TÊN HỌ NGƯỜI VIỆT-NAM (Gs. Nguyễn Ngọc Huy): Chương III

Chương III
Tục cữ tên
và các ảnh hưởng của nó

Trong các chương trước của sách này, chúng tôi đã có nhiều lần đề cập đến tục cữ tên cũng được gọi là tỵ húy (hay kỵ húy).

Vì tục này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống người Việt Nam trước đây nên chúng tôi ghi là phải đề cập đến nó một cách cặn kẽ hơn trong một chương riêng.

Mục 1:
Nguồn gốc và các phương pháp cữ tên

Tục cữ tên đã bắt đầu ở Trung quốc dưới đời nhà Châu (1122-247 tr CN) và được noi theo dưới các triều đại kế tiếp. Ngay đến các triều đại do người thuộc các sắc tộc thiểu số thành lập cũng áp dụng nó.

Khi thâu nhận nền văn hóa Trung Hoa, người Việt Nam đã thâu nhận tục cữ tên và các triều đại Việt Nam thời độc lập đã noi theo nó. Vậy muốn hiểu rõ tục cữ tên ở Việt Nam, chúng ta cần phải xem qua tục này ở Trung quốc.

I. Tục cữ tên ở Trung quốc.

A. Nguyên tắc nêu ra về việc cữ tên.

1. Nguyên tắc nêu ra dưới đời nhà Châu.

Ðời nhà Châu, việc cữ tên là một bộ phận của các định chế chánh trị và xã hội phong kiến, được gọi chung là Lễ và áp dụng cho những nhà quí tộc có quyền thờ cúng cha mẹ ông bà. Nguyên tắc cữ tên thời này gồm các điểm chánh yếu sau đây:

a. Người phải cữ tên những bực trên trước của mình trong gia tộc mình, trong nước mình và trong thiên hạ.

b. Việc cữ tên không áp dụng cho các hiềm danh, tức là các tiếng đồng âm nhưng khác nghĩa với cái tên phải cữ. Như người trên trước có tên Minh là sáng thì người cấp dưới chỉ phải tránh không nói đến chữ minh là sáng như trong từ ngữ minh quân nhưng có thể dùng chữ minh là tối như trong từ ngữ u minh hay minh là thề như trong từ ngữ đồng minh.

c. Trong trường hợp tên đôi tức là tên gồm có 2 tiếng thì người ta chỉ phải cữ nói đến 2 tiếng ấy chung nhau một lượt, nhưng được phép dùng riêng từng tiếng một trong tên đôi. Như bà mẹ Khổng Tử có tên là Trung Tại thì người phải cữ tên bà chỉ không được dùng cả 2 tiếng Trung Tại một lượt mà có thể dùng riêng chữ Trung hay chữ Tại.

d. Việc cữ tên chỉ áp dụng trong các văn thơ chánh thức dâng lên cấp trên, còn trong việc làm văn làm thơ thường thì không áp dụng.

đ. Việc cữ tên áp dụng trong khi nhà lãnh đạo đang cầm quyền và tiếp tục sau khi nhà lãnh đạo đã chết cho đến khi lập thần chủ, tức là bài vị nhà lãnh đạo được dời khỏi miếu thờ. Vậy phép húy đi chung với phép cúng tế tổ tiên.

Theo phép cúng tế đời nhà Châu thì dòng vua làm chủ cả thiên hạ có 7 miếu thờ, miếu ở chính giữa thờ vị tổ sáng lập triều đại, sáu miếu kia chia ra làm hai dãy, dãy ba miếu bên tả gọi là hàng chiêu, dãy ba miếu bên hữu gọi là hàng mục, hai dãy miếu này thờ 6 nhà vua kế vị.

Ngoài ra, ở hai bên hông miếu chánh có hai dãy nhà gọi là thao để thờ cúng các vị viễn tổ của nhà vua đang trị vì.

Thần chủ của nhà vua sáng lập triều đại được thờ mãi trong miếu chánh.

Về các nhà vua kế vị, chỉ có những người lập nên công nghiệp sáng chói khác thường mới được thờ mãi trong miếu của mình như vậy, những người khác thì thần chủ được lần lượt dời đi vào các dãy nhà thao để nhường chỗ cho các nhà vua vừa mới chết.

Các nhà vua mà thần chủ được dời vào nhà thao như vậy không còn được cúng tế thường niên nữa mà chỉ được cúng tế một lần mỗi ba năm khi có lễ tế chung hết các tổ tiên nhà vua ở miếu chánh và tên họ cũng không còn được húy.

Vậy, ngoài nhà vua trị vì, phép húy được áp dụng cho nhà vua sáng lập triều đại và 6 vị vua tiền nhiệm được thờ trong hai dãy miếu hàng chiêu và hàng mục.

Dưới dòng vua làm chủ cả thiên hạ, lại có các vua chư hầu, các đại phu và các nhà quí tộc gọi là sĩ. Phép cữ tên cũng áp dụng đối với họ và với tiền nhơn họ, tuy là ở một mức độ hạn chế hơn.

Theo Lễ nhà Châu thì trong việc cúng tế tổ tiên, dòng vua chư hầu được lập 5 miếu; quan đại phu 3 miếu; các thích sĩ, tức là quí tộc thuộc dòng chánh của họ mình, được lập 2 miếu; các nhà quí tộc hạng sĩ có địa vị chỉ huy cấp thấp được một miếu; còn thứ sĩ là hạng quí tộc không có địa vị chỉ huy cũng như dân thường đều không được lập miếu. Trên nguyên tắc thì tên nhà quí tộc còn được cúng tế trong miếu thì còn phải được húy.

2. Nguyên tắc được áp dụng dưới các triều đại kế tiếp.

Sau nhà Châu, Trung quốc theo chế độ quân chủ tập quyền, trong khi Lễ được áp dụng chung cho mọi người và tục cữ tên hay tỵ húy cũng phổ biến ra cho giới bình dân.

Nói chung thì trong thời kỳ này, người phải cữ tên những bực trên trước trong gia tộc mình, như trong gia đình thì có ông bà cha mẹ bác chú cậu cô dì anh chị của mình, ngoài xã hội thì có những kẻ lớn tuổi hay có vai vế hơn mình, và các viên chức chánh quyền cầm đầu đơn vị hành chánh trong đó mình sống, hay công sở trong đó mình phục vụ, cũng như các quan to trong triều đình. Bên trên hết là nhà vua đang trị vì và thân thuộc của ông, đặc biệt là những bực thân thuộc được thờ cúng trong miếu của triều đại.

Riêng về việc cữ tên đối với nhà vua và thân thuộc nhà vua, các nguyên tắc nêu ra từ đời nhà Châu có nhiều thay đổi. Việc áp dụng các nguyên tắc ấy có thể lỏng lẻo hơn hay gắt gao hơn tùy triều đại và có khi tùy các nhà vua trong mỗi triều đại. Mặt khác, nó cũng tùy chỗ triều đại do người Hán tộc hay người thuộc sắc tộc thiểu số xây dựng. Sau hết, có khi luật pháp và phong tục không hoàn toàn phù hợp nhau, thành ra một bên lỏng lẻo còn một bên lại gắt gao hơn.

Nói chung thì đời Tần (221-207 tr CN) và đời Hán (206 tr CN-220 sau CN) đã áp dụng việc cữ tên một cách lỏng lẻo. Trong các văn bia đời Ðông Hán (25-220) còn truyền lại, người ta có thể tìm thấy một số chữ thuộc loại phải tỵ húy. Có lẽ trong thời kỳ này, người Trung Hoa còn áp dụng đúng nguyên tắc đời nhà Châu là không cữ tên khi làm văn làm thơ thường.

Từ đời Tam Quốc (220-265) trở đi, việc cữ tên đã được áp dụng một cách gắt gao hơn. Ở nước Ngô, từ năm Xích Ô thứ 5 (năm 242), người ta bắt đầu áp dụng việc húy hiềm danh, tức là các tiếng đồng âm nhưng khác nghĩa với tên phải cữ. Mặt khác, phong tục đời này lại còn tỵ húy thêm tên tự của người. Như ta đã thấy, tên tự vốn được đặt ra để cho người dùng thay tên chánh cần phải cữ và việc tỵ húy cả tên tự thật là một việc làm sai với lệ cổ.

