TÂM SỰ NƯỚC NON 2 (Minh Võ): Đừng oán trách nàng.

frontcover_tamsunuocnon28- Đừng oán trách nàng

Nàng là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng. Nàng là con một diễn viên điện ảnh khác còn nổi tiếng hơn. Tên nàng là Jane Seymour Fonda được gán thêm hỗn danh Hanoi Jane. Tên cha nàng là Henry Fonda.

Từ thiếu thời Jane đã có mặc cảm tự ty. Do mẹ nàng, Frances Seymour Brokaw, đã có một gái với người chồng trước, và đang muốn đến chết mê chết mệt một mụn con trai, thì lại sinh ra nàng, coi như của nợ. Cho nên khi bà có thằng con trai đầu tiên, ông bố chụp hình thằng bé (tên Peter) đưa về cho Jane xem thì Jane òa khóc và chạy xô ra ngoài chẳng thèm ngó.

Người ta cố gắng gượng gạo bào chữa cho tính tình bất thường của cô đào nổi tiếng. Có phải vì vậy mà Jane đi theo phản chiến, đến tận Hà Nội cổ võ cho cộng sản, lên án đồng bào của mình đang chiến đấu chống cộng sản Bắc Việt không? Thực ra nàng đã ăn phải bả tả phái thiên cộng từ tuổi 32, khi nàng dan díu với đạo diễn Pháp Roger Vadim, từng là chồng của Brigit Bardot.

Mới đây thôi, sau 15 năm vắng bóng trên màn ảnh lớn, Jane Fonda trở lại đóng phim ở tuổi 67 (!). Có người cấm chiếu phim này (Monster-in-law, mẹ chồng quái quỉ) trong vùng của ông ta.

Jane viết hồi ký (My Life So Far, đời tôi cho tới bây giờ). Trong buổi ra mắt sách, một cựu chiến binh Mỹ trong khi chờ xin chữ ký cúa tác giả đã nhai thuốc lá (tẩu) để đến lượt mình đến trước Jane liền nhổ toẹt bãi nước thuốc vào giữa mặt mụ cho bõ ghét.

Tuy Jane nổi tiếng là phản chiến, phản bội những chiến binh Mỹ chiến đấu hy sinh vì lý tưởng Tự Do, và để bảo vệ tổ quốc, nhưng lạ thay, nàng vẫn được nằm trong danh sách 100 bậc nữ lưu danh tiếng nhất thế giới được vinh danh trong thế kỷ 20!

Bất bình về sự kiện này, một cựu chiến binh Mỹ Ronald D. Sampson, lên tiếng tố cáo Jane đã phản bội các chiến binh Mỹ ra sao, khi nàng đang có mặt ở Hà Nội. Ông thuật lại rằng khi cô đào chiếu bóng vào thăm trại tù, bọn cai tù cho tù binh tắm rửa sạch sẽ rồi dẫn ra gặp cái mà chúng gọi là phái đoàn hòa bình. Jane đã sỗ sàng hỏi các tù binh Mỹ những câu hỏi như: “Anh có hối hận đã tha bom giết đàn bà trẻ con không? Anh có biết ơn những người đã bắt giữ và đối xứ nhân đạo với các anh không? ” Các tù binh vô tình tưởng Jane Fonda chỉ giả vờ vậy, nên đã viết sẵn số an sinh xã hội của mình chờ khi nàng đến bắt tay thì dúi mẩu giấy vào tay nàng để hy vọng nàng sẽ mang về Mỹ báo cho thân nhân biết mình còn sống. Nhưng Jane đã trao tất cả những mẩu giấy đó cho cai tù. Vì vậy họ bị hành hạ đánh đập dã man…

Tại sao mãi cho đến bây giờ, khi mà Jane Fonda đã có lời xin lỗi công khai về chuyện cũ, những cựu chiến binh Mỹ nói trên mới dám lên tiếng tố cáo sự phản bội của Jane Fonda? Đó là câu hỏi khiến người viết có mấy nhận xét sau đây.

