TỰ VỊ THẾ KỶ (Xuân Vũ): Cái bẫy vàng

CÁI BẪY VÀNG

Lão Cận lay lãy mũi kim khâu mẩu vải vào lỗ thủng của đít quần. Không biết vải cứng, kim lục hay tay yếu mà lụi mãi không thấu hai lớp vải. Cây kim dường như cũng kiệt sức như chủ nó, như con trâu già trên luống cày sâu.

Buổi chiều tù, cơm nước xong, ai cũng bận rối rít cho công việc cá nhân. Người thì nấu trà uống, người thì đâm lá rừng vặt vết thương, kẻ lại đan rổ để hái rau rừng, kẻ khác thì chế tạo thìa bằng những mảnh nhôm vụn, hoặc nối quai dép với những mẩu dây kẽm.

Cuộc sống tàn tạ héo queo, tuy có vẻ rộn rịp, nhưng sự rộn rịp đó chỉ là những hoạt động nhằm vào những nhu cầu thấp nhất của cuộc sống đang chết.

Bỗng lão Cận nghe tiếng chân đến gần từ phía sau lưng. Vốn quen chừng lão biết đó là ai. Thì đúng như rằng: tên Quản Bành.

– Cụ khâu gì đó ?

– Vá cái lỗ quần! – Lão Cận cố ý không ngó lên, đáp nhưng làm như không biết ai hỏi, nên không dạ thưa.

– Vá xong cụ cho tôi mượn cây kim tôi kết lại chiếc cúc long lay được không? Vừa rồi đi dự lễ quốc khánh trên trung đoàn lãnh được huân chương chiến công hạng ba đeo nặng suýt đứt cả cúc áo.

– Cái huân chương hạng ba mà nặng thế, nếu huân chương hạng nhất chắc là….

– Hề hề… đứt cả hằng mấy cúc đó cụ. Nào, xong chưa?

– Dạ chưa đâu ạ. Tôi kém mắt tay lại run nên khâu chậm quá đi mất!

– Cụ hượm đã, cho tôi mượn tí tẹo…

– Ông Quản đưa cái áo đây tôi kết lại cho!

– Tôi còn mấy cái áo cũng đứt mất cúc, cụ cho tôi mượn về kết một thể.

– Ông Quản đem xuống đây tôi kết cả cho!

– Tôi còn vá mấy cái lai quần.

– Tôi phải khâu cho xong để sáng mai mặc đi lao động.

– Cụ còn có một cái quần thôi sao?

– Tôi còn hai cái, cái lao động cái mặc ngủ. – Được trớn lão tố khổ luôn – Tôi vô đây ba năm có ai thăm nom gì, nên quần áo chỉ vá lại mặc. Tiền kiếp của cái quần tà-lỏn này là một cái quần tây kaki màu cỏ úa. Dần dần nó trở thành quần tây ngắn vì tôi phải hớt hai ống vá lên mông, vá hết hai ống đó rồi cắt hai túi vá tiếp. Cuối cùng cắt luôn túi sau vá nốt. Bây giờ nó chẳng còn ra cái quần gì. Tây cụt không ra Tây cụt, tà-lỏn không phải tà-lỏn. Toàn những mẩu vải chằng chịt nhăn nhíu như tấm bản đồ thế giới, ông quản coi đây – Lão Cận giơ cái quần có cây kim ghim ở mẩu vải vá dở lên cho tên quản giáo xem và tiếp – có cố lắm thì cũng phải đến chạng vạng mới xong các lỗ. Hà hà… cái quần “tố lãm” mà, thưa ông Quản! – Lão thấy thưa dạ uổng tiếng quá, nhưng nói ngang, nó ghim, có ngày mệt với nó!

– Vậy mai cho tôi mượn nghe! – Tên quản giáo tỏ vẻ bực rọc trong giọng nói khô khốc rồi đi thẳng không để lão già từ chối như mấy lần trước.

Nhưng lão Cận nói vói theo:

– Anh em ở láng họ “đăng ký” mượn cả rồi ông Quản ạ!

