MÁU VÀ NƯỚC MẮT TRÊN LƯNG TRƯỜNG-SƠN (Hải Triều)

Sứ Mệnh Lịch Sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

GS Nguyễn Thế Tiến

(Để đóng góp thêm những dữ kiện tích cực tăng cường các luận điểm trong tác phẩm “Máu và nước mắt trên Lưng Trường Sơn” nhằm bác bỏ những tuyên truyền của CSVN trong tác phẩm Nhật Ký Đặng Thùy Trâm, chúng tôi mạn phép chạy đăng vào phần phụ trương bài nói chuyện của GS Nguyễn Thế Tiến tại cuộc Hội thảo chính trị tại Vietnam Center ở Lubbock, Texas vào 2 ngày 17 & 18/3/2006/Vietnamese Spring 2006 Conference/ARVN: Fleetions and Reassessments after 30 years / video section 1.30PM-3.00PM – Session7: The Death of the South Vietnamese Army với moderator:Jay Veith, diễn giả CPT Do Kiem, Hai Trieu, Nguyen The Tien.) (*)

Bài nói chuyện của GS Nguyễn Thế Tiến, một cựu giáo sư Đại Học Bách Khoa Hà Nội và các diễn giả được lưu trong video/audio trong trang nhà www.ttu.edu> search Vietnam Center>Vietnamese Spring 2006 Conference>Session7.

Gs Tiến nói chuyện bằng tiếng Anh, cùng lúc phổ biến bản tiếng Việt. Để tôn trọng ý của tác giả, chúng tôi quyết định chạy nguyên văn bài viết của Gs Tiến với những chữ được dùng có dụng ý khi viết tên “hồ”, “mao”, “đồng” viết bằng chữ thường (không viết hoa).

Bài viết như sau:

Với tư cách của một cựu giảng viên đại học 27 năm trong chế độ “hồ-cáo”, tôi xin phép qúi vị được đóng góp ý kiến trên quan điểm triết lý, đạo lý, lịch sử và đưa ra một vài sự thật mà tôi nghĩ rằng quí vị chưa được nghe.

I. Sứ Mệnh Lịch Sử của Việt Nam Cộng Hòa:

“Việt Nam Cộng Hòa” và “Việt Nam dân chủ cộng hồ” song song tồn tại từ 1956 đến 1975 trong hoàn cảnh chiến tranh nóng và lạnh giữa Thế Giới Tự Do do Hoa Kỳ đứng đầu và phe cộng sản do Liên Xô lãnh đạo. Suốt hai chục năm trời, VNCH đã ngoan cường chiến đấu để giữ nền độc lập dân tộc theo tinh thần quốc gia truyền thống, đồng thời góp phần bảo vệ và củng cố TGTD (thế giới tự do/ ghi chú của Hải Triều). Ngược lại, VNDCCHỒ (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa/ghi chú của Hải Triều), dưới danh nghĩa bịp bợm là chống đế quốc Mỹ xâm lược, thực chất là đem nướng xương máu dân Việt để cho Nga cho Tàu hưởng lợi.

Đối với sự hưởng lợi của Nga, tôi xin dẫn chứng bằng lời nói tổng kết vào đầu tháng 9/ 1975 cuả ông Hoàng Tùng – khi đó là tổng biên tập báo Nhân Dân – trước hơn 1000 đảng viên và thầy giáo của trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội : “Trong cuộc chiến này, Mỹ đã tiêu tốn mấy trăm tỷ US-dollars mà chưa lấy về được một dollar nhỏ nào cả. Ngược lại, Nga chỉ bỏ ra 4 tỷ dollars mà đã thu về được 9 tỷ dollars tiền mặt do Hoa Kỳ bị chảy máu dollars. Ngoài ra, cuộc chiến Việt Nam đã kìm chân Mỹ để cho Nga có điều kiện vượt lên trong lĩnh vực du hành vũ trụ. Thêm nữa, Nga được hưởng lợi về các bí mật kỹ thuật, như là các thiết bị của hàng rào điện tử, các bí mật trong máy bay cánh cụp cánh xòe và trong máy bay B52.”

