THÉP ĐEN IV: 21-30 (Đặng Chí Bình)

– 28 –

ĐÔI BẠN NGÀY NAY

Thằng Lợi không có thời gian để trực tiếp điều hành, chuẩn bị cho chuyến đi, cũng như con thuyền, nên về tài chánh đều do phía thằng Lợi đảm nhận.

Riêng về phía tôi, vợ chồng Lợi đã căn dặn kỹ càng, chi tiết: “Nếu chuyến đi trót lọt thì không nói làm gì, trường hợp bị bể, bị bắt, tôi sẽ đóng vai của thằng Lợi. Tôi đã rõ về đời thằng Lợi, cả gia đình con cái, vợ của nó. Cho nên, nếu tàu bị bất thì sẽ là thằng Lợi bằng xương, bằng thịt. Điều này đều đã được dặn dò sơ qua, cho những người quen biết Lợi, trong chuyến đi. Theo anh chị Lợi:

Tôi là một người nguy hiểm. Nếu, lại rơi vào tay Việt Cộng thì chắc chắn được về lòng đất sớm, là may. Nếu sống, về chậm bao lâu, thì bị hành hạ khổ cực bấy lâu, rồi cũng chết trong khổ đau. Cho nên, còn trong giai đoạn VC chưa nắm hoàn toàn ngóc ngách ở miền Nam, tôi đóng vai là thằng Lợi mới được. Còn về thằng Lợi, nó đã là thổ địa mảnh đất này, chỗ nào nó chui cũng được Nó còn đập tay vào vai tôi, nói đùa bỡn như, không có chuyện gì:

– Tao biết, mày thừa tài để đóng đạt vai trò !

Lòng tôi thì lịm đi, vì xúc động! Tôi hình dung, nếu tôi bị bắt ở trong trại giam, chị Lợi sẽ vào để tiếp tế thăm hỏi chồng mình. Để công an khỏi nghi ngờ, tôi và chị Lợi phải như thế nào, trước mặt CA? Thế nào với các con tôi: Mỹ Linh, Hữu Lực, Hữu Lượng và Hữu Luyện? v.v. . .Tôi nhìn đăm đăm vào mặt thằng Lợi, nó cũng chằm chằm nhìn tôi. Dưới ánh điện, tôi còn nhìn rõ con ngươi của nó hôm nay, dài ra như hình trái xoan.

Đôi con ngươi ấy có mầu xanh của nước biển, thỉnh thoảng lại lóe sáng. Cái mầu xanh biển khơi này, là cái mầu của thủy chung. Dù có giông tố, bão bùng thì vẫn trước sau như một, muôn đời vẫn là mầu xanh. Tôi nhìn qua cửa sổ, dù trời đã tối đen, nhưng tôi vẫn biết trong cái đen tối mênh mông vô cùng đó, có một đấng thượng đế tối cao uy quyền. Tôi như muốn quỳ xuống để cảm tạ Người, đã ban cho tôi một người bạn, đã cho tôi được hưởng những nghĩa tình bao la như đại dương của bạn bè. Óc tôi liên tướng đến đôi bạn ngày xưa: Lưu Bình, Dương Lễ, và một đôi bạn ngày nay, trong một môi trường: tình người hình như đã cạn khô. Tôi nhớ lại hai ba tháng trước, có lần thứ Bẩy, Chủ Nhật tôi đến nhà Lợi, chị Lợi đã ngần ngừ hỏi tôi, như sợ tôi từ chối:

– Anh Bình có thể giúp tôi, một việc được không?

Nhìn thằng Lợi, rồi vừa cười, tôi vừa nói:

– Chị làm cái gì mà quan trọng thế! Cái gì tôi làm được thì chị cứ nói.

Chị Lợi vào buồng xách ra hai cái túi xách, để trước mặt tôi:

– Tôi còn nhiều việc quá! Tiền họ đóng hụi cho tôi hàng tuần nay, hơn một chục bát “hụi”. Tôi còn để lung tung, nhờ anh sắp xếp lại, loại nào ra loại ấy, rồi anh cũng đếm dùm, anh ghi ra giấy rõ ràng, cho tôi nhé ! Cám ơn anh trước!

