TÂM SỰ NƯỚC NON 2 (Minh Võ)

frontcover_tamsunuocnon2

(Lê Thy đánh máy lại để đăng trên BVCV)

MỤC LỤC

Thay lời tựa

  1. Hồ Chí Minh – Ngô Đình Diệm và cuộc chiến Quốc-Cộng
  2. Chiến tranh ý thức hệ
  3. Tại sao thua?
  4. McNamara và chiến tranh Việt Nam
  5. Chiến tranh Việt-Pháp?
  6. Trở lại danh xưng “chiến tranh Việt-Pháp”
  7. Chống cộng hay chống độc tài?
  8. Đừng oán trách nàng
  9. Thiện Tâm nhưng Đãng Trí?
  10. Khủng bố 911 và viễn ảnh thế chiến IV
  11. Hoàng Xuân Hãn đúng hay sai?
  12. Một thế chiến lược toàn cầu mới đã ló dạng
  13. Bầu cử ở Iraq và Phiếu Trắng
  14. Một cơ hội bằng vàng.
  15. Trở lại vấn đề PHIẾU TRẮNG
  16. Con tố cha, vợ tố chồng
  17. Chuyên chính vô sản và các đại hội ĐCS
  18. Từ Đại Hội (X) đến Quốc Hội (XII) (hay Quốc Hội của Đảng)
  19. Hãy nhắm trúng tâm điểm
  20. Linh mục Chân Tín định siết cổ “đảng ta”
  21. Tin tặc và sự thật thật
  22. Đấu tranh cho một lá cờ
  23. Cố Tổng Thống Ronald Reagan và Giáo Hoàng John Paul II

THAY LỜI TỰA

Mấy năm qua chúng tôi có viết được gần một trăm bài đăng trên DCVOnline. Mới đây tờ báo điện tử này liên tục bị tin tặc đánh phá, đã biến mất trong một thời gian khá dài. Khi tái xuất hiện thì không còn đọc được những bài cũ nữa. Vì vậy chúng tôi chọn in lại một số bài có tính thời sự và/hay lịch sử từng được nhiều độc giả theo dõi. Hy vọng chúng có thể giúp các bạn trẻ hiểu thêm những vấn đề có liên quan đến cuộc chiến tranh quốc-cộng đã tàn phá đất nước ta và hãy còn làm dân ta trầm luân trong bể khổ. Những bài này phần nhiều nhắm trả lời hai câu hỏi sau đây:

  1. Tại sao ta đã thua Việt Cộng để nhân dân cả nước rơi vào cảnh bị nô lệ và Tổ Quốc có thể sẽ bị Trung Quốc thôn tính bằng cách này hay cách khác?
  2. Tại sao đã 36 năm rồi mà đất nước ta vẫn chưa thoát ra khỏi sự thống trị tàn bạo của Cộng Sản, trong khi các nước Đông Âu và cả Liên Xô cũ đã được giải phóng từ lâu?

Đây chỉ là công việc nhỏ bé của một người không có tham vọng chính trị, nhằm trình bày một số ý kiến trong phạm vi nghiên cứu thuần túy. Công việc đại sự, như cứu nguy tổ quốc hay giải thể chế độ độc tài tàn bạo hiên nay, chúng tôi không dám lạm bàn. Xin dành cho các chính trị gia và đảng phái đang có dư phương tiện với những chương trình, kế hoạch rộng lớn.

Tôn Vô Tử, binh pháp gia số một của Trung quốc, ở thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch, khi bàn về chuẩn bị tấn công trong thiên thứ 3 của 13 thiên chiến pháp đã viết: Tri bỉ, tri kỷ, bách chiến bách thắng (Biết người, biết mình, trăm trận trăm thắng). Đến nay danh ngôn đó ai cũng rõ. Nó không còn chỉ được áp dụng trong nghệ thuật dụng binh mà thôi. Từ đó suy rộng ra và lật ngược lại vấn đề, có thể nói: Lý do hàng đầu của chiến bại là không biết địch và không biết mình. Phần lớn nội dung tập sách này chú trọng hơn đến vấn đề biết địch.

Người Quốc Gia chúng ta ngay từ đầu đã không biết Hồ Chí Minh là Cộng Sản nên đã giúp đỡ, chứa chấp, nâng đỡ giải cưú ông ta khi còn ở Hoa Nam. Về sau vì không biết ông ta là Cộng Sản, nên những trí thức hàng đầu trong nước đã đi theo, ủng hộ, ca ngợi ông ta như là một anh hùng, một lãnh tụ yêu nước, có công trong công việc giải phóng dân tộc. Không cần nhắc tới những Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Xiển, Dương Đức Hiền v.v.. mà ngay như kỹ sư Hoàng Văn Chí, người đã kết án nặng nề Hồ Chí Minh như tội phạm trong Cải Cách Ruộng Đất; tác phẩm Từ Thực Dân Đến Cộng Sản của ông là một trong mấy cuốn đầu tiên được người Quốc Gia tham chiếu để lên án Hồ Chí Minh. Vậy mà ngay trong cuốn sách đó Hoàng Vãn Chí cũng đã gọi Hồ Chí Minh là anh hùng “vì đã làm được việc mà các đảng phái và nhân sĩ yêu nước không làm được là đánh đuổi được thực dân Pháp. ”