Nhà Tấn (265-420) lại còn gắt gao hơn trong việc áp dụng phép cữ tên. Triều đại này đã thêm tên các bà hoàng hậu vào các bảng húy được ban hành.

Thời Nam Bắc Triều (420-589), việc áp dụng phép cữ tên khi thì lỏng lẻo khi thì gắt gao tùy theo nhà vua. Thân phụ vua Cao Tổ (tr v 550-559) nước Bắc Tề vốn tên Thọ Sinh và nhà vua này đã bắt triều thần phải tỵ húy cả hai tiếng Thọ và Sinh và trừng phạt những người nói đến một trong hai tiếng đó một cách riêng rẽ.

Nhà Tùy (581-618) đã áp dụng phép cữ tên một cách lỏng lẻo hơn. Nhà Ðường (618-906) đã chánh thức theo chánh sách này, nhưng nếu pháp luật tỏ ra khoan giảm về vấn đề tỵ húy thì phong tục lại gắt gao hơn.

Ðời ngủ Ðại (907-969), dưới các triều đại do người sắc tộc thành lập như Hậu Ðường (923-936), Hậu Tấn (936-946), Hậu Hán (947-950), phép húy khoan hơn, trong khi các triều đại do người Hán tộc thành lập thì phép này gắt gao hơn.

Ðời nhà Tống (960-1276), việc cữ tên được thi hành một cách rất nghiêm ngặt. Trong triều đại này, tên các vua mà thần chủ đã dời vào nhà thao vẫn còn phải húy. Mặt khác, các hiềm danh tức là tiếng đồng âm khác nghĩa với tên vua cũng phải húy, có khi tên một nhà vua có đến 50 hiềm danh mà người ta phải cữ luôn. Ngoài ra, nhà Tống còn húy tên Khổng Tử: năm Ðại Quan thứ 4 (năm 1110), họ đổi tên huyện Hà Khâu thành huyện Hà và huyện Lũng Khâu thành huyện Lũng để tránh tên Khâu của Khổng Tử. Họ cũng húy luôn tên tự và thụy của Lão Tử: năm Chánh Hòa thứ 8 (năm 1118), vua Huy Tông ra lịnh cấm nhơn dân dùng các chữ Nhỉ, Bá Dương và Ðàm của Lão Tử làm tên hay tự cho mình.

Hai triều đại Liêu (916-1125) và Kim (1115-1234) vốn do người thiểu số sống ở sa mạc thành lập nên lúc đầu không theo tục cữ tên, nhưng về sau, khi các nhà vua của các triều đại này nhiễm phong tục người Hán, họ lại áp dụng phép húy như người Hán. Ðặc biệt người Kim vì tiếp xúc chặt chẽ với người Tống nên phép húy của họ cũng nghiêm ngặt như phép húy nhà Tống, và bắt chước nhà Tống, húy tên Khổng Tử là Khâu. Họ còn đi xa hơn nhà Tống ở chỗ húy luôn tên của Châu Công là Ðán.

Nhà Nguyên (1277-1368) do người Mông Cổ lập ra, lúc đầu cũng không theo tục cữ tên. Về sau đến đời Diên Hựu (t.v. 1314-1320), triều đại này mới áp dụng phép húy nhưng cũng chỉ hạn chế nó trong việc cữ tên nhà vua đang trị vì và các nhà vua tiền nhiệm được thờ trong miếu của triều đại.

Nhà Minh (1368-1643), ban đầu chịu ảnh hưởng nhà Nguyên nên không gắt gao trong việc áp dụng phép húy. Từ đời Vạn Lịch (t.v. 1537-1619), phép này được áp dụng nghiêm ngặt hơn, và đến hai đời Thiên Khải (t.v. 1621-1627) và Sùng Trinh (t.v. 1628-1643) là hai đời vua chót của triều đại, phép húy lại càng gắt gao hơn nữa.

Nhà Thanh (1644-1911) do người Mãn Châu thành lập, lúc đầu không áp dụng phép húy, nhưng sau đó lại theo tục người Hán và bắt cữ tên. Trong hai đời Ung Chính (t.v. 1723-1735) và Càn Long (t.v. 1736-1795), phép húy rất nghiêm, nhưng từ Ðạo Quang (t.v. 1821-1850), nó lại trở thành khoan giảm hơn.

B. Phương pháp cữ tên và cách thức chế tài.

1. Phương pháp cữ tên.

Ở Trung quốc, xưa kia việc cữ tên gồm có mấy phương pháp sau đây:

a. Phương pháp cải tự.

Theo phương pháp này, người ta tránh hẳn phải cữ tên và thường dùng một tiếng đồng nghĩa hoặc một tiếng có sự liên hệ mật thiết với tên phải cữ để thay thế.

Ðời Chiến Quốc, vua Trang Tương Vương nước Tần tên Tử Sở, và người nước Tần vì húy tên Sở mà gọi nước Sở là nước Kinh, vì kinh là một loại cây gai đặc biệt của nước Sở. Nhà vua sáng lập nhà Hán vốn tên Bang nên dưới triều đại này, người ta vì phải cữ tên ông mà dùng chữ Quốc thay cho chữ Bang, vì chữ quốc cũng chỉ một nước như bang.

b. Phương pháp không tự.

Theo phương pháp không tự, người ta để trống chỗ phải viết tên cần húy hoặc vẽ một vòng tròn hoặc để vào đó chữ húy hay thượng ? húy, hoặc để chữ mỗ là một đại danh từ không dùng để chỉ rõ cái gì.

 

c. Phương pháp khuyết bút.

Từ đời vua Cao Tông nhà Ðường (tr v 650-683), người ta bắt đầu dùng phương pháp khuyết bút nghĩa là bớt một nét hay nửa nét trong chữ cần phải húy.

d. Phương pháp cải âm.

Theo phương pháp cải âm, khi gặp một tên phải cữ, người ta nói và viết trệch đi một chút. Như Tần Thủy Hoàng vốn tên Chính, nên tháng đầu trong một năm âm lịch trước gọi là chính nguyệt đã được đọc và viết là chinh nguyệt, và ta mượn theo đó, gọi tháng ấy là tháng giêng.

2. Cách thức chế tài.

Về việc chế tài những người phạm húy, chúng ta có thể kể các điều khoản sau đây của luật pháp Trung quốc.

a. Theo điều 2 quyển X của luật nhà Ðường thì: kẻ dâng một văn thơ lên vua hay tâu lên vua một việc gì mà lầm lỡ phạm đến một tên phải húy của các nhà vua được thờ trong tông miếu thì bị phạt đánh 80 gậy; nếu kẻ buột miệng nói lỡ hay lầm lỡ viết tên phải húy trong một bản văn thơ khác thì bị phạt đánh 50 roi. Kẻ cố ý xúc phạm bằng cách dùng các tên húy để làm tên hay làm tự thì bị phạt đồ 3 năm. Dùng hiềm danh (tức là tiếng đồng âm mà khác nghĩa) hay một trong hai từ ngữ của một tên đôi phải húy thì không bị truy tố (Trong Tôn Vô Kỷ Ðường Luật Sở Nghị, Ðài Loan Thương Vụ Ấn Thơ Quán, ấn bản kỳ nhì, Ðài Bắc 1973, sách II, tr 84-85).

b. Luật nhà Minh (Ðiều 5, quyển III Lại luật – Công thức) cũng phạt đánh 80 gậy những kẻ lầm lỡ phạm húy khi dâng một văn thơ lên vua hay tâu lên vua một việc gì, nhưng ngoài tên các nhà vua được thờ trong tông miếu, nó còn thêm tên của nhà vua đang trị vì trong số các từ ngữ phải húy. Về việc phạm húy vì lỗi lầm, trong một văn thơ khác, luật nhà Minh chỉ phạt đánh 90 roi. Cố ý xúc phạm hoàng gia bằng cách dùng các tên phải húy làm tên hay tự thì chỉ phạt đánh 100 trượng. Cũng như luật nhà Ðường, luật nhà Minh không trừng phạt việc dùng hiềm danh hay chỉ dùng một trong hai từ ngữ của một tên đôi phải húy (Minh Luật Tập Giải Phụ Lệ, Tu Ðính Pháp Luật Quán của nhà Thanh, Thành Văn xuất bản xã in lại, Ðài Bắc 1989).

c. Luật nhà Thanh (điều 4 Lại Luật Công Thức) đã chép y theo luật nhà Minh về vấn đề này (Tiết Doãn, Ðộc Lệ Tồn Nghi, …).