Vợ chồng Lợi còn nhờ tôi trông luôn nhà, hai vợ chồng phải đi có việc Giấy 50 đồng, 20 đồng, 10 đồng, 5 đồng, 1 đồng lộn tùng phèo, đầy hai cái túi xách bằng nhựa. Một mình tôi làm gần 3 giờ đồng hồ, trong khi đời sống của tôi khi ấy, 10 đồng đã là một vấn đề không nhỏ, tôi vừa sắp tiền, đầu óc tôi miên man. Trước hết tôi phải xin cám ơn tấm lòng biết người, của vợ chồng Lợi, đã tin tưởng một người bạn. Phần tôi tự hiểu, phải hành xử sao cho xứng đáng với vợ chồng nó. Tôi nghĩ một câu, không nhớ rõ của vị nào; Chỉ những người có tâm hồn, mới được hưởng những ân tình tâm hồn. Không có tâm hồn của Roméo, thì cũng không có tâm hồn của Juliette.

Cứ đi tìm thì chả bao giờ thấy, dù nó ở ngay chung quanh mình .

Xin trở lại những chuẩn bị của chuyến đi.

Tôi về đến khu Ông Tạ đã 9 giờ 30 tối. Khi vào đến cổng xứ Nam Hòa, dưới ánh đèn điện mập mờ sáng tối, một hình ảnh vẫn ghi vào tiềm thức dịu dàng, lâng lâng của tôi. Thầy tôi chống gậy đầu tóc bạc phơ, đang cầm tay dẫn mẹ tôi 72 tuổi mù lòa, đi phía sau. Hình ảnh một ông cụ đầu bạc, dẫn dắt một bà cụ mù lòa. Cả khu vực ấy: Nam Hòa, Nghĩa Hòa, Sơn Tây và khu Thánh Tâm, hình như nhiều người nhìn thấy hơn một lần.

Tôi đã đến thay thầy tôi dẫn mẹ tôi về nhà, tôi cũng băn khoăn hỏi mẹ tôi:

– Sao hôm nay, thầy mẹ về chầu muộn thế?

Mẹ tôi nói rất nhỏ, nhưng tôi vẫn nghe rõ:

– Cha Bình ( giống tên tôi), hôm nay người giảng thêm về: “tình thương yêu, đùm bọc giữa người với người “.

Tôi cũng nói luôn với mẹ tôi là đêm 14-1 này tôi sẽ ra đi. Mẹ tôi, đem cả hai tay nắm chặt tay tôi như muốn giữ lại, nhưng miệng người lại nói:

– Mẹ vẫn hàng ngày, cầu khấn Chúa và Đức Mẹ Maria cho con !

Về nhà cơm nước xong là tôi lên gác ngủ, khoảng 11 giờ tôi đã ngủ được đâu, nghe tiếng mẹ tôi vọng lên:

– Thằng Bình đã ngủ chưa con?

Bật dậy, tôi vừa xuống gác vừa thưa khe khẽ, sợ phá giấc ngủ của thầy tôi. Tôi vào ngồi bên người, cũng thì thào:

– Sao mẹ chưa ngủ?

Người không nói gì, người sờ tìm tay tôi, rồi người giúi vào tay tôi, một cái khăn tay nhỏ, người cũng thì thào:

– Con hãy giữ kỹ để phòng thân !

Tôi khẽ bước xuống, ra mé cửa sổ có ánh sáng đèn đường chiếu vào, có 2 tờ giấy 50 đồng và hai chiếc nhẫn vàng, mỗi chiếc một chỉ đã móp méo. Tôi hiểu mẹ tôi lòa đã 16 năm rồi, người không có tiền, chắc rằng do các em tôi dấm dúi biếu mẹ, mẹ tôi đã dành dụm, chắt chiu để ” thủ “. Bây giờ vì con, mẹ tôi có tiếc gì? Nước mất của tôi đã dàn ra, nhưng mẹ tôi làm sao mà nhìn thấy! Hai chỉ vàng, một trăm bạc với lúc có, thì không là gì, nhưng trong lúc này! Tôi gói cả lại, ngửa bàn tay của người, rồi đặt lên, tôi nói trong nước mắt:

– Xin mẹ tha tội cho con! Con bất tài, trở thành con bất hiếu!