Lão Cận khất lần cho qua truông chứ kỳ thực thì lão không muốn cho tên ôn binh này mượn. Hắn mượn vật gì của ai, hắn hay quên lắm, có nhắc hắn cũng hứa trả nhưng rồi lại quên và quên luôn. Người chủ của món đồ bị mượn không dám đòi nữa. Vừa rồi hắn thấy có anh tù được người nhà thăm nuôi cho cái hộp quẹt Zippo mới. Hắn mượn đốt thuốc rồi đút túi luôn. (Hôm ấy ăng-ten báo có hiện tượng vượt ngục nên hắn mới đích thân lên chỗ lao động). Trên đường về, khi lội qua suối hắn kêu làm rớt. Ai nấy biết cái hộp quẹt nằm trong túi áo hắn, nhưng tình hình đang nghiêm trọng, đòi cái hộp quẹt lại có thể là một hiện tượng vượt ngục cũng nên, bởi vậy người chủ chiếc Zippo đành cho nó rớt luôn.

Hắn đi rảo các trại buổi chiều ngó đầu này, liếc đầu kia thế nào rồi hắn cũng tìm ra một vài món để “mượn.”

Không mượn được cây kim của lão Cận, hắn tức lắm. Lão là tên tù đàng hoàng nên không thể bới lông tìm vết để bắt tội lão. Hơn nữa lão là dân Nghệ An nên có tính bướng bỉnh thường trực. Lão lại nói bóng nói gió với đám tù “Tao là trâu già đâu nệ dao phay… cùn.”  Câu ấy lọt tai hắn. Hắn gờm lão lâu nay. Hắn ít khi đến gần lão nhưng khổ nỗi là lão có cây kim. Cây kim ấy lại là cây kim đít vàng. Có lần lão cho hắn xem tận mắt. Quái lạ! Nhưng mà đúng thật. Cái đít kim vàng chóe như đít con ong nghệ.

Hắn mơ cái đít vàng ấy. Vàng! Đó là những gì hắn mơ ước. Hắn muốn có một tí vàng cất trong người, nhưng đời hắn theo cách mạng từ đầu mùa tới nay, hắn cứ say mê công tác mà quên khuấy đi rằng trên đời này còn có một thứ làm cho người ta say mê hơn cách mạng, say mê đến có thể bỏ cả công tác và bất luận ai cũng muốn có, đó là vàng. Và sau khi cách mạng thành công, người say mê vàng nhất chính là người cách mạng.

Một tí đít kim thôi! Nhưng đó là vàng!

Có lần hắn thấy người nhà của tù nhân thăm nuôi đeo một chiếc đồng hồ vàng ba cửa sổ, hắn muốn gạ gẫm hoặc giở ngón này ngón nọ để chiếm đoạt dù phải tàn bạo đến đâu, nhưng hắn lại không làm được. Một lần khác vợ của một tù nhân đến đây. Người đàn bà đeo nhẫn vàng khi đến văn phòng. Hắn rắp tâm làm khó dễ để bà ta phải đút chiếc nhẫn, nhưng không hiểu sao khi hắn đích thân đưa tên tù ra “chiêu đãi sở” để gặp vợ thì hắn không còn thấy cái khoen vàng kia ôm ngón tay nọ nữa.

Thế là giấc mộng vàng bẵng đi một thời gian. Bây giờ lại lóe lên cái đít kim vàng của lão già này.

Lão dại gì cho hắn mượn! Vật gì vào tay hắn thì trở thành của hắn. Hơn nữa, đây là món đồ độc nhất của vợ lão đưa cho khi lão bị bắt, còn lại tới bây giờ. Lão đã đi không biết bao nhiêu trại, bị đô hộ bởi không biết bao nhiêu cái loại ngợm trơ trẽn với danh xưng Quản Giáo này. Thằng béo thằng gầy, thằng già thằng trẻ nhưng tất cả đều có những tánh đảng phú là xảo ác và ăn bẩn. Cứ mỗi trại lão tưới mồ hôi nước mắt của lão vài ba năm, không nhớ hết. Chỉ nhớ rằng tóc lão hãy còn xanh khi bước vào cổng tù thứ nhất mà nay thì đã trắng như bông. Ngày đó lão chưa để râu. Bây giờ râu dài hơn râu cụ Hồ trên ảnh treo ở hội trường. Vợ con không được đến thăm. Có lẽ gia đình không biết lão ở tù trại nào, nhất là không biết tù vì tội gì.

Tội cho lão là lão lại sinh ra cùng trên một mảnh đất với cụ Hồ, chỉ khác tí: sinh quán của lão là Quỳnh Lưu, chứ không phải Nam Đàn..

