trên biển rộng mênh mông không địa đạo, không rừng núi thì làm sao thoát. Vệ tinh quân sự Mỹ đã chụp được những chiếc ghe, tàu từ miền Bắc xâm nhập miền Nam, và họ có chuyển tin tức này cho tình báo VNCH hay không? Hàng ngàn chuyến hàng đã lọt vào miền Nam từ đường biển dưới mắt của vệ tinh quân sự Mỹ. Đây là một nghi vấn cần đặt ra, cũng như tại sao Hoa Kỳ gần như để mặc cho các sư đoàn Bắc quân tiến quân vô Nam, đồng thời muốn bó tay QLVNCH trong khả năng phản công ra Bắc?!

(“Phía VNCH không hề biết rằng trong những cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ ngày 16/8/1971, Hoa Kỳ đã hứa rút hết quân đội Mỹ trong vòng 9 tháng, sau khi có hiệp định…”/Trích Hồ sơ mật Dinh Độc Lập trang 29, phân đoạn 2/Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter.)

Cũng xin ghi nhận thêm, chiếc tàu không số của Cộng Sản từ miền Bắc xâm nhập vô Nam bị bắt ở Vũng Rô, Khánh Hòa hoàn toàn do Hải quân QLVNCH phát giác. Người ta có lý do nghi ngờ người Mỹ đã dấu VNCH về những tin tức mà họ biết được liên quan tới những chuyến xâm nhập bằng “đường mòn HCM trên biển” vì âm mưu chiến lược của Hoa Kỳ, như ngày nay chúng ta được biết nội dung các cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ năm 1971 và sau đó với Chu Ân Lai năm 1972: Bỏ rơi miền Nam Việt Nam cho Cộng Sản.

Trong suốt cuộc chiến đăng đẳng hơn 3 thập niên, CSVN đã hy sinh bừa bãi, hy sinh quá nhiều thanh niên miền Bắc Việt Nam với chiến thuật biển người thí quân trên các mặt trận miền Nam, nếu tất cả những thương binh được đưa về Bắc thì Hà Nội không đủ bệnh viện để chứa, Hà Nội sẽ tràn ngập những phế binh thương tật… Nhưng tại miền Bắc thì sao? Rất ít thương binh, trừ những thương binh trong trận chiến Hoa Việt 1978 – 1979. Thương binh từ chiến trường miền Nam đẫm máu và ác liệt chắc chắn phải là con số vô cùng lớn lao, nhưng tại sao họ vắng mặt trên đất Bắc? Câu trả lời vì sao, độc giả có thể đoán được.

Điển hình là trong trận đánh giữa Chi đoàn 1/8 Chiến xa của Thiết Kỵ Lê Quang Vinh với cả Trung đoàn quân Bắc Việt. Trận chiến ác liệt trên 3 ngọn đồi trọc gần căn cứ Alpha trên đất Lào trong chuyến hành quân đoạn hậu đơn độc (gần như bị hy sinh, bị bỏ rơi …) để bảo vệ đoàn quân hàng ngàn người thuộc các đơn vị lui quân trên đường 9 Nam Lào về Lao Bảo ( cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971), trong trận tập kích đó, nguyên gần 2 tiểu đoàn Bắc quân bị quét sạch, xóa sổ. Con số thương vong của Bắc quân tại chiến trường trong trận đánh này phải nói là vô cùng nhiều, nhưng theo lời thân nhân anh Vinh tại miền Bắc kể lại khi thăm nuôi anh lúc anh ở tù ngoài Bắc sau 75, thì các đơn vị Cộng Sản đánh thiết giáp VNCH trên 3 ngọn đồi trên không một ai còn sống, kể cả mấy người anh em bà con anh Vinh trong đơn vị Bắc quân. Con số thương binh chắc chắn không nhỏ, nhưng họ biến đi đâu mà không ai được trở về đất Bắc?!

(Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử tập 2 năm 2006/ Chi Đoàn 1/8 Chiến Xa và đường vào Nam Lào oan nghiệt/ Trang 192 – 216/ Việt Nam xuất bản)

Hàng trăm thương binh bộ đội trong trận này liệu có mấy ai còn sống đến ngày nay? Thân nhân những người bô đội tội nghiệp này có bao giờ nghĩ đến thảm cảnh con em thương binh của họ bị “truy điệu sống” và tàn sát để các đơn vị rãnh tay lui quân hay không? Thương binh CSVN sau 1975 đa phần là thanh niên miền Nam bị lùa đi nghĩa vụ quân sự và thanh niên xung phong trên chiến trường Miên – Việt Cộng.

Cuộc tàn sát thương binh trên đất Bắc
năm xưa trong cuộc chiến tranh Việt Pháp (?)

Chuyện Cộng Sản Việt Nam tàn sát thương bệnh binh của họ trong chiến tranh Việt Nam trước 1975 dường như nó có nguồn gốc lâu hơn, xa hơn, phát xuất từ chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo. Hay nói rõ hơn, thảm trạng giết thương binh dã man để trút bỏ gánh nặng chiến trường, gánh nặng chính trị, gánh nặng xã hội… phải do chính Hồ Chí Minh chỉ đạo. Tôi xin trích một đoạn tài liệu sau đây:

… “Lúc ông Hồ trở về Hà Nội, không rõ bộ Thương Binh Liệt Sĩ đã kiểm kê được bao nhiêu tử sĩ, thương binh, đến nay vẫn chưa công bố rõ rệt. Riêng Điện Biên Phủ, theo tài liệu của Pháp, Viêt Minh bị thiệt hại khoảng 20.000 người, một nửa bị chết (*). Theo ước lượng của một nhân viên Bộ Thương Binh, tính vào cuối năm 1957, số thương binh còn sống rất ít, một điều rất lạ lùng là không còn bao nhiêu thương binh qua các trận lớn như Vĩnh Phúc Yên, Mạo Khê, Bờ sông Đáy và Điện Biên. Ty Thương Binh ( Xã Hội Lao Động) là ty nhàn nhạ nhất ở các tỉnh…”

(Việt Nam 30 Năm Khói Lửa – Cuộc chiến tàn sát thương binh lần thứ nhất 1945 -1963/ Cao Thế Dung/ trang 438 – 439/ nhà xuất bản Alpha 1991 phát hành)

(*) H.Navarre, Sđd.tr228 – 229: Theo Vĩnh Thiều, một cán bộ Viêt Minh tập kết ra Bắc và ông Phạm Đình Sơn, một người tham dự trận Điện Biên Phủ đồng ý và công nhận về điều nói ở trên.

Như vậy, vô số thương binh nói trên biến đi đâu trong cuộc chiến tranh năm xưa đến cuộc chiến tranh tại miền Nam Viẹt Nam là một câu hỏi phải đặt ra, và chúng ta đã có thể hay có lý do nói rằng đó là chủ trương có chỉ đạo từ Hồ Chí Minh và Chính Trị Bộ đảng Cộng Sản Việt Nam.

Những bi thảm, dã man về vụ giết thương binh trong phần này chính là một trong những tội ác của đảng CSVN mà thời gian và lịch sử chưa được khai quật ra ánh sáng, và dĩ nhiên Đặng Thùy Trâm và bạn bè thuộc thế hệ của Trâm không làm sao có thể biết được những u khuất man rợ này trước ngày Trâm nhắm mắt.

Tổ Quốc ơi! Sắp tới giờ khai vận
Đứng dậy ta đi! Đã đến lúc lên đường
Cuộc khởi hành tiếp tự thuở hồng hoang
Căng mạch sống tin yêu
Ta đi về phía trước

Trần Thúc Vũ

—>Xem tiếp…

Trở về Mục Lục

This entry was posted in HẢI TRIỀU: Máu và Nước Mắt Trên Lưng Trường-Sơn, Sự Thật, Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.