Siêu cường Mỹ đã thua một đạo binh nghèo, nghèo đến nỗi không có được bộ quân phục đàng hoàng, chân đi dép cao su, đâu đội nón tai bèo. Điều ấy có vẻ phi lý đến độ ngày nay hãy còn những vị tiến sĩ viết rằng Mỹ không thua, chỉ giả vờ thua để tháo chạy, hay chạy làng, vì đã nắm được Liên Xô và Trung Quốc. Viết thế để lên án đồng minh Mỹ phản bội và chạy tội cho “chủ” tháo chạy vào giờ phút quyết liệt…

Chúng tôi đã có nhiều dịp khẳng định siêu cường Mỹ đã thua thực sự. Và một trong những lý do quan trọng nhất khiên Mỹ thua là phong trào phản chiến, không phải chỉ ở trên đất Mỹ mà tại nhiều nơi trên thế giới. Vatican cũng lên án chiến tranh Việt Nam. Vì Giáo Hoàng Phao-Lô VI lên tiếng can thiệp nên tổng thống diều hâu Nixon đã bó buộc phải cho lệnh ngưng cuộc dội bom dữ dội Hà Nội và Hải Phòng dịp Giáng sinh 1972.

Jane Fonda chỉ là một trong số hàng triệu dân Mỹ phản chiến. Nhưng vì bà ta là một siêu sao màn bạc nên được chú ý quá đáng đó thôi. Ngay trong hàng ngũ người Việt quốc gia hiện tỵ nạn CS trên đất Mỹ cũng có những nhà báo nhà văn, nghệ sĩ đã từng tỏ thái độ không tán thành chiến tranh, tức cũng phản chiến ở một mức độ nào đó. Chẳng cần nhắc đến những Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lê Khắc Quyến… xa xôi.

Phong trào phản chiến bùng lên ở cuối thập kỷ 60 và đầu thập kỷ 70 phát xuất từ một, hay nhiều lý do trong những lý do sau đây:

1. Lẽ thường người dân nước nào cũng muốn hòa bình, chẳng ai thích chiến tranh. Họ cho rằng chỉ có những nhà lãnh đạo chủ chiến. Trong một nước dân chủ tự do, khi những nhà lãnh đạo không thuyết phục nổi nhân dân về tính chính đáng – hay “chính nghĩa” – của cuộc chiến thì phong trào phản chiến sẽ có khả năng làm thay đổi chính sách hay các chính trị gia theo đuổi chính sách đó.

2. Cuộc chiến Việt Nam nằm trong bối cảnh cuộc chiến ý thức hệ giữa một bên là khối cộng do Liên Xô lãnh đạo và một bên là toàn thể nhân loại do các cường quốc Tây Phương lãnh đạo. Vì ban đầu chủ nghĩa Cộng Sản của Các- Mác được một số triết gia, nhà khoa học, và văn nghệ sĩ tên tuổi trên thế giới bị lầm mà tán thưởng cổ võ theo, cho nên có một số khá đông nhà văn, nhà báo cũng hùa theo như một cái mốt thời thượng. Ta thường gọi họ là những ngựời tả phái hay thiên tả. Những kẻ này không muốn Mỹ thắng, vì họ ủng hộ chủ nghĩa xã hội của Mác, của Liên Xô. Khi nước Mỹ tham chiến ở Việt Nam đế bảo vệ VNCH, thì đã có một số triết gia và văn nghệ sĩ tên tuổi nhìn ra mình lầm như Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre, Picasso, Arthur Koestler, Olivier Todd, André Gide, Louis Fisher, Ignazio Silone v.v… Nhưng một số khác vẫn còn cố bám lấy những tư tưởng sai lầm. Ho vin cớ ưa chuộng hòa bình để phản chiến, nhưng thực ra là vì chủ nghĩa xã hội không tưởng. Phải cho đến khi bức tường Bá Linh sụp đổ và Liên Xô tan rã đa số mới mở mắt. Nhưng hầu hết đều giữ im lặng. Những kẻ dám lên tiếng nhận sai lầm như Olivier Todd và Jean Lacouture chẳng có bao nhiêu (mặc dù Todd vẫn kịch liệt đả kích Jean Lacouture vì ông này hãy còn quá dè dặt trong việc nhận sai lầm). Trong số những người phản chiến ở Mỹ, Jane Fonda cũng đã nói lên lời xin lỗi các cựu chiến binh, và Eddie Adams, người chụp tấm hình tướng Loan hành quyết tên VC ngay tại hiện trường, cũng đã đến nghiêng mình bên thi hài vị tướng này để tỏ lòng ăn năn.