Còn thành phần thì cũng na ná như thành phần cụ Hồ: nhà lão có ăn… chỉ đến mức phú nông, bố ão không có áo mão quan lại như bố Cụ. Nhưng lão lại là phản động vì lão đã vô phúc không đầu thai vào một nhà cố nông, và càng vô phúc hơn lão lại ở trong một cái làng mà dân chúng dám dứng lên làm loạn và trốn ra biển lên tàu Mỹ vù vô Nam. Và càng đại vô phúc hơn nữa, làng này là một làng Công giáo. Vì thế mỗi người dân đương nhiên được coi là một tên phản động.

Đó là những điều lão suy ra chứ không ai nói rõ như thế với lão. Lão Cận tẩn mẩn vá xong cái lỗ thủng ở đáy quần nhưng trời hãy còn sớm. Nắng nhợt nhạt dát mặt sân từng mảng lớn như những tấm vàng lá với những hình thù khác nhau. Ngọn núi phía Tây che mặt trời chiều làm cho đêm đến sớm.

Lão vạch tìm những lỗ rách khác để vá nhưng không còn lỗ nào nữa. Lão bèn đột thêm một đường chỉ quanh mảnh vừa vá cho chắc.

Lão đang ngáp dài, định cất kim chỉ để ngã lưng, nhưng một tên tù đã tới hỏi mượn kim.

Lão Cận vẫn không cho. Lão nói:

– Cây kim này theo tôi đã mười năm. Khi ở nhà nó là vật dụng nhưng vào đây là kỷ niệm rồi chú em ạ!

– Gãy tôi đền.

– Đã bảo nó là kỷ vật mà! Chú có kim đền sao không xài để mượn?

– Vì tôi muốn dùng cây kim đít vàng xem tác dụng ra sao?

– Cũng là kim thôi, may vá thì cũng thế, khác gì.

– Đít nó bằng vàng ắt nó phải khác.

– Khác thì khác nhưng vẫn là cây kim để may vá cũng như anh với tôi, cũng đều là tù cả vậy.

– Đều là tù nhưng cụ loại ngoan cố, tôi loại tiến bộ.

Lão Cận ngừng tay ngó lên: câu nói chọc vào tim lão. Anh tù tiến bộ sau khi đối đáp bỏ đi. Được vài bước thì ngó lại cười. Lão không hiểu anh ta định nói gì với lão qua cái cười khó hiểu ấy. Đâu có gì để anh ta cười mà phải cười?

Lão Cận giật mình. Nó là thằng tù vừa được ở trên tặng danh hiệu “cải tạo tiến bộ.” Tiến bộ gì nó. Vụ “hiện tượng vượt ngục” vừa rồi anh em ngờ nó báo cáo để lập công. Anh em khóm A bị phạt cơm lạt một tuần lễ, căm hắn lắm, nhưng không làm gì hắn được! Không khéo hắn lại thuỗn cây kim đít vàng của lão.

Nghĩ vậy, khi may xong lão không giấu cây kim vào trong bọng thanh giường bằng nứa như mọi ngày nứa. Thế này thì ta phải giắt nó trong lai áo sáng mai khi đi lao động.

Bỗng nhiên hai giọt nước mắt rơi xuông gò má nhăn nheo sâu như mặt ruộng nẻ kỳ đại hạn. Vợ lão làm gi ở nhà? Có còn ở nhà đó hay đã đi đâu? Hay việc gì đã xảy đến? Đàn con của lão đã tản lạc hết rồi chắc! Lão đi đây lấy ai nuôi nấng ai dạy dỗ chúng? Ngày lão bị bắt thình lình, không kịp từ giã vợ con, không kịp cụ bị món gì cho thân. May sao bà vợ sáng ý, quơ gói quần áo cũ chạy theo ném lên xe. Khi đến nơi, lão soạn ra thấy có cây kim ghim vào cuộn tơ vàng bỏ trong túi một chiếc áo bà ba. Cuộn tơ càn lứa tằm cuối cùng của nhà lão trước khi vụ nhộn nhạo của dân làng xảy ra.