3 Responses to MÁU VÀ NƯỚC MẮT TRÊN LƯNG TRƯỜNG-SƠN (Hải Triều)

  1. otajunya says:

    buon cho dat nuoc VIET NAM , duoi su lanh dao , cai tri boi LE CHIEU THONG cua the ky 20 ….

    Liked by 1 person

  2. linh says:

    xin ban bien tap hay ra nhieu tac pham hay tren bao ve co vang hon nua toi la khan gia thuong xuyen doc cac tac pham tren day thuc su rat hay

    Liked by 1 person

  3. Lão Nông says:

    Thưa chị Lê Thy,
    Tôi (nick: Lão Nông) là một độc giả trong nước(sinh ra & sống ở MB), và thường xuyên vào đọc baovecovang. Nhờ công sức và tâm huyết của chị mà tôi mới được đọc các tác phẩm, các bài viết của những tác giả, của những con người đã và đang còn nặng tình với đất nước Việt đầy điêu linh khói lửa. Tôi đã đọc Đường đi không đến, Xương trắng Trường Sơn, Mạng người lá rụng v.v. của cố nhà văn Xuân Vũ. Tôi đã đọc Thép đen của bác “biệt kích” Đặng Chí Bình. Tôi đã đọc, đọc nhiều của bác Minh Võ. Tôi đã đọc “Ngục sỹ” Nguyễn Chí Thiện v.v.
    Nước mắt tôi cũng đã đổ trên những con chữ của những con người đáng kính đó!
    Vì vậy, thưa chị Lê Thy, xin thành tâm gửi tới chị lời cảm ơn trân trọng! Máu và Nước Mắt Trên Lưng Trường Sơn, Máu và Nước Mắt trên trùng khơi hải đảo, Máu và Nước Mắt trên các dẻo cao, ở các thôn cùng xóm tận. Máu và Nước Mắt trong các ngục tù CS. Máu và Nước Mắt trên khắp dải đất hình chữ S tội nghiệp thân thương; Và cả Mồ hôi và Nước Mắt trên các trang viết; đã, đang và sẽ còn đổ nữa!
    Hôm nay, 14-Mar-2013, ngày giỗ thứ 25 của các tử sĩ trong trận chiến Trường Sa, bãi Gạc Ma thuộc nhóm đảo Sinh Tồn. Tưởng vọng oan hồn các tử sĩ miền Bắc, tôi cũng tưởng vọng đến hương hồn các tử sĩ, hải quân VNCH. Tất cả họ đều cùng máu đỏ da vàng, cùng quyết tử với ngoại thù Đại Hán.
    Cái chết của quân nhân ở hải chiến Hoàng Sa, súng đấu súng, thật oanh liệt, bi hùng tráng!
    Cái chết của quân nhân ở hải chiến Trường Sa cũng rất oanh liệt bi hùng, nhưng có phần oan phẫn vì “thượng lệnh” không cho phép họ mang theo vũ khí, phải hỗn chiến tay không đối địch!
    Xin gửi, qua baovecovang, một bài thơ mộc mạc, như một nén tâm nhang tri ân dâng khấn các anh hùng sả thân vì nước, vì cả Trường Sa và Hoàng Sa.
    /.

    GẠC MA HỒN TỬ SĨ
    . . .
    (giờ này, ngày này, năm 1988, những người trai cảm tử ấy đã đến trùng khơi bãi đá này… GẠC MA!
    64 chiến sĩ không trở về. Họ đã hiến thân, dâng tuổi trẻ, đền nợ nước. Ngày tưởng niệm, cầu mong hương hồn(hay oan hồn?) các anh, cùng hương hồn các tử sĩ hải quân VNCH, hi sinh tại Hoàng Sa 1974, bởi cùng một quân thù, hội tụ Lạc Hồng, an ủi nhau, tay nắm lấy bàn tay và cùng hướng về đất liền Tổ quốc, sống khôn thác thiên phù hộ con dân, tộc Việt gìn giữ non sông, phục hưng xã tắc!
    Gửi khói tâm nhang, Lão Nông kính khấn!)
    . . .