Nói chung lại, ta có thể nhận thấy rằng luật nhà Minh và luật nhà Thanh chép theo nó đều đã trừng phạt tội phạm húy một cách nhẹ nhàng hơn so với luật nhà Ðường.

II. Tục cữ tên ở Việt Nam.

A. Việc áp dụng nguyên tắc cữ tên ở Việt Nam.

Ðất Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung quốc từ đời Hán đến đời Ðường và tục cữ tên đã được áp dụng ở Việt Nam y như ở Trung quốc trong thời kỳ này.

Khi độc lập, người Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Trung Hoa nên đã tiếp tục theo tục cữ tên. Tuy nhiên, cũng như đối với các định chế khác, định chế liên hệ đến việc cữ tên lúc đầu không được noi theo sát lắm; về sau, nó mới lần lần được áp dụng một cách nghiêm chỉnh hơn.

1. Việc áp dụng các định chế liên hệ đến việc cữ tên dưới các triều đại đầu tiên.

Theo Ðại Việt Sử Ký toàn thư (I, tr 183), vua Lê Ngọa Triều (tr v 1005-1009) khi đi đánh Ám Ðộng bắt được người thì sai lấy gậy đánh, người Man đau quá kêu gào, nhiều lần phạm tên húy của vua Lê Ðại Hành nhưng Ngọa Triều thích lắm (tr 183). Ðiều này cho thấy rằng vua Ngọa Triều đã không tha thiết với việc cữ tên của phụ hoàng mình. Mặt khác, sở dĩ phụ hoàng của Ngọa Triều cho đến ngày nay vẫn được gọi là vua Ðại Hành, một tên mà người thời trước dùng để chỉ một nhà vua mới chết chưa chôn vào sơn lăng (tr 179), là vì Ngọa Triều đã không đặt tên thụy và miếu hiệu cho ông. Sự kiện này làm bộc lộ rõ thêm chỗ vua Ngọa Triều không áp dụng đúng các định chế thi hành ở Trung quốc.

2. Việc áp dụng các định chế liên hệ đến việc cữ tên đưới đời nhà Lý (1009-1228).

Ðời nhà Lý, các vua đã bắt đầu áp dụng các định chế mượn của người Trung Hoa một cách tương đối nghiêm chỉnh hơn, nhưng cũng chưa theo sát các nguyên tắc của Lễ Trung quốc phát xuất từ đời nhà Châu.

Như về việc xây dựng miếu thờ tổ tiên các nhà vua, thì đến năm 1019, nghĩa là 10 năm sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ mới cho lập ở Tổ quán ông là phủ Thiên Ðức một Thái miếu (tọa lạc tại làng Ðình Bảng, huyện Ðông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Vua Lý Thái Tổ chết năm 1028 và năm sau đó, miếu thờ ông đã được vua Lý Thái Tông làm lễ khánh thành (TT I, 207). Ðến năm 1169, vua Lý Anh Tông cho lập điện Thanh Hòa để thờ Thần chủ các tiên đế và tiên hậu và theo thời tiết mà cúng (TT I, 290).

Việc làm miếu thờ trễ như vậy không đúng lễ nhà Châu. Nhưng đó là việc xảy ra ở Trung quốc sau khi chế độ phong kiến nhường chỗ cho chế độ quân chủ tập quyền, vì vua sáng lập nhà Hán xuất thân là một người bình dân chớ không phải là quí tộc. Do đó, phê bình việc vua Lý Anh Tông lập điện Thanh Hòa, ông Phan Huy Chú đã bảo rằng: “Chế độ tông miếu đời xưa, đằng trước là đô cung, đằng sau là tẩm thất, tuần tiết hàng năm cúng tế đều ở đó, không có điện riêng biệt nào nữa. Từ nhà Hán về sau, lễ cổ bỏ mất, chỉ theo chế độ đồng thất (nhà thờ chung) dị thất (chỗ thờ riêng) rồi sau mới dựng Nguyên Miếu nguy nga để làm miếu thờ riêng, thói quen đã lâu mà không biết như vậy là trái lễ. Nay lập điện Thanh Hòa để thờ thần vị các tiên đế tiên hậu ấy cũng là cái lỗi noi theo chế độ Nguyên Miếu đó” (tr 66).

Về các tên phải húy, sử nhà Lý không thấy chép. Tuy nhiên sử nhà Trần cho biết rằng năm 1304, vua Trần Anh Tông xuống chiếu cấm viết theo lối húy 8 chữ miếu húy của nhà Lý là Uẩn (tên Lý Thái Tổ), Mã (tên Lý Thái Tông), Tôn (tên Lý Thánh Tông), Ðức (tên Lý Nhân Tông), Hoán (tên Lý Thần Tông), Tộ (tên Lý Anh Tông), Cán (tên Lý Cao Tông) và Sản (tên Lý Huệ Tông) (TT II, tr 90).

Ðiều này cho thấy rằng nhà Lý đã áp dụng phép húy đối với các nhà vua đang trị vì và các nhà vua đã chết, và đối với các tên phải húy, sự kiêng cữ phải giữ mãi suốt triều đại, chớ không chấm dứt khi người có tên phải húy đã chết từ lâu.

3. Việc áp dụng các định chế liên hệ đến việc cữ tên dưới đời nhà Trần (1225-1400) và nhà Hồ (1400-1407).

Theo Ðại Việt Sử Ký toàn thư thì năm 1231, vua Trần Thái Tông đã làm lễ hưởng ở Tiên miếu tại Tổ quán là làng Tức Mặc, thuộc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Ðịnh ngày nay (TT II, tr 11). Ðiều này cho thấy rằng nhà Trần đã có miếu thờ tổ tiên mình ngay từ khi nắm được đại quyền.

Về các tên phải húy, ta được biết rằng năm 1232, vua Trần Thái Tông đã ban những chữ quốc húy và miếu húy (tr 12). Ðến năm 1294, vua Trần Anh Tông lại ban những chữ quốc húy: húy của vua là Thuyên, vua Nhân Tông là Khâm, Thánh Tông là Hoảng, Thái Tông là Cảnh, Thái Tổ là Thừa, Nguyên Tổ là Lý; ngoài ra, lại còn có những nội húy: húy của Thánh Từ hoàng hậu (vợ Trần Lý) là Phùng, Thuận Từ hoàng hậu (vợ Trần Thừa) là Diên, Hiến Từ hoàng hậu (vợ Thái Tông) là Oánh, Nguyên Thánh hoàng hậu (vợ Thánh Tông) là Hâm (TT II, tr 71).

Bốn năm sau, nhà vua lại ban hai chữ húy là Ngụy và Châu; năm kế đó là 1299 lại cấm dùng tên của Khâm Minh Ðại Vương (tên Liễu) và Thiên Ðạo Quốc Mẫu (vợ của Trần Liễu tên là Nguyệt); ngoài ra còn những chữ húy: Ngụy, Thấp, Nam, Càn, Tô, Tuấn, Anh, Tảng. Các tên này là tên của những người bên ngoại của nhà vua. Ðến năm 1395, vua Trần Thuận Tông ra lịnh bỏ các chữ húy “nguyệt” và “nam” cho dùng như cũ.