Có lẽ bà đã đoán được cái ngày ông hoặc cả gia đình phải tù đày hay ly tán cho nên bà cho chăn màn quần áo vào từng bọc sẵn sàng. Nhờ vậy trong ba năm đầu mặc dù nhà nước không phát vải, lão cũng không đến nỗi đóng khố mà đi lao động như một số anh em. Nhưng càn rừng, đốn nứa, đẵn gỗ, vải sồ nào chịu cho nổi. Mới ban đầu, áo dài tay trở thành áo ngắn tay, rồi áo ngắn tay trở thành áo không tay, rồi hai cái dồn lại một cái. Khi còn có độc một cái rách thì xé giẻ cất đó để đứt tay đứt chân thì rịt, hoặc bạn thân xin thì cho. Riêng cuộn tơ còn được một ít. Tơ bền phải biết. Mỗi lần áo quần rách đến mức hết xài, lão rút ra những đường tơ đã khâu vào đấy để dùng lại lần nữa, lần nữa. Quần áo rách hai ba xác, sợi tơ vẫn còn chắc.

Người đàn bà ấy trong đời lão – và chỉ một thôi – bây giờ ra sao? Lão nhớ cái lúc xe vừa chạy, bà vợ đuổi theo. Chiếc xe chạy nhanh lên, bụi bay lên. Bóng bà mờ dần trong bụi.

Lão đứng ở tận cùng đít xe thò cổ ra khỏi đám người bị ồn chật cứng như nêm, để nhìn. Bà vẫn rượt theo như cố bắt chiếc xe lại, nhưng bóng bà nhạt đi rồi khuất mất.

Sau xe chỉ còn có bụi đường.

Chế độ này ác thật. Thời Tây cũng không có đến thế mà.

Bố lão ngày còn sinh tiền dặn cậu bé Cận hai điều: Nửa đêm chớ có bắt con gà làm thịt vì nó đang ngủ ngon. Con chim trên cành chớ nên bắn, vì nó chết nó không biết tội gì. Chế độ này đối với con người không bằng cả người xưa đốì với loài vật.

Lão Cận thở dài, đưa tay đấm đấm sau lưng rồi đứng dậy ngó quanh quất., yên trí không ai để ý, lão giấu cây kim rồi ngả lưng lên giường.

Những đốt nứa chuyển răng rắc như những lóng xương của lão sắp bong ra.

o O o

Kẻng hôm nay chừng như khua sớm. Sương mù dày đặc. Người đi trước cách người đi sau vài bước mà bóng đã mờ. Lão Cận được xếp vào tổ lạo động nhẹ: cắt lá ủ phân xanh. Việc này chỉ giao cho những ai yếu sức khỏe và những kẻ được sự chiếu cố của Quản Giáo.

Trên đường đi lão Cận tạt qua chân núi thăm mấy cái bẫy chuột. Lão phải đặt rất xa trại để được chắc chắn khi lão ăn thịt chuột thì đó là những con chuột không có ăn thịt tù chết trong trại, ở trong trại có cả một bầy chuột cống xù lông vàng chuyên nghiệp. Chúng lấp ló ở miệng hang đào trong chân vách nhà xác. Chúng nó thính hơi lắm. Những cái xác chân còn mắc trong gông chưa kịp chôn, chúng đã ngửi thấy và đến khoét.

Ở chân núi này có một vệt đường mòn lướt trên đầu ngọn cỏ thấp. Lão biết đây là đường chuột đi. Lão đặt một dãy những ba chiếc bẫy. Hôm qua dính hai con. Cái bẫy thứ ba cũng sập nhưng không dính.

Ở cái vùng đất xã hội chủ nghĩa dành riêng cho những người chống chế độ này, ông vua quản giáo cả gan cho phép tù được quyền kinh doanh cá thể tí chút, vì không có hại gì đến mâm cơm của lãnh tụ.

Lão gỡ hai con chuột dẹp như hai miếng chuối ép. Ruột gan tóe cả đằng đít và hai mắt lòi ra. Một con có lẽ sập từ chập tốì nên thân nó đã cứng. Còn con kia thì chắc mới sập lúc gần sáng nên thịt nó còn mềm. Chao ôi, mình cũng ác thật. Lừa cho con vật vào gặm mấy hạt ngô đá và chân đạp phải cái máy làm bằng một hòn đá ngót hai chục kí-lô rơi lên tấm thân bé nhỏ của nó. Với loại “bẫy nhẹp” này con vật chết không kịp trối. Chúng không biết chết vì tội gì.