    Họ từ đi vào nơi trắc trở
    Chặng hải hành nằm nhớ quê xa…
    Đèn dầu khêu bấc mẹ già
    Đêm dài trở giấc ngồi ra têm trầu…

    Những người vợ mắt màu ly biệt
    Nàng lại chàng bên chiếc nôi đay
    Bàn tay ấm, ấm bàn tay
    Bàn tay con ấm, ấm tay tay nàng…

    Bạn xóm làng, em trai, chị gái
    Câu biệt ly, chúc vội lên đường
    Người thương gọi tiễn người thương
    Lời lên bến, tiếng xuống thuyền, vang vang…
    . . .
    Tàu neo lại, đèn vàng ảm đạm
    Ngày Mười Tư, 88, Tháng Ba
    Sinh Tồn, Bãi Đá Gạc Ma
    Xuồng hạ mặt nước, người ra tay chèo

    Buổi sớm ấy thủy triều đảo ngập
    Biển mênh mông, gió bấc heo may
    Ngâm mình, tay nắm chặt tay
    Vòng người, chính gữa tung bay quốc kỳ!

    Giặc nhác thấy Việt kỳ phấp phới
    Mấy bóng xuồng chấp chới đằng đông
    Xa hơn, Hán hạm tàu đồng
    Gầm gừ, dọa, dứ nhìn không rõ người

    Ba …, năm …, bảy …, rồi mười phút tiếp
    Sắc Hán ngồi mấy chiếc xuồng nhôm
    Nhăm nhe, lượn lượn, gờm gờm
    Chĩa lê lạnh thép, cảnh nom hãi hùng

    Bỗng súng nổ đùng đùng xối xả
    Vòng tròn người chao, ngả, rùng rùng
    Đạn găm đầu thiếu úy Phương
    Cây bia sống, giữa chiến trường? tay không!

    Nào ai có mình đồng da sắt
    Khắp người anh, đầu, mặt, bàn tay
    Máu phun đỏ nước kinh thay
    Phương gục đổ, vẫn cầm tay, cán cờ!

    Giặc lội xuống cướp cờ hỗn chiến
    Máu đỏ loang nước biển chuyển hồng
    Vòng tay cảm tử thành đồng
    Lê xuyên mặn buốt, quyết không mất cờ!

    Độ nửa giờ đôi co giằng giật
    Giặc lên xuồng lùi bật xa xa
    Thế rồi sấm chớp chói lòa
    Tàu đồng nã pháo Gạc Ma sóng dồn

    Những cột trắng cao hơn chục thước
    Xác dập dềnh mặt nước như phao
    Không gươm súng, chẳng giáp bào
    Sống : làm bia sống! thác? trao sóng hồn

    Kể từ ấy, chập chờn khói sóng
    Biển tím bầm ai ngóng chiều buông
    Khói trùng dương, ánh tà dương
    Hồn âm dõi bóng người dương một mình

    Hồn tử sỹ hiện linh giọng uất
    Chốn sa trường còn mất lẽ thường
    Hận điều ám ảnh còn vương
    Ai …,
    trao quân lệnh …,
    chẳng trao thương, chiến bào?

    Biển rì rào, lao xao sóng gợn
    Gió thì thầm rờn rợn bầu không
    Nặng lòng quả phụ sầu đong
    Sinh Tồn tử khí, mây bông tím bầm

    Nỗi phu phụ dương âm cách trở.
    Lý vô thường đất lở sông bồi,
    Phù du bèo dạt mây trôi.
    Niềm tây cô phụ trọn đời khôn ngoai!

    viết xong lúc: 04:47 AM, 14-Mar-2013,
    LN.

    Liked by 1 person

Comments are closed.