Các điều trên này cho thấy rằng nhà Trần đã áp dụng phép cữ tên nhiều hơn nhà Lý và mở rộng phạm vi của các chữ húy ra tên của những thân thuộc bên họ ngoại; nhưng mặt khác, đã hạn chế việc áp dụng phép húy trong thời gian cho một số tên và đến lúc cần chấm dứt sự cấm dùng các tên ấy thì có ban hành lịnh rõ ràng.

Về phần nhà Hồ thì năm 1403, Hồ Hán Thương đã cho dựng miếu ở Thanh Hóa để thờ cúng tế tổ khảo, lại dựng miếu ở phủ Linh Nguyên (Nghệ An) để thờ cúng tiên tổ, đồng thời cho dựng ở kinh đô một đông Thái miếu để thờ cúng tông phái họ Hồ và một tây Thái miếu để thờ cúng họ ngoại là Trần Minh Tông và Trần Nghệ Tông (TT II, tr 214-215). Ðiều này cho thấy rằng nhà Hồ đã tiếp nối chánh sách nhà Trần trong việc áp dụng các định chế liên hệ đến việc cữ tên. Nhưng vì triều đại này quá ngắn ngủi nên sử không chép thêm được dữ kiện nào khác về phép húy của nó cho chúng ta biết.

4. Việc áp dụng các định chế liên hệ đến việc cữ tên dưới đời nhà Hậu Lê (1428-1788).

Cứ theo Ðại Việt Sử Ký toàn thư thì từ khi mới lên ngôi, vua Lê Thái Tông (tr v 1433-1442) đã đem bá quan đến yết Thái miếu những ngày đầu năm âm lịch (TT III, tr 80, 98). Vua cũng làm lễ cáo nhà Thái miếu khi có một việc quan trọng trong triều, như khi nhà Minh sai sứ sang làm lễ tấn phong (TT III, tr 112, 114) hoặc khi cho đúc các quả ấn cho triều đình dùng (TT III, tr 93, 102). Ngoài ra, nhơn việc vua truy tôn mẹ làm Cung Từ Quốc Thái Mẫu năm 1434, ta được biết rằng Thần chủ của bà vốn để ở Lam Kinh (TT III, tr 90). Phần vua Lê Nhân Tông thì năm 1448 đã về Lam Kinh làm lễ yết Lăng miếu (TT III, tr 129) và cũng trong năm ấy, vua lại ra lịnh làm miếu điện ở Lam Kinh.

Qua các việc trên đây, ta có thể thấy rằng từ khi mới sáng nghiệp, nhà Hậu Lê đã có nhà Thái miếu tại kinh đô lại có miếu thờ tổ tiên ở nơi tổ quán mình là Lam Kinh, tức là Lam Sơn, thuộc miền thượng du tỉnh Thanh Hóa. Trong Thái miếu ở kinh đô, có điện Phụng Tiên thờ vua Lê Thái Tổ ở giữa, Tuyên Tổ (là thân phụ Thái Tổ) ở bên tả, Hiến Tổ (là nội tổ Thái Tổ) ở bên hữu, các vua Thái Tông, Thánh Tông, Túc Tông ở phía đông, về bên tả Thần chủ Tuyên Tổ, Nhân Tông, Hiến Tông và Túc Tông ở phía tây, về bên hữu thần chủ Hiến Tổ. Ngoài ra, lại có Hiền kính đường thờ Chiêu Hiến Ðại Vương (tên Học, anh Thái Tổ), Quận Ai Vương (tên Tư Tề, con trai lớn Thái Tổ, anh Thái Tông) ở phía đông, Trang Dương Vương (tên Thạch, con của Lê Học) ở phía tây (TT IV, tr 77).

Ðến năm 1513, vua Lê Tương Dực Ðế làm điện Mục Thanh ở trước điện Phụng Tiên chia làm hai nhà giáp thất ở hai phía đông tây nhà Thái miếu. Nhà giáp thất phía đông gọi là Chương Ðức Ðường để thờ phụ Chiêu Hiến Ðại Vương, Quận Ai Vương, Lương Vương Thuyên (con Thánh Tông), Ðường Vương Cảo (con Thánh Tông), Diễn Vương Thông (con Thánh Tông), Ung Vương Chiên (con Thánh Tông), Triện Vương Thoan (con Thánh Tông). Nhà giáp thất phía tây gọi là Chiên Thuận Ðường để thờ phụ Trung Dũng Vương, Cung Vương Khắc Xương (con Thái Tông), Tống Vương Tung (con Thánh Tông), Phúc Vương Tranh (con Thánh Tông), Quảng Vương Táo (con Thánh Tông), Trấn Vương Kinh (con Thánh Tông), Nghĩa Vương Cảnh (con Thánh Tông), Kinh Vương Kính (con Thánh Tông) (TT IV, 77 và 343, KÐVSTGCM, quyển 26, tr 19a-22a).

Sau khi họ Mạc cướp ngôi nhà Hậu Lê, nhà Thái miếu của triều đại này bị hoang phế, nên năm 1596, lúc đã chiến thắng được họ Mạc và tái chiếm kinh đô, vua Lê Thế Tông đã sai sửa làm điện Thái miếu ở đó và rước Thần chủ của vua Thái Tổ và các nhà vua khác của nhà Hậu Lê để cúng tế theo tuần tiết (TT IV, tr 213).

Vào cuối đời Hậu Lê, nhà Thái miếu này được dùng để thờ Hiến Tổ, Tuyên Tổ, Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, Ðức Tông (một người con thứ của Thánh Tông nhưng không lên làm vua, nhưng được vua Chiêu Tông truy tôn làm hoàng đế), Minh Tông (con Ðức Tông và là thân phụ Chiêu Tông cũng được Chiêu Tông truy tôn làm hoàng đế), Chiêu Tông, Trang Tông, Trung Tông, Anh Tông, Thế Tông, Kính Tông, Thần Tông, Chân Tông, Huyền Tông, Gia Tông, Hy Tông, Dụ Tông, Thuần Tông, Ý Tông, Hiển Tông và các bà vợ của các nhà vua này (Phan Huy Chú, Lễ nghi chí, tr 71-75).

Ngoài ra, vì các nhà vua Hậu Lê Trung Hưng từ đời Lê Anh Tông (tr v 1556-1573) không phải là hậu duệ trực tiếp của vua Lê Thái Tổ mà của một người anh của nhà vua này là Lê Trừ, nên từ đầu đời Hậu Lê Trung Hưng, họ đã thành lập một điện tên là Chí Kính ở sau nhà Thái miếu để thờ các vị tổ trực tiếp của họ trừ Lê Trừ và các bà vợ của họ cùng với 4 nhà vua không được thờ ở nhà Thái miếu là Uy Mục Ðế (tr v 1504-1509), Tương Dực Ðế (tr v 1509-1516), Cung Hoàng Ðế (tr v 1522-1527), Lê Ðế Duy Phương (tr v 1729-1732) và một số người trong hoàng tộc cùng công chúa và cung phi (Lễ Nghi Chí, tr 77-79).

Chế độ tông miếu của nhà Hậu Lê đã bị Phan Huy Chú và các sử gia triều Nguyễn chỉ trích. Về lối thờ ở nhà Thái miếu của nhà vua Hậu Lê thời họ còn làm chủ thiên hạ, Phan Huy Chú cho rằng thờ Tuyên Tổ và Hiến Tổ ở hai bên tả hữu Thái Tổ là trái Lễ vì tuy dựng được nước, Thái Tổ là cháu và con của hai vị trên đây, nên đúng lẽ phải thờ hai vị trên đây ở bên trên Thái Tổ về phía hữu.