Để cho mẹ già yên lòng, tôi bóp nhẹ tay người nói thêm:

– Thân con xoay xở được! Mẹ hãy giữ lấy phòng hờ cho thầy mẹ!

Chỉ còn bốn ngày nữa, ngày ra đi càng đến gần, nhiều việc càng dồn dập, tôi đã sang chú Tuất + Xuân. Tôi đã đi với cô Thu vào Chí Hòa thăm chú Hoàng, tôi đều đã nói với các cô chú ấy chuyến đi của tôi và nhắc nhở hãy thay tôi trông nom cha mẹ mù lòa già yếu. Những ước vọng của chuyến đi của tôi có ba tình huống:

Đẹp nhất. Đi đến nơi mình mong muốn, chuyến đi trót lọt.

Điều thứ nhì là sẽ chết ở biển khơi, tôi vui lòng từ giã cuộc đời này.

Điều thứ ba là điều xấu nhất, điều bất hạnh nhất là bị bắt.

Sáng nay thứ Bẩy là ngày tôi phải ra chợ Nam Hòa, lao động xã hội chủ nghĩa. Ngoài hai người đã có từ những tuần trước, là cậu Từ sĩ quan Hải quân và cậu Quý chuẩn úy Thủ Đức, hôm nay có thêm hai anh nữa. Hai anh này đầu cũng đã điểm sương. Mới sáng sớm, năm anh chàng của VNCH bị một cô CA áo vàng, chỉ huy sai bảo “tóe phở , móc lỗ cống này, quét con đường kia, dọn đống rác kia, khênh cái sạp này v.v. . . Bao nhiêu bà con qua lại chợ búa, họ đều nhìn với những nét mặt trầm tư, những đôi mắt cảm thông với những người đã chiến bại.

Riêng tôi, vừa làm vừa ngắm nhìn từng căn nhà góc phố, từng chiếc lều, từng gian hàng của ngôi chợ, tiếng chuông lanh lảnh, thánh thót của nhà thờ Nam Hòa. Tất cả là quê hương, là ruột thịt của tôi, tôi sắp phải lìa bỏ, từ giã để ra đi đến một phương trời chưa biết.

Cô Ngọc Anh nhìn tôi hôm nay, tôi cảm thấy có một chút lạ thường. Cũng khuôn mặt chiếc bánh “xèo” vừa lửa, vàng ươm ánh lên nét mời mọc, tôi nhìn cô như muốn nói “cảm ơn” tối hôm qua tôi trình diện xin chữ ký của cô. Được thỏa thuận của bốn anh kia, tôi đề nghị hôm nay lao động sớm hơn một giờ, từ 7 đến 11 giờ thay vì trước đây 8 – 12 giờ. Cô đã nhìn tôi đăm đăm và gật đầu. Ngoài ra như tôi muốn ghé vào tai cô thì thào: “Hôm nay lần cuối, xin giã biệt cô bánh “xèo” nhé !”

Vì đã hẹn trước với thằng Lợi, vừa dứt điểm LĐXHCN, tôi “nhót” lên yên chiếc xe đạp phóng về khu Thanh Đa, cầu Kinh. Trước ngày đi, gặp nhau để xác định mấy điều quy định.

Hôm nay thằng Lợi có việc phải sang cầu ông Lãnh, chiều mới về, nó bảo tôi phải chờ nó về ! Tôi rủ cháu Lượng và cháu Luyện ra cầu Kinh chơi, mấy chú cháu vui đùa bên ven bờ dòng sông. Nhìn con sông nước chảy hiền hòa, với những khóm dừa nằm ngả bóng hai bên bờ. Xa xa mãi sâu phía trái tôi nhìn rõ, những trái chôm chôm và mãng cầu, dòng liên tường của tôi một thoáng giật lùi lại hơn hai mươi năm trước ở Lái Thiêu Bình Dương, với những ngày cuối tuần đầy hoa mộng thời niên thiếu cắp sách đến trường. Tôi quay lại hỏi hai cháu, tay chỉ về phía những chòm cây xanh um:

– Các cháu có thích đến xem vườn chôm chôm đó không?