Còn Trung Hoa hưởng lợi thế nào? Năm 1956, đi dự Đại hội Đảng Liên Xô lần 20 về qua Bắc Kinh, “hồ” đã bị “mao” giam lỏng để có bằng được thỏa thuận về “hữu nghị quan” thì mới được về nước. “Bản tuyên bố về thềm lục địa của Tàu” năm 1958 đã được “hồ” và “đồng” gởi công văn thừa nhận; hồ và đảng hồ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về việc bán biển của Việt Nam cho Tàu từ đấy! Khoảng năm 1969-70, nhà sử học Trần Huy Liệu, trước khi lià đời đã trăn trối lại rằng: “Đừng lo phương Tây, hãy lo phương Bắc. Phương Tây đến, phương Tây đi; phương Bắc đến, phương Bắc ở!”

Năm 1974, “đảng và chính quyền hồ” đã “trao Hoàng Sa của Việt Nam cho Tàu” giữ giùm, tức là đã bán đứng Hoàng Sa cho Tàu. Những năm gần đây, Tàu cộng đã cướp được 700 Km2 đất dọc biên giới Việt Trung, đã cướp không 11,000 Km2 trên biển của Việt Nam.

Tổng hợp lại, Tàu Hán bành trướng đã tóm được gáy Việt Nam rồi! Đó là tội muôn đời của “hồ” và của “đảng hồ” đối với tổ quốc và dân tộc. Tổng Thống Ngô Đình Diệm lập ra VNCH và đưa Việt Nam đi theo qũy đạo Hoa Kỳ là đúng theo “Luật Tiến Hóa nghĩa rộng” và đúng với như câu châm ngôn của Việt Nam: “Ở với nhà giàu, đau răng ăn cốm; ở với kẻ khốn, ốm lưng chịu đòn”. Nếu VNCH không tồn tại trong bấy nhiêu năm, với cái đà bán nước dâng dân của “hồ” và của “đảng hồ” như thế, thì cả nướcViệt Nam có thể bị đã Tàu nuốt từ lâu rồi! Ngày nay Việt Nam chẳng còn gì để mà gìn giữ, khôi phục và phát triển nữa!

II. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa là cái cột cái của tòa nhà Việt Nam Cộng Hòa.

1. Kỳ tích oanh liệt của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi xin kể ba câu chuyện minh họa. Mặc dù gian manh lật lọng, quân Cộng Sản Bắc đã bị Quân Lực VNCH đánh cho thảm bại về quân sự trong chiến dịch Tết Mậu Thân. Tôi xin đưa ra đây mấy dẫn chứng.

– Trong tháng 12/ 1967, các cán bộ người miền Nam đã được chuẩn bị sẵn sàng về Nam các cơ quan sẽ được tiếp nhận; chuyện đó đã được cho lặng lẽ chìm xuồng cuối mùa xuân 1968.

– Trong nửa cuối năm 1968, các sĩ quan cấp úy và cấp tá được chuyển ngành về các cơ quan dân sự và về các xí nghiệp rất đông. Một thiếu tá (anh bạn rể của tôi) đã cho tôi biết lý do là: các sĩ quan đó đã mất tinh thần trong chiến dịch Tết Mậu Thân, nên phải thay thế họ.

– Tháng 12/ 1968, tôi gặp một sĩ quan tùy tùng trẻ trong sư đoàn bộ cuả sư đòan quân Bắc đánh Huế. Cậu này cho tôi hay rằng, sau khi bị đẩy ra khỏi Huế rồi và bị chặn mất đường về, sư đoàn đó đã phải vòng xuống Nam Lào để rồi ra Bắc. Khi ra được đất Bắc rồi thì quân số của nó chỉ còn 800. Sau đó, ngoài Bắc đã vét tuyển tân binh xuống đến 15-16 tuổi và lên đến tuổi 30.

(Chi tiết này hoàn toàn phù hợp với nội dung bài thơ “Ai? Tôi!” của Chế Lan Viên ở ngay 2 câu đầu: “Mậu Thân, 2 ngàn người xuống đồng bằng. Chỉ một đêm còn sống có ba mươi…”/ Xem trang 16/ “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn”.)

2. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn xứng đáng với niềm tự hào đã giữ cho Việt Nam Cộng Hòa đứng vững trong 20 năm trước sức mạnh tổng hợp của toàn khối CS thế giới, bảo tồn được bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hơn nữa, mặc dù trong điều kiện chiến tranh, VNCH vẫn phát triển được một nền kinh tế thịnh vượng vào bậc nhất trong vùng Đông Nam Á Châu. Chính Cộng Sản Bắc đã phải giật mình và rất nhiều cán bộ cộng “hồ” đã “phản tỉnh” khi vào Sài Gòn năm 1975.