Ngoài ra, Phan Huy Chú cũng chê nhà Hậu Lê, thời này thờ chung hết các nhà vua ở một miếu, thay vì chia các vua kế vị Thái Tổ thành hàng chiêu hàng mục ở hai bên tả hữu và dời lần Thần chủ vào nhà thao. Ðến như việc vua Tương Dực Ðế làm điện ở trước Thái miếu và chia làm hai gian giáp thất ở hai bên đông tây thờ phụ các vị vương trong hoàng tộc nhưng không được làm vua, Phan Huy Chú phê bình là “trong việc phi lễ lại thêm điều thất lễ.” (Lễ nghi chí t. 70-71)

Về lối thờ ở nhà Thái miếu đời Hậu Lê Trung Hưng, Phan Huy Chú cũng cho là thờ cả thảy hơn 20 nhà vua trong một gian nhà chung không có thất riêng cũng không cất bỏ Thần chủ vị nào là điều sai, còn tệ hơn các triều đại Trung quốc sau nhà Châu, tuy thứ tự hàng chiêu hàng mục không được phân minh, nhưng ít nhứt mỗi đời làm một ngôi thất riêng và ??? thân thì cất Thần chủ.

Cứ theo Phan Huy Chú thì có hai vị tổ là Tuyên Tổ bắt đầu dựng căn bản của triều đại, và Thái Tổ dẹp yên giặc giã để có đất nước, và 3 vị tông là Thánh Tông làm cho nước được thạnh vượng thái bình, Trang Tông nối lại tôn thống lập lại nghiệp vua cho họ Lê, và Thế Tông trở về kinh đô, thâu lại đất đai đã mất trong tay nhà Mạc là đáng để Thần chủ thờ mãi mãi, còn bao nhiêu vị khác thì quá 6 đời là nên dời vào nhà thao, các vị thời khai quốc thì dời vào nhà thao của 3 miếu thờ Hiến Tổ, Thái Tổ, Thánh Tông, các vị thời Trung Hưng thì dời vào nhà thao của 2 miếu thờ Trang Tông và Thế Tông (Lễ nghi chí tr 75-77).

Về việc lập điện Chí Kính, Phan Huy Chú cũng cho là theo Lễ nhà vua không được xử hậu với bậc thân riêng của mình, dẫu có truy tôn ông cha mình làm vương thì cũng chỉ nên lập miếu riêng ở tổ quán, chớ lập miếu thờ ở kinh đô thì không đúng điển Lễ (Lễ nghi chí, tr 79).

Về việc tên phải húy thì ngay từ năm 1428, khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã ban các chữ húy tông miếu và tên vua. Húy tông miếu có 5 chữ: Ðinh là tên Hiến Tổ, Quách là tên vợ Hiến Tổ, Khoáng là tên Tuyên Tổ, Thương là tên vợ Tuyên Tổ. Tên vua là Lị cũng phải húy cùng với tên vợ vua (mẹ Thái Tông) là Trần, và tên anh vua là Học. Tên Lý là ông của vua Trần Thái Tông thì không còn phải húy nữa nên người họ Lý có thể trở về họ cũ của mình.

Năm 1435, vua Lê Thái Tông lại ban tên húy của quốc triều gồm tên húy tông miếu và tên vua, và ra lịnh đổi họ Trần thành họ Trình để cữ tên mẹ mình. Năm 1460, vua Lê Thánh Tông đã ban bố một lịnh gắt gao hơn bắt người họ Trần đổi thành họ Trình (tr 176). Năm sau, ông lại ban các tên miếu húy và tên vua. Tên miếu húy gồm các tên đã được vua Lê Thái Tổ ban bố là Ðinh, Quách, Khoáng, Thương, Lị, Trần và tên các vua kế vị là Long (tên vua Thái Tông), Anh (tên vợ Thái Tông, mẹ Nhân Tông), Cơ (tên Lê Nhân Tông), Dao (tên vợ Lê Thái Tông, mẹ Lê Thánh Tông) và tên Lê Thánh Tông là Thành (Lễ nghi chí tr 179).

Sử cũ không chép rõ tên các người khác được húy ở các đời vua sau, nhưng đại khái thì người ta phải húy tên nhà vua đang trị vì, tên ông bà cha mẹ của vua đã chết và được thờ trong tông miếu, và tên một vài người trong hoàng tộc được vua liệt vào bảng chữ húy.

Trái với nhà Trần, nhà Hậu Lê không thấy ban hành lịnh bắt cữ tên người họ ngoại của mình. Việc chấm dứt sự cấm dùng một tên húy của triều đại cũng không được chép lại. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong bộ Quốc triều hình luật in mộc bản dưới thời nhà Hậu Lê Trung Hưng, có 18 điều khoản viết chữ Trần theo lối húy, nhưng có 2 chữ viết theo lối thường ở 2 điều khoản. Ðiều này cho thấy rằng chữ Trần chỉ được húy trong một thời gian và không còn phải húy đưới đời Hậu Lê Trung Hưng.

Mặt khác, thời Hậu Lê Trung Hưng, những người nắm thực quyền là chúa Trịnh ở Bắc Hà và chúa Nguyễn ở Nam Hà. Do đó, phép húy cũng đã được áp dụng đối với các chúa Trịnh ở Bắc Hà và đối với các chúa Nguyễn ở Nam Hà có phần khác hơn. Chúng ta có thể nhận thấy rằng chẳng những phải cữ tên, người ta có khi còn cữ đến tước hiệu của họ. Như ở Bắc Hà, vì cữ tôn hiệu chúa Trịnh Tạc là Tây Vương (cấm gọi từ 1657 đến 1682), huyện Tây Châu đã đổi tên lại là Nam Châu (ÐDA, tr 134), và ở Nam Hà vì cữ tôn hiệu chúa Nguyễn Phúc Khoát là Vũ Vương (tr v 1738-1765), người ta đã nói trại Vũ thành Võ.

5. Việc áp dụng các định chế liên hệ đến việc cữ tên dưới đời nhà Nguyễn (1802-1945).

Nhà Nguyễn có miếu thờ cúng tổ tiên mình ở tổ quán là làng Gia Miêu Ngoại trang, sau đổi lại làm Quí Hương huyện Tống Sơn, sau đổi lại làm Quí Huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra, tại kinh đô Huế, bên trong hoàng thành, có 4 miếu thờ là Triệu miếu, Hưng miếu, Thái miếu và Thế miếu.

Triệu miếu làm năm Gia Long thứ 3 (1804) thờ vị tổ khai sáng là Nguyễn Câm (tức Nguyễn Kim), được truy tôn Triệu Tổ Tịnh Hoàng Ðế (Thái Văn Kiểm: Cố đô Huế – Lịch sử – Cổ tích – Thắng cảnh, Tập thượng – Nha Văn Hóa Bộ QGGD 1960, tr 52, 53).

Hưng miếu làm năm Minh Mạng thứ 2 (1281) thờ thân phụ vua Gia Long là Nguyễn Phúc Luân, được truy tôn làm Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng Ðế và vợ ông này (TVK, tr 56). Hưng miếu bị đốt năm 1947 rồi được xây lại năm 1951.

Thái miếu làm năm Gia Long thứ 3 (năm 1804) được trùng tu một lần dưới triều Thành Thái, rồi lại được trùng tu lần thứ nhì năm Khải Ðịnh thứ 8 (năm 1923), miếu này thờ các chúa Nguyễn được các vua nhà Nguyễn truy tôn làm hoàng đế. Bên trong miếu thiết 9 án thờ, án chánh giữa thờ chúa Nguyễn Hoàng được truy tôn làm Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Ðế (tr v 1600-1613) và bà vợ ông, các án khác chia ra làm 2 dãy tả và hữu. Các án bên tả thờ các chúa Nguyễn Phúc Nguyên được truy tôn làm Hiếu Văn Hoàng Ðế (tr v 1613-1635), Nguyễn Phúc Tần được truy tôn làm Hiếu Triết Hoàng Ðế (tr v 1648-1687), Nguyễn Phúc Chu được truy tôn làm Hiếu Minh Hoàng Ðế (tr v 1691-1725) và Nguyễn Phúc Khoát được truy tôn làm Hiếu Võ Hoàng Ðế (tr v 1738-1765) và các bà vợ của họ. Các án bên hữu thờ các chúa Nguyễn Phúc Lan được truy tôn làm Hiếu Chiêu Hoàng Ðế (tr v 1635-1648), Nguyễn Phúc Trăn được truy tôn làm Hiếu Nghĩa Hoàng Ðế (tr v 1687-1691), Nguyễn Phúc Trú được truy tôn làm Hiếu Ninh Hoàng Ðế (tr v 1725-1738) và các bà vợ của họ cùng Nguyễn Phúc Thuần được truy tôn làm Hiếu Ðịnh Hoàng Ðế (tr v 1765-1777) (TVK, tr 50-51).