Cả hai đứa đều hớn hở ra mặt, thằng Lượng dõng dạc:

– Chúng cháu thích lắm chứ! Bố cháu không chịu dẫn chúng cháu đi!

Vừa đi tôi vừa nói, như vui đùa:

– Bố các cháu là người ham việc, còn chú lại ham chơi, nên mới không có tiền !

Đến gần vườn trái cây, nhìn rõ toàn bộ có một vẻ không có người chăm bón, một vài cành cây gẫy, thậm chí có một cây mận ( roi ) đã đổ nằm ngang lối đi. Đây đó cỏ đã trườn ra nhiều khoảnh, một ông già quấn khăn rằn, nằm hút thuốc rê phì phèo trên một chiếc võng đang đu đưa. Một căn nhà hai gian, vách gỗ lợp ngói úp, ở sâu mãi giữa vườn. Chú cháu dõi theo tiếng con chim chèo bẻo đang chuyền cành, thỉnh thoảng lại kêu lên hai tiếng: u. . .tí. . . .u. . ..tí. . . .Càng gần đến chiếc võng của ông già chừng ngoài sáu mươi, tôi hơi nghiêng mình nhã nhặn chào, khi thấy ông già quay ra:

– Thưa bác nằm nghỉ trưa?

Mặt ông già đang tươi tỉnh, nghiêm hẳn lại rồi tỏ ra lạnh lùng:

– Ừa……..ừa……..?

Hơi ngạc nhiên, nên tôi hỏi tiếp:

– Vườn trái cây của bác, hình như không có người chăm sóc?

Ông già nhỏm hẳn người, ngồi dậy. Nói như phì ra từ một niềm ẩn ức ở trong lòng:

– Vườn cây của người ta như ni, lại bắt gộp vào làm hợp tác xã Hai năm nay, tôi không mần nữa!

Để xem lòng dân miền Nam, tôi nói mà như hỏi:

– Các bác nông gia không đồng ý, sao không biểu tình phản đối?

Ông già bỏ cả hai chân xuống dép, đứng hẳn lên:

– Chế độ cũ thì mới biểu tình được, chứ chế độ này có cho biểu tình đâu! Xã này đã bẩy người bị bắt rồi!

Thấy hay hay, tôi chân thành nói thực về tôi:

– Cháu mới ở tù ngoài Bắc về, nên nhiều điều không biết, hôm nay chỉ vì theo tiếng hót của một con chim nên lạc vào vườn, để gặp bác.

Ông già đổi thái độ ngay, ông nói lẹ mà như rống lên:

– Chèng đéc ơi! Tôi tưởng cậu là cán bộ cỡ của miền Bắc chứ! Cậu nói tiếng Bắc ” rặt “!

Ông già kẻo tay tôi, rồi nhìn hai cháu Lượng, Luyện:

– Con của cậu đấy hả?

– Dạ, con của người bạn! Cháu chưa có gia đình!

Thế là ông già lại thắc mắc: “Trông đã bốn mươi mấy rồi, sao lại chưa có vợ? “. Cứ chuyện này lại ra chuyện kia, để rồi ông già tên là Huỳnh Đức kéo tay tôi vào nhà giới thiệu bà vợ, cũng hiền hậu, ông Huỳnh Đức cũng nói thực:

– Trước 1975, năm ông đã che giấu nhiều cán bộ cộng sản , ông có hai đứa con trai đã theo vào bưng vừa bị hạ tầng công tác do bản thân chúng nó, và của nông gia chúng tôi. Bây giờ chúng tôi chẳng cần trồng cấy, cây trái nào ra bao nhiêu, hái mà hưởng, chúng tôi đã hiểu rồi!

Ông bước vào buồng loay hoay một lúc, xách ra một cái túi bao tải con, đặt trước mặt tôi:

– Cậu mang về cho lũ nhỏ ăn chơi!

Tôi không thể từ chối, cuối cùng tôi đã phải mang về một túi lớn ổi, chôm chôm, mãng cầu. Tôi thăm hỏi bác già Huỳnh Đức để hiểu thêm tâm trạng của người dân Nam bộ. Tôi đã hiểu ở miền Bắc, mấy chục năm dưới sự kìm kẹp hà khắc của VC, hầu hết người dân đều căm phẫn, phản đối. Nhưng với cái tài lắt léo, chuyển đổi, hóa giải có một không hai của tụi lãnh đạo VC, kết hợp với khẩu súng và trại tù, nhân dân cũng đành chịu đói khát lầm than.