Cuộc chiến đấu anh hùng của QLVNCH trong hơn 20 năm trời đã đóng góp xứng đáng vào sự việc làm sụp đổ các nước XHCN Đông Âu và Liên Sô những năm 1789 – 1990.

[Toàn gia đình 3 thế hệ (vợ, chồng, con cái, dâu rể và các cháu) đều đã thoát khỏi gông cùm Cộng Sản hồ-cáo và đang được sống trong thế giới tự do Âu-Mỹ. Tôi mang nặng công ơn của Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (như tôi đã phát biểu trên diễn đàn Đại Hội Tập Thể Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa toàn Canada, tháng 11/ 2004, tại Vancouver. VỚI LÒNG BIẾT ƠN SÂU NẶNG, VỚI LÒNG KÍNH PHỤC CHÂN THÀNH, và VỚI LÒNG KHIÊM CUNG ĐẦY ĐỦ, tôi xin phát biểu một vài đề xuất trong phần cuối của bài diễn văn này. Tôi thật tình mong mỏi nhận được sự thông cảm cuả quí vị.]

III. Nhiệm vụ và hành động trước mắt của Tập thể Cựu Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa nóí chung, và của TTCCS Việt Nam Cộng Hòa nói riêng, với tư cách hạt nhân trong sự nghiệp tranh đấu chính trị với Cộng Sản hồ-cáo và trong vai trò phối hợp chiến lược chiến thuật với Hoa Kỳ.

1. Chúng ta phải khẳng định bằng được ở các thế hệ trẻ (dưới 60 tuổi) sự hy sinh to lớn và vinh dự lớn lao của Việt Nam Cộng Hòa và của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho dân tộc Việt Nam và cho Thế Giới Tự Do.

2. Chúng ta phải nuôi cho được ở các thế hệ trẻ Việt Nam Hải Ngoại cái quyết tâm quyết chí đi tiếp con đường của cha anh:

– Khuyến khích các thế hệ trẻ học và nghiên cứu “chiến lược chiến thuật chính trị và quân sự” chớ không chỉ tập trung vào khoa học kỹ thuật và kinh tế. + bằng tài trí, vận dụng phương pháp hòa bình tranh đấu hóa giải bằng được chế độ “độc đảng trị mác-lê-hồ” ở Việt Nam.

– Kiên quyết không mắc bẫy “hòa hợp hòa giải” cuả chúng, để Cộng Sản lợi dụng trí tuệ và tiền vốn cuả Cộng Đồng Việt hải ngoại nhằm củng cố chế độ độc tài đảng trị hiện hữu trong nước.

– Bẻ gẫy mọi thủ đoạn thực thi cái nq.36 thâm độc của chúng tại hải ngoại.

Tôi nghĩ rằng, nếu chúng ta chỉ “ôn cố” mà “không tri tân” thì đám Cộng Sản chóp bu độc tài sẽ còn khư khư thay nhau “ôm chân Tàu”; và do đó Việt Nam sẽ thành nô lệ cuả Tàu trong thế kỷ này!

3. Chúng ta phải tạo cho được sự hợp đồng của các cơ sở theo sự chỉ đạo của trung ương; ít nhất là trong TTCCS Việt Nam Cộng Hòa. Cộng Sản hồ rất gian manh quỷ quyệt, có chính quyền độc tài công an trị trong tay, có kế hoạch đào tạo các lớp con cháu kế thừa, có Tàu cộng chỉ đạo sát sao. Nếu chúng ta cứ phân tán, không ngồi lại được với nhau, không có bộ tham mưu chính trị chung, không có được sự phối hợp chặt chẽ với chiến lược của Hoa Kỳ, không tạo dựng được lực lượng kế thừa, thì làm sao thành được nghiệp lớn khi thời cơ tới!

Xin hãy nhìn gương Israel, sau 2000 năm người ta còn dựng lại được nước! Xin hãy khắc ghi lời dạy của tổ tiên “Trồng tre nên gậy; nuôi dưỡng cháu con rửa nhục hờn” để áp dụng với “Cộng Sản hồ” và với “Tàu bành trướng”!