Hai bên Thái miếu có 2 nhà tả vu và hữu vu được dựng từ năm Gia Long thứ 5 (năm 1806) để thờ phụ các bậc thân huân công thần hồi quốc sơ. Nhà tả vu dành cho 4 công thần trong hoàng tộc là Tôn Thất Khê, Tôn Thất Hiệp, Tôn Thất Hạo và Tôn Thất Ðồng. Nhà hữu vu thờ các ông Nguyễn ?? Kỷ, Ðào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Kính, Nguyễn Cửu Dật và Nguyễn Cư trinh (TVK, tr 52).

Thế miếu làm năm Minh Mạng thứ 2 (năm 1821) để thờ các nhà vua triều Nguyễn. Bên trong miếu thiết 7 án thờ. Án chánh giữa thờ Thế Tổ Cao Hoàng Ðế, tức là vua Gia Long (tr v 1802-1819) và 2 hoàng hậu. Các án khác chia làm 2 dãy tả và hữu. Các án bên tả thờ các vua Thánh Tổ Nhân Hoàng Ðế, tức là Minh Mạng (tr v 1819-1840), Dực Tông Anh Hoàng Ðế, tức là Tự Ðức (tr v 1847-1883), Cảnh Tông Thuần Hoàng Ðế, tức là Ðồng Khánh (tr v 1885-1888) và các bà vợ của họ. Các án bên hữu thờ các vua Hiến Tổ Chương Hoàng Ðế tức là Thiệu Trị (tr v 1841-1847), Giản Tông Nghị Hoàng Ðế tức là Kiến Phúc (tr v 1883-1884) và các bà vợ của họ cùng Hoằng Tông Tuyên Hoàng Ðế tức là Khải Ðịnh (tr v 1916-1925) (TVK, tr 53-54).

Hai bên nhà thế miếu cũng có 2 nhà tả vu và hữu vu được dựng từ năm Minh Mạng thứ 5 (năm 1824) để thờ các thân huân công thần hồi trung hưng. Nhà tả vu dành cho 4 vị công thần trong hoàng tộc là Tôn Thất Mân, Tôn Thất Ðiển, Tôn Thất Huy và Tôn Thất Hội. Nhà hữu vu thờ các ông Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu Văn Tiếp, Võ Di Nguy, Nguyễn Văn Trương, Phạm Văn Nhơn, Nguyễn Huỳnh Ðức, Tống Phúc Ðàm, Nguyễn Văn Mẫn, Ðỗ Văn Hựu, Nguyễn Văn Nhân, Mai Ðức Nghị và năm 1827 thêm Nguyễn Ðức Xuyên, rồi năm 1875 thêm Trương Ðăng Quế (TVK, tr 54).

Ngoài ra, ở sân thế miếu còn bày 9 đảnh đồng đúc từ năm Minh Mạng thứ 16 (1835), chung quanh có chạm hình mặt trời, mặt trăng, núi sông hoa cỏ, các giống động vật thực vật và đồ binh khí xe thuyền của nước ta. Tên của “cửu đỉnh” này lấy chữ trong niên hiệu của các nhà vua từ Thế Tổ Cao Hoàng Ðế trở xuống mà đặt tên: Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dũ và Huyền (TVK, tr 54-55).

Tuy vua Minh Mạng dự liệu 9 đảnh và tên của 9 nhà vua được thờ trong thế miếu, nhưng nhà Nguyễn chỉ có 7 nhà vua là chấm đứt nên 2 đảnh Dũ và Huyền không tương ứng với nhà vua nào được thờ trong miếu.

Xét cách thờ cúng ở các miếu nhà Nguyễn, chúng ta có thể nhận thấy rằng triều đại này có khác nhà Lê ở chỗ làm những miếu riêng biệt cho các vị tổ tiên có nắm thực quyền lãnh đạo và các vị tổ tiên được truy tôn làm hoàng đế nhưng không được nắm quyền lãnh đạo như vậy. Tuy nhiên, cũng giống như nhà Lê, nhà Nguyễn thờ hết nhà lãnh đạo trong mỗi giai đoạn chung với nhau trong một miếu và không dự liệu việc đem các Thần chủ của một số nhà lãnh đạo chết đã lâu vào nhà thao như Lễ nhà Châu ấn định.

Về các tên phải húy, nhà Nguyễn cũng như các triều đại trước bắt nhơn dân phải cữ tên các nhà vua đang trị vì, các vị vua tiền nhiệm và các bà vợ của họ. Nhà Nguyễn lại còn bắt các thí sinh của các cuộc thi không được dùng đến những chữ tên các cung điện, lăng tẩm trong kinh (Ngô Tất Tố: Lều chõng, in lần thứ tư, Nhà sách Khai trí Sài Gòn, 1968, tr 276).

Nói chung thì dưới các chúa và các vua nhà Nguyễn, tục cữ tên đã được áp dụng một cách sâu rộng hơn các triều trước. Ta có thể nhận thấy rằng thần dân các chúa Nguyễn đã cữ chữ lót của họ là Phúc và đổi trại thành phước; họ cũng cữ tôn hiệu của Vũ Vương (tr v 1738-1765) và nói trại thành võ. Ðời các vua nhà Nguyễn, các tên trong niên hiệu của vua như Long trong Gia Long, Mạng trong Minh Mạng đã được cữ nên dân Huế đã nói trại Long thành luông trong địa danh Kim Luông, và Mạng đã được nói trại ra mệnh.

B. Phương pháp cữ tên và cách thức chế tài.

Về phương pháp cữ tên và cách thức chế tài, chúng ta chỉ lượm lặt được vài dữ kiện liên hệ đến 2 triều đại Lý và Trần. Hai triều đại Hậu Lê và Nguyễn thì vì gần chúng ta hơn nên còn lưu lại được một số tài liệu giúp chúng ta thấy rõ vấn đề hơn.

1. Phương pháp cữ tên.

Các triều đại Việt Nam khác nhau có thể có những điểm dị biệt nhỏ trong việc áp dụng phép cữ tên, nhưng phương pháp cữ tên của họ vẫn giống nhau trong nét chánh. Nói chung thì việc cữ tên đã được áp dụng trong cả hai mặt nói và viết.

a. Việc cữ tên trong lời nói.

Trên nguyên tắc, người Việt Nam trước đây phải tránh nói đến các tên phải húy. Khi gặp một tiếng phải tránh như vậy, họ phải nói trại đi. Ðó là phương pháp cải âm đã được áp dụng tại Trung quốc từ xưa. Như ta đã thấy trên đây, vì Tần Thủy Hoàng (tr v 221-208 tr CN) tên là Chính, người Trung quốc trước đây đã phải gọi chính nguyệt là chinh nguyệt.

Ở Việt Nam, chúng ta cũng có những trường hợp tương tự. Vì phải cữ tên vua Lê Thái Tổ là Lị, chúng ta đã nói là quyền lợi hay lợi tức thay vì quyền lị hai lị tức. Vì phải cữ tên thủy tổ của nhà Nguyễn là Câm, chúng ta đã nói kim ngân hay cổ kim thay vì câm ngân hay cổ câm. Vì cữ tên vua Tự Ðức là Thì, chúng ta đã nói thời gian hay thời hạn thay vì thì gian hay thì hạn. Vì cữ hiệu của chúa Vũ Vương nên người Nam Hà đã nói võ bị hay võ nghệ thay vì vũ bị hay vũ nghệ.

b. Việc cữ tên trong khi viết.

Các tên phải húy thời trước đã được chia ra làm 2 loại: trọng húy và khinh húy.

Ðược liệt vào hạng trọng húy tên nhà vua sáng lập triều đại và tên nhà vua đang trị vì.