Cái tài mà ngay mới đây – đầu 2004 trên intemet- bà Dương Thu Hương, một văn sĩ trong lòng của chế độ, do chính chế độ VC đào tạo đã viết và phát biểu: ” Tháng ….1989, cả thế giới loài người đã xôn xao, ngạc nhiên ghê tởm lên án nhà cầm quyền của Trung Quốc, đã đàn áp đẫm máu dã man ở Thiên An Môn. Đã dùng xe tăng, súng lớn bắn xả vào đám biểu tình của sinh viên và người dân tay không, của Trung Quốc.

Thằng Lợi đã về, điều nó căn dặn chính là khi xuống thuyền, tuyệt đối không để ai biết sự quen biết giữa tôi và nó. Ngoài ra, chị Lợi đưa cho tôi một cái nhẫn vàng hai chỉ với lời dặn dò thân tình:

– Anh hãy cất dấu kỹ, trong cái thế chạy trốn, hay bị bắt, hãy đút cho công an mà chạy.

Một điều nữa, chị Lợi sẽ tùy theo, cách vài tháng sẽ đưa gạo xuống cho ông bà cụ. Tôi từ chối là tôi đã giả dối với bạn, nhận thì lòng tôi cũng không nín được tiếng thở dài, cho cái hèn, kém của mình. Theo sự nhắc nhở cuối cùng của thằng Lợi, đúng 5: 00 chiều ngày 14 – 1 – 1981, tôi sẽ đón một chiếc xe hàng QH trên cầu Trương Minh Giảng. Khi lên xe, có người hỏi thì đưa miếng bìa con mầu vàng có chữ Huế+ Qui Nhơn ( nét chữ của Lợi ) cho họ, khi đi qua đồn Cỏ May, xe sẽ đậu ở chỗ qui định. Lúc ấy sẽ có người đón đưa, như vậy, mỗi người đi đều có sự dặn dò, qui định đón, đưa riêng.

Sáng ngày 14 trước khi tôi đi làm tổ mành trúc, tôi đã căn dặn mẹ tôi những điều cần thiết. Buổi trưa, sau khi cơm nước xong, tôi vào ôm cổ mẹ tôi, rồi thầy tôi, không hiểu ở nhà mẹ tôi có nói gì với thầy tôi không? Khi tôi ôm cổ thầy tôi, thầy tôi cứ ôm tôi mãi, người không chịu bỏ tay ra, miệng thì cứ run rẩy thều thào:

– Con đi…..Chúa phù hộ……..cho con!…….

Trong khi nằm trong buồng, mẹ tôi bắt đầu khóc lóc, gào lên:

– Mày là thằng con bất hiếu! Mày không giúp đỡ tao thì thôi chứ, mày còn ăn bám mà không biết nhục à ?

Ba giờ, tôi xách xe đạp và chiếc túi có bộ quần áo cũ ra khỏi nhà, trước những con mắt của một số người hàng xóm chung quanh. Các khâu, đoạn đều như dự trù, chỉ lúc qua đồn Cỏ May, trình giấy tờ sao đó, lằng nhằng đến 20 phút. Tôi không hiểu móc ngoặc, hay đàn xếp giữa CA và bến bãi ra sao? Khoảng 10 giờ, họ dẫn nhóm chúng tôi 7- 8 người theo họ ra thuyền.

Việt Nam cũng có Thiên An Môn, nhưng những nhà lãnh đạo của CS Việt Nam đã chặt, đã băm Thiên An Môn Việt Nam ra hàng nghìn mảnh, rồi họ ngâm dầm vào thuốc mê và thuốc độc, sau đó họ rắc vào khắp người dân, nên đã tan biến. Không một ai hay, thế giới lại càng mù tịt. Riêng về lãnh vực này, những nhà lãnh đạo của Trung Quốc phải cắp cặp sang, để những nhà lãnh đạo Việt Nam dạy cho “.


Chương 29: Ra Khơi Tìm Tự Do

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Đặng Chí Bình. Bookmark the permalink.