3. Hồ Chí Minh, kẻ đem chiến tranh vào Việt Nam là một con người bí ẩn, đầy huyền thoại do chính ông cố tình tạo nên. Một trong những huyền thoại đó là huyền thoại về “Cha già dân tộc“. Khoảng cuối năm 1947, ngay từ khi cuộc chiến đang ở vào giai đoạn quyết liệt nhất, nguy kịch nhất có thể kết liễu cuộc đời chính trị của ông, với những trận Đông Khê, Hòa Bình, trong khi ông, kẻ lãnh đạo cuộc chiến đang lo sốt vó, chạy trốn hết chỗ này đến chỗ khác, thậm chí quân Pháp đã suýt bắt sống cùng với thuộc hạ, ông đã ngồi nặn ra cái gọi là Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch dưới bút hiệu Trần Dân Tiên để bịa ra rằng toàn dân gọi ông là CHA GIÀ DÂN TỘC. Rồi ngay liền đó, 1948, cho dịch ra Pháp văn, và sai người mang lập tức sang Ngưỡng Quảng, thủ đô Miến Điện để dịch ra Anh văn, và phổ biến trên khắp thế giới, qua mạng lưới tình báo và tuyên truyền của CS. Từ đó dư luận thế giới bị lừa đã y theo lời ông, gọi ông là cha già dân tộc mà không biết mình đã bị ông xỏ mũi. Cho đến khi CS đã toàn thắng và chiếm trọn cả nước, họ mới cho mọi người biết: Trần Dân Tiên chính là “bác Hồ”, thì mọi người mới chưng hửng vì chuyện đã rồi!1

1. Về cuốn sách mỏng nhưng vô cùng quan trọng này, vì nó là một vũ khí độc đáo của chiến tranh ý thức hệ, một thứ vũ khí tuyên truyền có một không hai, xin xem chi tiết trong cuốn Tâm Sự Nước Non, Ai Giết Hồ Chí Minh, chương “Ai Giết Hồ Chí Minh”, và chương 9 trong tác phẩm Hồ Chí Minh, Nhận Định Tổng Hợp của Minh Võ, xuất bản trong những năm 2002 và 2003.

Chẳng những ông tự tô vẽ mình là cha già dân tộc, tức vị anh hùng yêu nước, mà còn cư xử, đi đứng, nói năng, ăn mặc theo cung cách một chiến sĩ cách mạng yêu nước. Những huyền thoại về đôi dép râu, về lá gói bánh chưng cho dân dịp Tết, hay về sự hy sinh sống kham khổ, không màng chuyện vợ con, gia đình v.v… càng làm cho người ta tin rằng ông là ông thánh, vị thần, ít nhất cũng là anh hùng ái quốc. Ông đã khéo léo chiếm danh xưng này vốn là danh xưng tập thể của nhiều nhà ái quốc như Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền…

Chính vì vậy mà một số đông các nhà báo và sử gia Mỹ đã khẳng định phong trào kháng chiến “chống Mỹ Ngụy” do Hồ Chí Minh lãnh đạo là một phong trào yêu nước.

4. Từ nhận định trên ta thấy cái hệ luận tất yếu là các chính quyền miền Nam VN đều là bù nhìn, tay sai của Mỹ. Các nhà báo Mỹ cũng như một số nhà báo và sinh viên học sinh bị đầu độc bởi tuyên truyền CS cũng hùa theo đả kích chính quyền Miền Nam về sự độc tài, tham nhũng. Thậm chí một linh mục dòng Chúa Cứu Thế đáng lẽ chỉ thụ động trong vấn đề cầu nguyện và rao giảng phúc âm, cũng đứng lên lãnh đạo phong trào chống tham nhũng. Hai linh mục khác, Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan, cũng thuộc dòng CCT ra báo Đối Diện bênh các tù nhân CS, lên án chính quyền Miền Nam. Một số đông ký giả chống gậy đi “ăn mày” để làm nhục chính quyền. Vân vân và vân vân…