Rồi Tiến Sĩ Nguyễn Khắc Huyên, tác giả cuốn sách đầu tiên bằng Anh ngữ do người Quốc Gia viết về Hồ Chí Minh, sách này về sau được từ điển Bách Khoa Americana tham khảo và trưng dẫn, cũng viết rằng “Hồ Chí Minh… đồng thời cũng là nhà ái quốc lớn, mà sự dấn thân cho Cộng Sản không làm lu mờ lòng thiết tha yêu tổ quốc, “ở một chỗ khác ông còn gọi HCM là “an ardent nationalist”(nhà ái quốc nồng nàn, hay người theo chủ nghĩa dân tộc nhiệt tình).

Tiến sĩ Nguyễn Khắc Huyên viết cuốn Vision Accomplished? The Enigma of Ho Chi Minh vào năm 1971. Đến đầu thiên niên kỷ thứ 3 giáo Sư Hoàng Xuân Hãn cựu bộ trưởng Giáo Dục và Mỹ Thuật trong chính phủ Trần Trọng Kim, nổi tiếng vì cuốn từ điển khoa học, lại cũng ca tụng ông Hồ là người có công to lớn vì đã đánh đuổi Pháp giành độc lập cho Việt Nam (xem chương 11).

Tại sao nhiều người biết rõ Hồ Chí Minh đã giết hại hàng triệu đồng bào, cũng biết ông ta là Cộng Sản mà vẫn gọi ông ta là nhà ái quốc nồng nàn và có công giành độc lập? Theo chúng tôi thì chính vì các vị đó chưa hiểu rõ thế nào là người Cộng sản, và chủ nghĩa CS mà họ tôn thờ nó ra làm sao cả.

Cũng vì lý do đó mà nhiều người vỗ ngục tự xưng mình chống Cộng nhiệt tình lại cũng ca tụng HCM một cách trực tiếp hay gián tiếp. Chẳng hạn nhà văn nữ Dương Thu Hương đã dành không thiếu từ ngữ xấu xa nào để lên án và chửi rủa nhà cầm quyền CS trong nước hiện nay, lại đã viết cuốn Đỉnh cao chói lọi để ca tụng ông Hồ.

Hay một tiến sĩ giáo sư đã viết dưới bút hiệu Nguyễn Thiện Tâm một bài dài để kết tội và nguyền rủa đảng CS Việt Nam. Nhung cuối cùng cũng ca tụng Hồ Chí Minh là người có công lớn đối với dân tộc. (Xin xem chương 9)

Buồn cười hơn cả là Lữ Phương, một người tự cho mình là phản tỉnh, đã viết nhiều bài phê bình Mác, cũng hết lời tán tụng ông Hồ như vậy.

Tôi không nói đến những tác giả ngoại quốc ở đây, vì trong cuốn Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp của Minh Võ đã có danh sách gần trăm người rồi.

Nhưng không thể không nhắc đến nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam Lê Xuân Khoa. Ông không trực tiếp ca ngợi công của Hồ Chí Minh giành độc lập cho Việt Nam. Nhưng đã gián tiếp coi ông Hồ như người lãnh đạo toàn dân chống Pháp thực dân thành công, bằng cách gọi cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam từ 1946 đến 1954 là “chiến tranh Việt Pháp” (xem 2 chương 5 và 6).

Lỗi lầm của ông Lê Xuân Khoa cũng giống như lỗi lầm của những sử gia và ký giả ngoại quốc từng gọi cuộc chiến này là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh lạnh, hay chiến tranh Đông Dương I và chiến tranh Đông Dương II. Tất cả đều đã không nghiên cứu đến nguồn gốc của nó là cuộc thế chiến 3 tức trận chiến toàn cầu giữa các người Cộng Sản và thế giới tự do. Nó là một cuộc chiến tranh ý thức hệ (xem chương 2).

Cuộc chiến Quốc-Cộng nói trên là cuộc chiến giữa những người Quốc Gia và những người Cộng Sản Việt Nam được toàn khối cộng sản thế giới chi viện và lãnh đạo. Trong cuộc chiến Quốc-Cộng này chỉ có hai nhân vật xứng đáng gọi là kỳ phùng địch thủ. (Xem chương 1.)

Sở dĩ trong cuộc chiến này phe Quốc Gia đã thua và cả Hoa Kỳ cũng đã thua là vì những lỗi lầm chiến lược trong đó quan trọng nhất là lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa do ông Ngô Đình Diệm dầy công xây dựng. Khi ông Diệm bị lật và bị giết thì phe Quốc Gia Việt Nam chẳng những đã mất một lãnh tụ tài ba, có viễn kiến chính trị lạ lùng, mà quan trọng hơn là mất cái lợi thế vững vàng mà ông Diệm đã tạo nên của một miền Nam tương đối an bình, phồn thịnh hơn hẳn miền Bắc của ông Hồ.