Lão đi làm luôn luôn lận lưng một dúm muối. Hễ có chuột dính thì lão thừa lúc nghỉ ngơi đem đi thui, rồi lột da, ướp muối bỏ trong ống nứa như mắm. Nếu không làm vậy thì đến chiều về trại, thịt đã sình.

Lão trút ra đốt lửa, nướng. Mỡ chảy xuống than bốc thơm làm rỏ dãi biết bao người.

Sáng hôm nay lão Cận chỉ gỡ được có một chứ tí tẹo. Nó bị đè nát bấy trông gớm quá. Lão nắm chót đuôi xách lên, xoay qua xoay lại để lượng định trên xác cái sinh vật chết bất đắc kỳ tử kia còn được bao nhiêu mẩu thịt khả dĩ bỏ vào mồm được. Chuột núi ăn sỏi đá mà cũng mập đáo để.

– Ê, ông già, sao thăm bẫy của tôi ?

Lão Cận đang cắm cúi kéo cần bẫy lên gài lại, ngoái cổ nhìn thì một cây đòn bổ ngay xuống. Lão ngã lăn, không kêu lấy một tiếng.

– Thằng già, ăn trộm bẫy!

Hắn nhặt lấy xác con vật và đi ra đường. Thấy tốp tù đốn nứa kéo ngang, hắn giơ con chuột chết to bằng ngón chân cái lên và đính chính lia lịa:

– Cái dãy bẫy này của tôi mà lão gỡ lấy chuột.

– Lão nào? – Một người hỏi.

– Cái lão ở lán C.

– Ở lán C có nhiều ông già.

– Cái lão có cây kim đít vàng.

– Mày láo! – Tao ở lán C đây! Cái dãy bẫy này là của lão đặt ra đã lâu rồi. Tao biết. Mày ăn trộm của lão thì có.

Có lẽ nghe tiếng cãi vã nên lão Cận cố rên lên một tiếng to cầu cứu.

Đám tù chạy vào. Thấy lão già quì úp mặt vào vách đá, cái đầu tràn những máu. Máu tuôn xuống ướt cả vai. Một người tù khỏe cõng lão về lán rồi lên văn phòng báo cáo với Quản Bành.

Quản Bành lập tức xuống lán xem sự tình. Lão Cận nằm mê man. Quản Bành kêu y tá băng bó.

Ngó quanh quất không thấy ai, Quản Bành lấy que nạy thanh nứa ở đầu giường tìm cây kim nhưng không thấy.

Hắn trở lên văn phòng ra lệnh cho cảnh vệ đi bắt tên Hơn – kẻ đã đánh lão Cận ở ven núi – về nhốt phòng tốì.

Những người tù và toán cảnh vệ thấy tên Hơn không có vẻ sợ hãi. Hắn cứ nói lải nhải: “Ăn trộm của tôi thì tôi đánh bể đầu!” Hắn đòi gặp riêng Quản Giáo nhưng Quản Giáo không cho.

Buổi chiều, tù về, ngồi quanh mâm cơm xì xầm không ngớt, mỗi người một phách:

– Ai phải ai quấy?

– Dù thế nào cũng không thể đánh người ta như thế được.

– Thằng ấy là con cưng của Quản Giáo! “Cải tạo tiến bộ” đây!

– Mà này, việc xảy ra cũng kỳ, lão Cận xưa nay đâu có thế!

– Miếng ăn là miếng lộn gan lên đầu.

– Miếng gì chứ miếng thịt chuột mà cũng lộn gan hay sao?

– Khi đã đói lại còn mất miếng ăn gì mà chẳng lộn!

Thằng Hơn nằm trong ngục tốì chẳng chút nao núng.

Nó không được cho ăn cơm chiều. Nó nghĩ thầm: Quản Giáo bận rộn nên quên! Đến khuya nó đói quá, nó bắt đầu chửi thề. Chửỉ thề, thấy hãy còn ấm ức, nó chửi thằng Quản Giáo đểu cáng, vô học, tàn ác. Nhưng nó chỉ dám chửi thầm. Thành thử ra nó chửi nó nghe. Nó than thở. Nó không biết nó tội gì ? Cây kim đít vàng nó đã lấy được trong lai áo của lão chưa kịp đưa cho tên cảnh vệ nộp cho Quản Giáo. Bây giờ ổng lại giam ta – Thằng Hơn nghĩ – Ông quên cả đi rằng ổng đã hứa sẽ cho ta ra trại sớm. Có lẽ nào ổng quên nhanh như thế? Có lẽ nào! ?