5. Tất cả những phong trào phản chiến ở Mỹ cũng như chống đối chính quyền VNCH (đệ nhị) đều phát xuất từ sự kiện các tác giả Mỹ coi Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, và do đó cuộc kháng chiến chống Mỹ ngụy là có chính nghĩa. Bởi vì khi một nước lớn như Hoa Kỳ đem quân đánh phá một nước nhỏ bé như Việt Nam thì đương nhiên bị thế giới lên án, và nhân dân phản đối. Phản đổi chiến tranh là gì, nếu không phải là phản chiến. Cuộc chiến đã là phi nghĩa, thì sự phản chiến là chính đáng, Cái logic đó rõ như ban ngày.
Vì thế không những chỉ có những nghệ sĩ nổi tiếng như Jane Fonda, Joan Baez, Stokely Carmichael và Ramsey Clark… phản chiến mà cả chính những cựu quân nhân, từng là tù binh bị Việt Cộng hành hạ dã man như John Kerry (thuộc đảng Dân Chủ, ứng cử viên tổng thống Mỹ năm 2004), khi về nước cũng tham gia phong trào phản chiến.

Và, nói đâu xa, ngay như “bộ óc điện tử” McNamara, cựu bộ trưởng Quốc Phòng của đảng Dân Chủ dưới hai thời Tổng Thống Kennedy và Johnson, sau chiến tranh cũng tỏ dấu hối hận và đi xin lỗi kẻ thù. Còn một số đông cựu chiến binh Mỹ, khi được tha về đã không dám ngẫng mặt lên nhìn đồng bào, vì mặc cảm tội lỗi, và cũng vì đã từng bị Việt Cộng hành hạ, tra tấn dã man đến mất hết nghị lực, trở thành kẻ có xác không hồn. Biết bao chứng bệnh tâm thần do đấy mà ra.

6. Ta đã biết trong thể chế dân chủ tự do của Mỹ, báo chí được coi như đệ tứ quyền. Chẳng những nó không bị tổng thống, quốc hội và tòa án chi phối, mà nó còn có ảnh hưởng mãnh liệt đối với quốc dân, đối với Quốc Hội. Cho nên những nhà báo từng được giải Pulitzer như David Halberstam hay Neil Sheehan, mặc dù còn trẻ măng vẫn có một ảnh hưởng vô cùng lớn trong phong trào phản chiến. Đáng lẽ ra chính những kẻ này mới đáng hỏi tội về sự thất trận nhục nhã của Hoa Kỳ. Nhưng người ta lại chỉ chĩa mũi nhọn vào những Jane Fonda.

Có ai dám nhổ vào mặt Neil Sheehan, David Halberstam, hoặc tẩy chay sách và phim A Bright Shining Lie của Neil không? Hoặc có ai dám chỉ mặt David mà mắng rằng chính vì mi mà Hoa Kỳ thất trận nhục nhã không? Chỉ trừ có Tổng Thống Nixon đã làm việc đó, khi nói về vụ Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật và bị giết. Nhưng ông cũng chỉ nói chung chứ không nêu đích danh David Halberstam.

Đáng ghê tởm là con người đạo đức giả họ Sheehan, kẻ từng dựng đứng lên rằng các tướng tá VN thời đệ nhất Cộng Hòa bó buộc phải quì gối, hôn ảnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới được thăng cấp, hoặc như Stanley Karnow, cùng một giuộc phản chiến, đã gọi những tướng tá thời Đệ Nhất Cộng Hòa như H.V.C., B.Đ.Đ. là những kẻ bợ đỡ, hay bợ đít (nguyên văn tiếng Anh: kissed the asses of their bosses…, nghĩa đen là hôn đít), mà đến khi gặp lại được những tướng H.V.C. và L.T.B. anh ta lại xun xoe, thân thiện, coi như bạn cũ. Không rõ những vị này có lấy làm khó chịu không?