Khi nền tảng của thể chế chính trị miền Nam bị sụp đổ tan tành (chữ của TT Richard Nixon) thì coi như miền Nam đã hấp hối. Rồi tắt thở vào cuối tháng tư năm 1975. (chương I)

Sau khi nắm trọn đất nước, Cộng Sản đã thiết lập một nền độc tài hà khắc trên toàn quốc, công khai tự đặt đảng Cộng Sản vào vai trò lãnh đạo với quyền hành tuyệt đối như một hoàng đế thời phong kiến. Những đại hội đảng được tổ chức long trọng, rềnh rang, như ngày đăng quang của tân vương. Những cuộc bầu cử cái gọi là “quốc hội” được kiểm soát gắt gao, để mọi người dân phải đi bầu, không được vắng mặt trong ngày “toàn dân đi bầu”. Mục đích để chứng tỏ với thế giới rằng toàn dân VN tán thành và hoan nghênh cái đại hội của đảng đó chính là đại hội của quốc dân, coi như toàn dân đã chấp nhận nền độc tài đảng trị này qua một cuộc trưng cầu dân ý gián tiếp. (Chương 17.)

Trong chương 13 và chương 15 chúng tôi đã nhân cuộc bầu cử tại Iraq để đề xuất phương cách bổ phiếu trắng, và/hay phiếu bất hợp lệ để cho cử tri bày tỏ sự phản đối cái lối “đảng cử dân bầu” phi dân chủ đó của CS.

Chỉ mấy tháng sau ở trong nước linh mục Nguyễn Văn Lý và khối 8406 đã gián tiếp hưởng ứng phương pháp của chúng tôi bằng cách kêu gọi tẩy chay bầu cứ kiểu đảng cử dân bầu này. Và chúng tôi liền kêu gọi đồng bào trong nước cũng như hải ngoại hãy nắm lấy cơ hội bằng vàng này để tấn công CS bằng một vũ khí phi vũ trang. (Chương 14). Tiếc rằng giới trí thức trong nước và cộng đồng người Việt Hải Ngoại đã quá thờ ơ cho nên cơ hội bằng vàng đã bị bỏ lỡ.

Xem ra đa số người ta thích những lời tuyên bố đao to búa lớn và những lời cổ võ cho bạo lực hơn là nhũng phương pháp bất bạo động, đối với họ còn quá mới mẻ.

Ở chương 8 chúng tôi đã khai triển thêm khái niệm chiến tranh ý thức hệ để chứng minh rằng chính những nhà báo và sử gia thiên tả phải chịu trách nhiệm về sự thất trận của chúng ta và Đồng Minh Hoa Kỳ, chứ không phải những Jane Fonda hay Trịnh Công Sơn và John Kerry.

Chương 23 về cố TT Ronald Reagan và giáo Hoàng John Paul II đã cho thấy thành quả của một cuộc chiến phi vũ trang tại Ba Lan ra sao. Chế độ Cộng Sản Ba Lan đã nhanh chóng sụp đổ kéo theo toàn bộ các nước CS Đông Âu đổ theo chứng tỏ những phương pháp tấn công bằng báo chí và đài Phát Thanh (Tự Do và Âu Châu Tự Do) đã hữu hiệu hơn vũ khí hạch tâm bội phần.

Và đó là nguồn hy vọng của chúng ta, những kẻ đã mất nước và hiện trong tay không có một tấc sắt.

Cuộc đời của một cá nhân cũng như sinh mệnh của một dân tộc. Hiện tại là hậu quả của dĩ vãng và là nguyên nhân của tương lai. Những gì đang diễn ra tại quốc nội khiến nhiều người ưu tư về hiểm họa tổ quốc bị Trung Quốc thôn tính bằng cách này hay cách khác, lả kết quả của chiến lược sai lầm dẫn đến mất miền Nam vào cuối tháng Tư nãm 1975. Thì cũng tương tự như vậy, những gì đang diễn ra trong nước vả tại hải ngoại ngày hôm nay sẽ là nguyên nhân của một tương lai đen tối trong lương lai. Không thể khác được. Trừ phi sự thực lịch sử được tôn trọng và trình bày trung thực để con em chúng ta hay hậu duệ của chúng nhìn ra khuyết điểm của cha ông mà tránh hầu tìm ra hướng đi chiến lược đúng đắn cho một cuộc phản công thắng lợi.

minhvo_sign

Miền Nam Cali
những ngày cuối năm Canh Dần
(Tháng Giêng 2011)

—->Hồ Chí Minh – Ngô Đình Diệm và cuộc chiến Quốc-Cộng

This entry was posted in MINH VÕ: Tâm Sự Nước Non, Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.