Thằng Hơn giật mình thức dậy khi có tiếng cửa nghiến. Ánh sáng từ ngoài lọt vào. Một ánh đèn pin xanh kinh hoàng rọi vào mặt hắn rồi một tiếng gắt gỏng:

– Ổng bảo mày đưa cây kim cho ổng.

– Ừ, đây này! – Thằng Hơn lật lai áo. Trong ánh đèn pin cây kim lóe lên lấp lánh. Thằng Hơn rút lấy đưa cho tên cảnh vệ – Ghim vào túi áo mày kẻo rơi mất. Mày đưa cho ổng nhớ bảo ổng đừng quên bỏ tao luôn trong này chết bà tao! Đem cho tao chút cơm chớ!

Tên cảnh vệ ghim cây kim vào miệng túi rồi lùi ra. Một tên khác bước vào với chiếc còng số tárn, bảo:

– Để tao còng mày lại cái đã rồi tao sẽ nói với ổng sau nghe! — Tên cảnh vệ khóa tay hắn nhanh như chớp rồi bước ra.

Cánh cửa đóng phập. Thằng Hơn không kịp van nài một tiếng

Chiều hôm sau, Quản Bành cho xếp đặt hội trường và khua kẻng họp toàn trại. Hội trường lúc nào cũng trang trí sẵn với những khẩu hiệu và ảnh các lánh tụ. Chính giữa hội trường là ảnh Cụ Hồ to bằng cánh cửa, treo hơi chụp xuống. Cụ có vẻ như nhìn bọn tù, đe: “Chúng mày gọi mã tao là cầu tiêu, tao nhốt chúng mày rục xương.” Hai bên là hai cái khẩu hiệu dài như hai cánh tay vượn của cụ, đúng ra là hai câu đốì mác lê. Một câu là: “Chủ nghĩa Cộng sản bách chiến “bất” thắng muôn năm. ” Câu kia hơi ngắn hơn: “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!. ” Về các khẩu hiệu treo hội trường có một câu chuyện hay hay. Số là hồi đó có một phái đoàn quốc tế đến thăm nên trại cho kẻ rất nhiều khẩu hiệu, lớp chào mừng phái đoàn, lớp ưỡn ngực khoe chiến thắng, trong đó cái câu “bách chiến” là trọng tâm. Nhưng không biết cái anh tù được “vinh dự” trao cho việc kẻ khẩu hiệu kia dốt như đồng chí tổng bí thơ hay vì anh ta gan cóc tía mà kẻ chữ “bách” ra chữ “bất” kiểu như chứ “bất” của ông đạo Dừa. Khi phái đoàn tới, phóng viên báo Nhân Dân có chụp ảnh đem về đăng báo để khoe lượng khoan hồng của đảng. Đảng mới nổ con mắt ra. Khổ cái là máy ảnh, chắc là của đế quốc, chụp rõ quá. Chữ Bất không đọc khác đi được. Và còn cay nữa là, nếu tên tù kia kẻ sai hai chữ “bất chiến bất thắng” thì cũng còn đỡ đỡ, đằng này nó lại chỉ kẻ sai có một chữ bất (bách chiến bất thắng) thế mới tai hại. Bách chiến mà lại bất thắng!

Sau khi phái đoàn “viếng” trại về rồi, nên anh tù nào cũng làm bộ có việc gì đến hội trường để liếc sơ một cái và khoái ngầm thằng nào đỉnh cao trí tuệ thế!

Vài hôm sau Quản giáo bị khiển trách và cái anh tù trí tuệ kia bị bắt đi đâu mất tiêu luôn. Còn tờ báo đã in tấm ảnh kia thì bọn tù trại này đời đời không được nhìn thấy. Đó có thể là một câu chuyện thật hay chỉ là một giai thoại, không ai rõ. Chỉ biết nó đã thành một chuyện đời xưa quốc cấm.