Chính 3 nhà báo nói trên đã ca tụng Hồ Chí Minh là người yêu nước, và trách các nhà lãnh đạo Mỹ, nêu đích danh Tổng Thống Harry Truman đã dồn Hồ Chí Minh vào chân tường cho nên ông ta mới đi theo Cộng Sản, nêu không thì đã có một Tito VN…

Muốn có nguyên một bảng danh sách trên bốn chục ký giả và sử gia trên thế giới gọi HCM là anh hùng yêu nước, hay nhà ái quốc… xin chỉ cần lướt qua cuốn Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp của Minh Võ, mà có người chê là toàn chuyện cũ, trong đó viện dẫn toàn chuyên cũù để khám phá ra một chuyện mới là cái số đông (khoảng 80 %) ca tụng HCM ấy đã sai mà số ít lại đúng. Cũng như thời Galileo, gần 100% các nhà khoa học dẫn dắt toàn thể nhân loại ngó lên trời cao mà phán: “Mặt trời xoay quanh trái đất”, để lên án Galileo. Nhưng rồi cái mới xuất hiện: Trái đất xoay quanh mặt trời! Ngày nay cái mới ấy đã thành chuyện cũ mèm.

Nếu ta nhìn cuộc chiến tranh chống CS bằng một cái nhìn khoa học, truy nguyên nguồn gốc của nó và am hiểu những đặc tính của một cuộc chiến ý thức hệ lấy tuyên truyền làm vũ khí chủ soái tối tân lúc ấy, thì mới thấy cái hấp lực vô cùng mãnh liệt của khối cộng đã cuốn hút và chi phối các nước chư hầu (satelites = vệ tinh), khiến cho những vệ tinh này (trong đó có HCM và đảng CSVN của ông ta) muốn vùng thoát ra (theo một lực ly tâm (centrifuge) khỏi cái khối cộng khổng lồ kia, liền bị sức hút hướng tâm (centripède), không thể cưỡng lại, nên cứ mãi mãi xoay quanh khối Cộng.

Điều đó không phải ai có thành tâm thiện ý đều nhìn ra. Cho nên ngày nay hãy còn những đại học giả Anh Mỹ về vấn đề VN cỡ Sophie Quinn-Judge, William Duiker khẳng định “mặt trời xoay quanh trái đất”, nghĩa là HCM là đại anh hùng dân tộc. Để rồi một Lữ Phương nào đó, mà nhiều người ca tụng là phản tinh phản kháng ở trong nước cũng nhắc lại như con vẹt.

Để khỏi mất thì giờ của bạn đọc, chúng tôi chỉ trích dẫn một số rất ít vài tác giả vừa nêu và 2 cuốn tự điển bách khoa Americana, và Anglicana đã viết về HCM ra sao. Mng những hàng sau đây làm chúng ta suy nghĩ và tự hỏi: Bao giơ trai đất mới xoay quanh mặt trời ở thế kỷ 21 này?

Neil Sheehan:
“The war made Hồ the father of the modern VN.” (Chiến tranh đã biến ông Hồ thành cha già của Việt Nam hiện đại). Sách đã dẫn trang 168.

David Halberstam:
“Hồ Chí Minh là khuôn mặt phi thường của thời đại – môt phần là Gandhi, một phần là Lê-nin, tất cả là Việt Nam. Có lẽ, hơn bất cứ nhân vật nào trong thế kỷ, ông là hiện thân cuộc cách mạng của dân tộc ông đối với dân tộc ông và đối với thế giới.” (Ho nguyên bản Anh ngữ, trang 12, MV dịch.)

Stanley Karnow:
“Hồ Chí Minh gắn bó với nền độc lập của VN hơn là chủ nghĩa CS.” (Vietnam A History, trang 59)

Hoàng Xuân Hãn, Nhà trí thức lão thành, nổi danh vì từ điển khoa học hơn là vì làm bộ trưởng giáo dục và Mỹ-thuật trong chính phủ Trần Trọng Kim, đã nói chắc nịch với nhà văn nữ Thụy Khuê ở Pháp:
“…nói cái kết quả tức thì bây giờ mà có độc lập, có thống nhât, thì cái ấy là cái công của HCM to lắm.” (xem Thế Kỷ 21, số 163)

Encyclopedia Americana (2000):
“HCM was widely revered as a patriot and liberator.” (HCM được nhiều người kính trọng như một nhà ái quốc và một nhà giải phóng.)