Khinh húy gồm các tên khác như chữ lót trong tên vua, tên các nhà vua đã chết ngoài nhà vua sáng lập triều đại, tên những người thân thuộc của vua như bà vua, mẹ vua.

Ðối với các trọng húy, người ta phải dùng một chữ khác đồng nghĩa hay có ý nghĩa liên hệ với chữ phải húy để thay cho chữ này. Ðó là phương pháp cải tự áp dụng ở Trung quốc thời trước. Như ta đã thấy đời nhà Hán, người Trung Hoa đã dùng chữ quốc thay cho chữ bang.

Ở Việt Nam, chúng ta cũng gặp những trường hợp tương tự. Trong Quốc Triều Hình Luật (QTHL) là bộ luật nhà Hậu Lê, các chữ lợi (lị) đều được thay thế bằng một chữ đồng nghĩa. Như ở điều 284, thành ngữ thông dụng “hưng lợi (lị) trừ hại” đã được thay bằng “hưng tiện trừ hại”. Mặt khác, điều 574 của QTHL đã nói về những kẻ độc chiếm quyền khai thác các mối lợi của núi rừng hồ ao, chép theo điều 17, quyển 26 của luật nhà Ðường, nhưng đã dùng từ ngữ địa sản thay chữ lợi (lị) trong câu văn của luật nhà Ðường. Hai trường hợp trên đây cho thấy rõ là các nhà làm luật đời Hậu Lê đã theo phép húy đối với chữ lợi (lị) là tên Lê Thái Tổ.

Khi chép lại các điều khoản của bộ luật nhà Hậu Lê trong quyển Hình Luật Chí, Phan Huy Chú sống dưới đời nhà Nguyễn nên phải tránh các chữ húy của triều đại này. Ngoài tên Ánh, vua Gia Long lại còn có tên là Chủng lúc còn bé và chữ Chủng trở thành một trọng húy. Do đó, Phan Huy Chú đã thay từ ngữ chủng điền binh mà luật nhà Hậu Lê dùng để chỉ người bị đồ làm lính cày ruộng bằng từ ngữ thực điền binh. Mặt khác, trong điều 573 của QTHL, từ ngữ chủng thực có nghĩa là trồng cây đã được ông thay bằng vân thực có ý nghĩa tương tự.

Trong bộ Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục được viết dưới triều vua Tự Ðức mà tên húy là thời (thì), các chữ thời đều được đổi thành chữ thần có một ý nghĩa tương tự. Ngoài ra, nhà vua này có tên là Hồng Nhậm. Do đó, khi đi thi, sĩ tử phải dùng chữ dụng thay chữ nhậm. Như từ ngữ thánh chi dụng là cái sở dụng của bực thánh phải được đổi làm thánh chi nhậm (Ngô Tất Tố, tr 233).

Trong những trường hợp bắt buộc phải nêu một tên thuộc hạng trọng húy, người ta phải tách chữ ấy ra từng mảnh để viết. Như trong bài văn bia Vĩnh Lăng nói về Lê Thái Tổ, ta thấy chép về họ và tên của nhà vua và của tiền nhơn ông như sau: “Ðể tánh Lê, húy tả tòng hòa, hữu tòng đao, tằng tổ húy tả tòng ngôn, hữu tòng mỗi, …, hoàng tổ húy tả tòng thủy, hữu tòng đinh, …, con thứ (con ông bà nội vua Lê Thái Tổ tức là thân phụ vua này), húy tả tòng nhựt, hữu tòng quảng,…, mẹ vua húy thượng tòng thảo đẩn nhơn nhứt, hạ tòng quân”. Người đọc văn bia này phải ráp trở lại các bộ phận chữ đã được tách ra để biết tên những người được nói đến:

Chữ gồm có chữ hòa bên tả, chữ đao bên hữu là chữ lị (lợi): tên vua Lê Thái Tổ,

Chữ ngôn bên tả, chữ mỗi bên hữu là chữ Hối, tên của ông tổ nhà vua,

Chữ gồm có chữ thủy bên tả, chữ đinh bên hữu là chữ Ðinh, tên của ông nội nhà vua,

Chữ gồm có chữ nhựt bên tả, chữ quảng bên hữu là chữ Khoáng, tên thân phụ nhà vua,

Chữ gồm có chữ quân ở dưới và bộ thảo ??? với chữ nhơn và nhứt ở trên là chữ Thương, tên thân mẫu nhà vua (Xem phóng ảnh bia Vĩnh Lăng, Quốc Tổ, Ðặc san của nhóm người Việt tỵ nạn bảo tồn và phát huy văn hóa Việt, Arlington 1987, tr 60).

Trong bộ Lều Chõng, ông Ngô Tất Tố cũng cho biết là trước cửa các trường thi đời vua Tự Ðức, có cái bảng chữ húy của triều Nguyễn. Về trọng húy, có các chữ tả tòng nhựt hữu tòng ương, tả tòng hòa hữu tòng trọng, tả tòng nhơn hữu tòng nhâm, … Bên tả chữ nhựt bên hữu chữ ương là chữ Ánh, tên vua Gia Long; bên tả chữ hòa bên hữu chữ trọng là chữ Chủng, một tên khác của vua Gia Long; bên tả chữ nhơn bên hữu chữ nhâm là chữ nhậm, tên của vua Tự Ðức (Ngô Tất Tố tr 235).

Ðối với chữ thuộc loại khinh húy thì người ta được dùng với điều kiện là phải thay đổi tự dạng của nó.

Có 2 cách thay đổi tự dạng như vậy, một là viết bớt đi một nét tức là khuyết bút, hai là thay đổi vị trí các thành phần của chữ phải húy.

Qua các lịnh của vua Trần Anh Tông ban ra năm 1299 (TT II, 76) bắt phải bớt nét các chữ húy Ngụy, Thấp, Nam, Cán, Tộ, Tuấn, Anh, Tảng; và năm 1304, cấm viết bớt nét 8 chữ miễn húy của nhà Lý: Uẩn, Mã, Tôn, Ðức, Hoán, Tộ, Cán, Sam (tr 90); ta được biết phép khuyết bút đã được áp dụng dưới hai đời Lý và Trần.

Trong bộ Lều Chõng, ông Ngô Tất Tố cho biết rằng bảng yết tên các chữ khinh húy, sĩ tử phải “kính khuyết nhứt bút” tức là viết bớt đi một nét; có tất cả chừng bốn năm chục chữ, trong đó có chữ đăng, miên, hồng, ưng, hoa, hạo, … (tr 231-234). Vậy nhà Nguyễn cũng áp dụng phép khuyết bút cho các chữ khinh húy mà trong các chữ này có những chữ dùng làm chữ lót cho dòng vua như miên, hồng, ưng, ….

Trong Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục được viết và in sau khi vua Thiệu Trị đã chết, tên nhà vua là Miên Tông đã trở thành khinh húy nên được viết theo lối khuyết bút, trong khi tên vua Tự Ðức đương trị vì là trọng húy nên được thay bằng chữ thần.

Phần nhà Hậu Lê, thì theo điều 125 của QTHL, chữ khinh húy cũng phải giảm hoạch, nghĩa là bớt đi một nét như khuyết bút. Nhưng trong thực tế, các chữ khinh húy trong bộ luật này lại được viết theo lối thay đổi vị trí các thành phần của chữ phải húy, như đem phần bên tả sang bên hữu và phần bên hữu sang bên tả. Ðể cho người đọc biết đó là chữ húy, người ta đã khắc 3 dấu nháy bên trên chữ được thay đổi vị trí các thành phần như vậy.

2. Cách thức chế tài.

Hiện nay, chúng ta không được biết cách thức chế tài đối với người phạm húy đời Lý và đời Trần. Ðối với các triều đại Hậu Lê và Nguyễn, chúng ta còn được hai bộ luật có đề cập đến vấn đề này.

a. Cứ theo điều 125 của bộ QTHL của nhà Hậu Lê thì “Dâng một văn thơ hay tâu lên vua một việc gì mà lầm lỡ phạm đến tên nhà vua hay một tên phải húy của các nhà vua được thờ trong tông miếu thì bị phạt đánh 60 gậy và biếm hai tư”.