Tên Quản giáo cho làm mọi việc để tăng vẻ trang nghiêm của một phiên tòa. Hắn không quên đánh vần từng khẩu hiệu như để tìm chữ “Bất” tai hại kia. Rồi hắn cho chào cờ, hát quốc ca, mặc niệm v.v… trước khi khai mạc.

Tù ngồi dưới đất, ngước lên, nghe.

Hắn ngồi trên vít đốc tuyên bố:

– Hôm nay toàn thể các anh họp tại đây để nghe án lệnh của Ban Quản Giáo về việc anh Nguyễn Văn Hơn đã đánh chết ông Cận bằng một thanh gỗ vuông, cạnh bén. Với thanh gỗ này anh Hơn đã gây một vết thương nặng nơi sọ đầu phía sau của ông Cận bề dài năm phân và bề rộng một phân ba ly Tây. Ông Cận đã trút hơi thở cuối cùng vào 11 giờ sáng nay.

Tên Quản Giáo cố bắt chước những kết luận trong các hồ sơ bản án mà hắn được đọc cho có vẻ quan tòa.

– Chỉ vì một con chuột con mà anh Hơn đã đánh một ông già yếu đuối. Hơn nữa trước khi đánh, anh Hơn đã chuẩn bị thanh gỗ sắc cạnh chứ không phải chụp bậy cây ngoài rừng. Vậy là cố sát – Hắn hất hàm ra phía tên Hơn đứng trước mặt, hai tay bị còng ngoặc ra sau – Anh có muốn tự bào chữa gì không?

– Có! – Hơn đáp.

– Cho phép anh nói!

– Tôi đánh lão vì lão bắt con chuột sập bẫy của tôi.

– Tại sao anh biết là lão ta lấy chuột của anh ?

– Dạ, vì tôi gài cái bẫy đó. Có lần ông Quản Giáo thấy tôi nướng chuột, ông Quản Giáo hỏi tôi làm sao bắt được chuột tài vậy. Tôi nói tôi gài bẫy nhẹp ở hốc núi. Ông Quản Giáo cười: coi chừng ăn chuột yêu tinh đó nghe!

Quản Bành nói:

– Tôi nghe nói là anh gài bẫy chứ tôi không biết anh gài ở đâu!

Tên Hơn vẫn nghênh nghênh cái mặt không có vẻ sợ hãi chút nào. Đám tù biết thằng Hơn là “cải tạo tiến bộ” và là con cưng của Quản Bành nên sợ tên Quản tha bổng. Trại nào cũng vậy, Quản Giáo xử “tù vong là tù vong” xử tù sông là tù sống.

Một anh tù giơ tay xin nói. Quản Bành đang cần nhân chứng nên cho phép ngay:

– Tôi biết vụ gài bẫy này rất rành. Mấy cái bẫy sập chuột đó là bẫy của ông Cận,, Ông Cận là người nhà quê nên ông rất rành bẫy chuột. Ông nghiên cứu rất kỹ đường mòn chuột đi rồi mới đặt bẫy. Chính tôi đã giúp ông cạy mấy hòn đá trong chân núi để làm bẫy. Nhờ đặt trúng lạch nên bữa sáng nào đi làm ông cũng gỡ được một vài con. Ông có cho tôi ăn vài lần. Tôi biết chắc bẫy này không phải của anh Hơn.

Quản Bành hỏi tên Hơn:

– Anh có ai làm chứng rằng đó là bẫy của anh không?

Tên Hơn ú ớ.

– Nếu anh có ai làm chứng rằng đó là bẫy của anh thì tôi sẽ nghiên cứu.

– Dạ, tôi làm bẫy bí mật vì sợ người khác gỡ lấy.

– Nhưng cho rằng bẫy đó là bẫy của anh đi nữa, tôi chỉ thí dụ thôi, chứ tôi không nghĩ như vậy, thì anh cũng không thể nhẫn tâm mà đánh người bạn già cùng cảnh ngộ với anh đến chết. Anh còn muốn nói gì nữa không?

– Dạ tôi không muốn nói gì thêm.

– Như vậy là anh đã nhận tội?

– Dạ tội nầy do đâu, tôi chắc ông Quản Giáo là người sáng suốt nên ông Quản Giáo sẽ giảm nhẹ cho tôi.

– Chừng nào giảm nhẹ chưa biết, nhưng hiện giờ thì tử hình!

Hội trường lặng ngắt.