4. Cuộc chiến Nam-Bắc đã kết thúc hồi tháng 4/ 1975; sứ mệnh bảo vệ tổ quốc và dân tộc Việt Nam trước nguy cơ Tàu Hán bành trướng vẫn còn nguyên đó, sứ mệnh xoá ách thống trị trên toàn dân cuả nền độc tài độc đảng (Cộng Sản) trị vẫn đè nặng trên tâm tư tình cảm của những người quốc gia chân chính – đặc biệt là các “SĨ PHU HƯŨ TRÁCH CỦA DÂN TỘC”!!!

Chúng tôi xin hết lời ở đây.

Xin kính chúc qúi vị luôn mạnh khỏe, chân cứng đá mềm trên con đường tranh đấu và tìm kiếm sự thật lịch sử.

GS Nguyễn Thế Tiến

—>Xem tiếp…

Trở về Mục Lục

This entry was posted in HẢI TRIỀU: Máu và Nước Mắt Trên Lưng Trường-Sơn, Sự Thật, Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.

3 Responses to MÁU VÀ NƯỚC MẮT TRÊN LƯNG TRƯỜNG-SƠN (Hải Triều)

  1. otajunya says:

    buon cho dat nuoc VIET NAM , duoi su lanh dao , cai tri boi LE CHIEU THONG cua the ky 20 ….

    Liked by 1 person

  2. linh says:

    xin ban bien tap hay ra nhieu tac pham hay tren bao ve co vang hon nua toi la khan gia thuong xuyen doc cac tac pham tren day thuc su rat hay

    Liked by 1 person

  3. Lão Nông says:

    Thưa chị Lê Thy,
    Tôi (nick: Lão Nông) là một độc giả trong nước(sinh ra & sống ở MB), và thường xuyên vào đọc baovecovang. Nhờ công sức và tâm huyết của chị mà tôi mới được đọc các tác phẩm, các bài viết của những tác giả, của những con người đã và đang còn nặng tình với đất nước Việt đầy điêu linh khói lửa. Tôi đã đọc Đường đi không đến, Xương trắng Trường Sơn, Mạng người lá rụng v.v. của cố nhà văn Xuân Vũ. Tôi đã đọc Thép đen của bác “biệt kích” Đặng Chí Bình. Tôi đã đọc, đọc nhiều của bác Minh Võ. Tôi đã đọc “Ngục sỹ” Nguyễn Chí Thiện v.v.
    Nước mắt tôi cũng đã đổ trên những con chữ của những con người đáng kính đó!
    Vì vậy, thưa chị Lê Thy, xin thành tâm gửi tới chị lời cảm ơn trân trọng! Máu và Nước Mắt Trên Lưng Trường Sơn, Máu và Nước Mắt trên trùng khơi hải đảo, Máu và Nước Mắt trên các dẻo cao, ở các thôn cùng xóm tận. Máu và Nước Mắt trong các ngục tù CS. Máu và Nước Mắt trên khắp dải đất hình chữ S tội nghiệp thân thương; Và cả Mồ hôi và Nước Mắt trên các trang viết; đã, đang và sẽ còn đổ nữa!
    Hôm nay, 14-Mar-2013, ngày giỗ thứ 25 của các tử sĩ trong trận chiến Trường Sa, bãi Gạc Ma thuộc nhóm đảo Sinh Tồn. Tưởng vọng oan hồn các tử sĩ miền Bắc, tôi cũng tưởng vọng đến hương hồn các tử sĩ, hải quân VNCH. Tất cả họ đều cùng máu đỏ da vàng, cùng quyết tử với ngoại thù Đại Hán.
    Cái chết của quân nhân ở hải chiến Hoàng Sa, súng đấu súng, thật oanh liệt, bi hùng tráng!
    Cái chết của quân nhân ở hải chiến Trường Sa cũng rất oanh liệt bi hùng, nhưng có phần oan phẫn vì “thượng lệnh” không cho phép họ mang theo vũ khí, phải hỗn chiến tay không đối địch!
    Xin gửi, qua baovecovang, một bài thơ mộc mạc, như một nén tâm nhang tri ân dâng khấn các anh hùng sả thân vì nước, vì cả Trường Sa và Hoàng Sa.
    /.