Tư là một cấp bực trong xã hội thời trước. Ðời nhà Hậu Lê, địa vị mỗi người được đánh giá bằng số tư của mình. Thường dân không có tư nào cả. Những người có chức tước thì chia làm 9 phẩm, mỗi phẩm có 2 tư.

Theo qui chế ấn định năm Hồng Ðức thứ 2 (năm 1471) đời vua Lê Thánh Tông thì người được hàm tòng cửu phẩm có 1 tư, người được hàm chánh cửu phẩm có 2 tư, cứ như thế mà tính cho đến người được hàm chánh nhứt phẩm có 18 tư. Trên những người được hàm chánh nhứt phẩm lại còn có những người được ban các tước nam, tử, bá, hầu, quận công và quốc công, cứ mỗi tước như vậy lại thêm 1 tư. Nói cách khác, người được tước nam có 19 tư, và người được tước quốc công thì có số tư cao nhứt là 24 tư (CM, quyển 22, tr 25a-26a).

Bị phạt biếm 1 tư tức là mất bớt 1 tư. Như người có chức quan hay tước vào hàng chánh tam phẩm vốn có 14 tư, nên bị biếm 2 tư thì còn 12 tư, nghĩa là bị giáng xuống một chức hay một tước vào hàng chánh tứ phẩm. Người bị phạt biếm có khi được chuộc bằng tiền nghĩa là được đóng tiền để khỏi bị giáng chức tước.

Ðối với người không có chức tước tức là không có tư nào thì đương nhiên là tội biếm phải được chuộc bằng tiền. Số tiền phải đóng để thế vào tội biếm như vậy nhiều ít tùy theo địa vị cao thắp của phạm nhơn.

Cứ theo điều 22 của QTHL thì muốn chuộc tội biếm 1 tư, người thường dân phải đóng 10 quan tiền là ít nhứt, người hàng nhứt phẩm phải đóng 100 quan là nhiều nhứt.

Buột miệng nói lỡ hay lầm lỡ viết tên phải húy trong một bản văn thơ khác thì bị phạt đánh 80 gậy. Chữ đáng lẽ phải giảm bớt 1 nét mà không giảm thì người phạm lỗi bị phạt đánh 60 gậy. Kẻ buột miệng nói đến các chữ này bị phạt đánh bằng roi hay phạt tiền.

Kẻ (cố ý) xúc phạm bằng cách dùng các tên húy để làm tên hay làm tự thì bị xử tử hay bị tội lưu. Lưu là đày đi ra khỏi chỗ sanh quán của mình. Luật nhà Lê phân ra 3 bực lưu: lưu cận châu là gần nhứt, lưu ngoại châu và lưu viễn châu là xa nhứt.

Luật nhà Hậu Lê đã chịu ảnh hưởng nặng nề của luật nhà Ðường. Nhưng chúng ta có thể nhận thấy rằng nó đã thêm vào các chữ phải húy tên của nhà vua đang trị vì, đồng thời trừng phạt tội phạm húy nặng hơn luật nhà Ðường.

Mặt khác, nó không nêu rõ việc cho phép dùng hiềm danh, tức là chữ đồng âm nhưng khác nghĩa với tiếng phải cữ và cho phép dùng riêng rẽ một trong 2 từ ngữ của một tên đôi phải húy. Tuy nhiên, qua một số dữ kiện xảy ra dưới triều đại này, chúng ta được biết rằng nhà Hậu Lê cho phép dùng hiềm danh. Bằng chứng là tên châu Lợi (Lị) Nhân đời nhà Trần đã được đổi thành lộ Lỵ Nhân vào đầu đời nhà Lê. Chữ Lỵ được dùng ở đây tuy cũng đọc như chữ lị (lợi) là phản nghĩa của hại, nhưng được viết khác và hàm ý một nhơn vật lớn đến một nơi nào như trong từ ngữ lị nhậm, hoặc nơi đặt trụ sở một cơ quan cai trị như lỵ sở, tỉnh lỵ chẳng hạn.

Về các tên đôi thì năm 1462, khi ấn định phép thi Hương, vua Lê Thánh Tông ấn định rằng chữ húy của quốc triều gồm 2 chữ thì không được dùng 2 chữ liền nhau, nhưng rời ra từng chữ thì dùng được với điều kiện là phải khuyên bên ngoài (tr 183). Tuy nhiên, năm trước đó, khi ban các chữ húy, vua Thánh Tông đã ghi tên phải húy của vua Thái Tông là Long, vua Nhân Tông là Cơ và tên mình là Thành. Thật sự, vua Lê Thái Tông tên là Nguyên Long, vua Lê Nhân Tông tên là Bang Cơ, vua Lê Thánh Tông tên là Tư Thành. Trong cả ba trường hợp trên đây, chỉ có chữ thứ nhì trong tên là phải húy, và quyết định về việc húy trong các kỳ thi chỉ áp dụng cho chữ thứ nhứt.

Dầu sao thì các việc trên đây cũng cho thấy rằng về mặt này, luật nhà Hậu Lê cũng đã khác với luật nhà Ðường.

b. Về luật nhà Nguyễn, thì điều 62 Hoàng Việt Luật Lệ (được P.L.F.Philastre dịch ra Pháp ngữ với tên là Le Code Annamite, bản in lần thứ nhì, Ch’eng-wen publishing company, 2 quyển, Taipei 1967, quyển 2, tr 329) về vấn đề chế tài sự phạm húy đã chép y như 2 bộ luật nhà Minh và nhà Thanh.

So với luật nhà Hậu Lê chịu ảnh hưởng của luật nhà Ðường, luật nhà Nguyễn noi theo luật nhà Minh và nhà Thanh đã trừng phạt tội phạm húy nhẹ hơn rất nhiều. Tuy nhiên, trong việc áp dụng phép húy, nhà Nguyễn đã thật sự theo lề lối nhà Hậu Lê hơn là theo đúng các điều khoản ấn định trong bộ luật của mình.

Sau khi vua Minh Mạng ban hành phương pháp đặt tên các ông hoàng bà chúa trong hoàng tộc, các tên vua đều là tên đôi như vua Thiệu Trị tên Miên Tông, vua Tự Ðức tên Hồng Nhậm, … ta đã thấy rằng trong các cuộc thi cử, các chữ đầu trong các tên trên đây như Miên, Hồng được xem là chữ lót và phải cữ theo phép khinh húy, còn các chữ sau được xem là tên và phải cữ theo phép trọng húy, ít nhứt là lúc nhà vua đang trị vì.

Vậy nói chung lại, cả 2 chữ họp lại làm tên của một nhà vua dầu có tách rời ra thì cũng đều phải húy cả, chớ không phải hễ tách rời ra thì được dùng một cách bình thường như luật ấn định.

Về tội viết tên các cung điện lăng tẩm khi đi thi, sự chế tài không thấy ghi trong luật. Nhưng cứ theo ông Ngô Tất Tố thì thí sinh phạm tội này chỉ bị đánh rớt và nêu tên ra một bảng con để bêu xấu chớ không bị sự trừng phạt nào khác. Sự trừng phạt này cũng được áp dụng trong trường hợp tên cung điện gồm 2 chữ được viết ra trong 2 câu khác nhau, nhưng 2 chữ ấy được đặt liền nhau (Ngô Tất Tố, tr 276-277).

Theo ông Ngô Tất Tố thì người thí sinh bị phạt đã viết về nhà Ðường như sau: “Tam bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại vi thử tai !”. Trong đoạn văn này, chữ chót của câu đầu là trường, chữ đầu của câu sau là ninh và 2 chữ để liền nhau thì thành ra Trường Ninh (tr 275-277), mà Trường Ninh là tên một cung trong hoàng thành nhà Nguyễn được xây cất năm 1822 và đến năm 1923 thì đổi lại là cung Trường Sanh (TVK, tr 59).

—>Mục II

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, NGUYỄN NGỌC HUY: Tên họ Người Việt Nam. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s