Quản Bành tiếp:

– Anh vô phòng tối ăn năn hối cải đi rồi mai tôi sẽ cho phép anh gặp tôi.

Tên tử tội được đưa trở về phòng tối. Tay vẫn còng.

Hắn vẫn cho là Quản Bành chỉ làm cho tù thỏa mãn chút thôi. Giết tha đều trong tay Quản Bành. Mà giết thế nào được! Thằng Hơn vẫn yên tâm không có tử tiết gì.

Sàn xi măng lạnh kinh khủng. Đây mới chỉ là đêm thứ hai. Thế mà hắn tưởng hắn đã chết xuống âm phủ hai lần. Không khí tanh nồng nặc. Tay còng, nằm bề nào cũng không yên. Hắn đoán đêm nay Quản Giáo sẽ bí mật cho hắn chuyển sang trại khác và hắn lại có môi trường để làm một cái ăng-ten mới toanh dưới lớp áo tù nhân. Vụ này xảy ra luôn.

Bỗng nghe tiếng khóa khua bên ngoài. Rồi sợi xích rơi “xoảng” xuống nền xi măng. Cửa mở.

Hai tên cảnh vệ lôi hắn ra. Một tên nói:

– Đi ra mà gặp ông Quản Giá…áo!

Thằng Hơn mừng rơn. Biết mà! ổng làm thế để xoa dịu tụi kia thôi. Nhưng khi hai tên cảnh vệ đẩy hắn đi thì hắn nhận thấy họ không đưa hắn lên văn phòng. Họ đưa hắn ra rừng.

– Ủa lạ này, sao ông Quản Giáo ở ngoài rừng? – Hắn hỏi.

– Ông ấy đang bẫy chuột – Một tên đáp.

– Ồ! Ổng Quản Giáo mà đi bẫy chuột! Tôi chưa thấy ông ấy bẫy chuột bao giờ.

– Có chớ. Ông ấy là tay chuyên môn, ngày nào ông ấy chả bẫy được dăm ba con.

– Sao tôi không thấy?

– Không thấy thì bữa nay thây! Hớ hớ!

Vừa đốì thoại với tên tử tù, hai tên cảnh vệ đã đưa hắn ra giữa một đám đất trống. Một tên rọi đèn chụp xuống đất.

– Đây, cái bẫy đây!

Tên tử tù ngó theo: một cái lỗ cạn cạn, méo méo tròn tròn. Đất vương vãi hãy còn mới. Bên cạnh cái lỗ, một mô đất lè tè cũng còn mới.

– Mày biết ai nằm đây không?

– Ai?

– Lão già bị mầy đập đầu.

– Ông Quản Giáo bảo tôi mà!

– Ừ thì biết rồi, ổng không bảo thì làm sao mày dám đập.

– Ổng bảo tôi làm vậy rồi ổng cho tôi ra trại sớm.

– Thôi quì xuống đi rồi ra trại sớm.

Tên Hơn bật khóc. Hắn khóc rưng rức. Hắn khóc hu hu. Hắn khóc đủ kiểu.

Một tên cảnh vệ ấn vai hắn bảo:

– Ổng muốn tẩy thằng cha già Nghệ ngoan cố lâu rồi mà chưa có cớ. Nay ổng dùng tay mầy. Còn mầy, mầy làm tai mắt cho ổng lâu rồi. Bây giờ mầy hết xài. Vì lộ tẩy. Ông không giết mầy thì tù cũng giết. Nhưng ổng giết thì ổng được tiếng nghiêm minh, được cái đít vàng của cây kim và nay mai ổng còn được cả con nhân ngãi của mầy nữa chứ. Mầy thấy ổng gài bẫy tài chưa? Hề hề… Ồng sẽ chạy mấy chữ về con nhân ngãi mầy, bảo lên đây rước mày xuất trại. Lần trước Ổng sẩy nó, nhưng lần này chắc là không!

– Mấy ông làm ơn….!

– Ơn gì? Nói để mầy biết, tụi tao chỉ phục mấy thằng tù có tư cách, kể cả những thằng dám đập cùm vào đầu tụi tao, còn thứ lem nhem như mày, tụi tao coi như dòi. Thôi, quì xuống! Muốn mấy phát?

xuanvu_sign

—->Cô Hoàng

This entry was posted in 4.Truyện ngắn, Xuân Vũ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s