    GẠC MA HỒN TỬ SĨ
    . . .
    (giờ này, ngày này, năm 1988, những người trai cảm tử ấy đã đến trùng khơi bãi đá này… GẠC MA!
    64 chiến sĩ không trở về. Họ đã hiến thân, dâng tuổi trẻ, đền nợ nước. Ngày tưởng niệm, cầu mong hương hồn(hay oan hồn?) các anh, cùng hương hồn các tử sĩ hải quân VNCH, hi sinh tại Hoàng Sa 1974, bởi cùng một quân thù, hội tụ Lạc Hồng, an ủi nhau, tay nắm lấy bàn tay và cùng hướng về đất liền Tổ quốc, sống khôn thác thiên phù hộ con dân, tộc Việt gìn giữ non sông, phục hưng xã tắc!
    Gửi khói tâm nhang, Lão Nông kính khấn!)
    . . .

    Họ từ đi vào nơi trắc trở
    Chặng hải hành nằm nhớ quê xa…
    Đèn dầu khêu bấc mẹ già
    Đêm dài trở giấc ngồi ra têm trầu…

    Những người vợ mắt màu ly biệt
    Nàng lại chàng bên chiếc nôi đay
    Bàn tay ấm, ấm bàn tay
    Bàn tay con ấm, ấm tay tay nàng…

    Bạn xóm làng, em trai, chị gái
    Câu biệt ly, chúc vội lên đường
    Người thương gọi tiễn người thương
    Lời lên bến, tiếng xuống thuyền, vang vang…
    . . .
    Tàu neo lại, đèn vàng ảm đạm
    Ngày Mười Tư, 88, Tháng Ba
    Sinh Tồn, Bãi Đá Gạc Ma
    Xuồng hạ mặt nước, người ra tay chèo

    Buổi sớm ấy thủy triều đảo ngập
    Biển mênh mông, gió bấc heo may
    Ngâm mình, tay nắm chặt tay
    Vòng người, chính gữa tung bay quốc kỳ!

    Giặc nhác thấy Việt kỳ phấp phới
    Mấy bóng xuồng chấp chới đằng đông
    Xa hơn, Hán hạm tàu đồng
    Gầm gừ, dọa, dứ nhìn không rõ người

    Ba …, năm …, bảy …, rồi mười phút tiếp
    Sắc Hán ngồi mấy chiếc xuồng nhôm
    Nhăm nhe, lượn lượn, gờm gờm
    Chĩa lê lạnh thép, cảnh nom hãi hùng

    Bỗng súng nổ đùng đùng xối xả
    Vòng tròn người chao, ngả, rùng rùng
    Đạn găm đầu thiếu úy Phương
    Cây bia sống, giữa chiến trường? tay không!

    Nào ai có mình đồng da sắt
    Khắp người anh, đầu, mặt, bàn tay
    Máu phun đỏ nước kinh thay
    Phương gục đổ, vẫn cầm tay, cán cờ!

    Giặc lội xuống cướp cờ hỗn chiến
    Máu đỏ loang nước biển chuyển hồng
    Vòng tay cảm tử thành đồng
    Lê xuyên mặn buốt, quyết không mất cờ!

    Độ nửa giờ đôi co giằng giật
    Giặc lên xuồng lùi bật xa xa
    Thế rồi sấm chớp chói lòa
    Tàu đồng nã pháo Gạc Ma sóng dồn

    Những cột trắng cao hơn chục thước
    Xác dập dềnh mặt nước như phao
    Không gươm súng, chẳng giáp bào
    Sống : làm bia sống! thác? trao sóng hồn

    Kể từ ấy, chập chờn khói sóng
    Biển tím bầm ai ngóng chiều buông
    Khói trùng dương, ánh tà dương
    Hồn âm dõi bóng người dương một mình

    Hồn tử sỹ hiện linh giọng uất
    Chốn sa trường còn mất lẽ thường
    Hận điều ám ảnh còn vương
    Ai …,
    trao quân lệnh …,
    chẳng trao thương, chiến bào?

    Biển rì rào, lao xao sóng gợn
    Gió thì thầm rờn rợn bầu không
    Nặng lòng quả phụ sầu đong
    Sinh Tồn tử khí, mây bông tím bầm

    Nỗi phu phụ dương âm cách trở.
    Lý vô thường đất lở sông bồi,
    Phù du bèo dạt mây trôi.
    Niềm tây cô phụ trọn đời khôn ngoai!

    viết xong lúc: 04:47 AM, 14-Mar-2013,
    LN.

    Liked by 1 person

Comments are closed.