Encyclopedia Britannica (2000):
“As a leader of the Vietnamese nationalist movement for nearly three decades, Hồ was one of the prime movers of the post WWII anticolonial movement in Asia…”
(Lãnh đạo phong trào ái quốc VN trong gần 3 thập kỷ Hồ là một trong những người xướng xuất phong trào chống thực dân sau thế chiến 2 tại Á châu…)

Xin dừng ở đây. Vì chỉ ý kiến của hai cuốn tự điển bách khoa nổi tiếng này cũng đủ cho thấy tầm quan trọng của nó. Ai cũng biết là tự điển thường được dùng để tra cứu, và được coi như ông thầy. Tự điển ít khi nào sai vì đã được soạn thảo hết sức kỹ lưỡng, mặc dầu ta vẫn thấy có những người chuyên vạch những cái sai của tự điển. Sở dĩ từ điển ghi như vậy, vì các nhà biên soạn tự điển đã theo đa số. Điều đó càng chứng tỏ phần đông thiên hạ đều cho ông Hồ là người yêu nước.2

2. Chỉ có thể chứng minh bằng cách suy loại: so sánh với sự kiện mặt trời xoay quanh trái đất mới đánh đổ được luận cứ của những tự điển bách khoa này. Nhưng trong thời Galileo, chứng minh trái đất xoay quanh mặt trời đòi phải kháo sát kỹ sự hình thành vũ trụ, nguồn gốc các định tinh, hành tinh, vệ tinh… như thế nào, thì cũng tương tự như thế, phải khảo sát kỹ về thuyết Mác-xít, chiến lược sách luợc của Lê-nin là những thứ đã chi phối hành vi và cuộc sống của những kẻ, hay những đảng CS phát xuất từ Quốc Tế III từ Liên Xô mà ra. Đồng thời phải xét đến những hoạt động cụ thể của ông Hồ và của đảng CS đối với QT3, đối với Liên Xô, và đối với tổ quốc VN, đối với các nhà ái quốc VN đồng thời với ông ta và đảng CS của ông ta. Đó là một điều khá phức tạp nhiêu khê. Nhưng nếu ngại khó mà chỉ tự mãn bằng những lời lẽ quyết đoán theo cảm tính và kinh nghiệm riêng, thì không thuyết phục đựợc đa số, một đa số áp đảo chỉ biết dựa vào kiến thức của các tự điển và những cây viết thiên vị, hay thiếu hiểu biết.

Điều này hết sức quan trọng, vì chẳng những sinh viên thường xuyên tra cứu tự điển bách khoa, mà cả giáo sư, sử gia, ký giả cũng đi tìm sự thực nơi tự điển. Cho nên con em chúng ta sau này, không thể tìm ra sự thật, nếu chúng được đọc những điều sai trái tai hại đó trong các tự điển và sử sách trong các thư viện.

Chính vì sự ngộ nhận lòng ái quốc của ông Hồ mà phong trào phản chiến đã phát sinh và tràn lan khắp nơi, khiến cho cuộc chiến xoay chiều một cách hoàn toàn bất lợi đưa tới sự thất trận nhục nhã vào giờ chót.

Vậy thì những nhà báo, sử gia thiên tả viết sai về ông Hồ phải được coi như những kẻ phản quốc.

Tất cả những tang thương chết chóc của binh sĩ, của nhân dân trong nước, của những thuyền nhân vì trốn chạy hoạ CS mà phải vùi thây dưới lòng biển, hay phơi xác trên rừng biên giới… đều phải đổ lên đầu họ.

Tất cả những cực hình tra tấn vô cùng dã man 3 mà các tù binh phải chịu dưới gông cùm của Cộng sản phải quy lỗi cho những cây viết vô trách nhiệm đi đề cao “lòng yêu nước” (sic) của một kẻ chuyên ám hại những nhà ái quốc, kẻ đem chủ nghĩa CS vào làm nguồn cho mọi sự dối trá, phá hoại cương thường đạo lý mà tổ tiên đã xây dựng từ ngàn đời mới có, kẻ gây nên cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử, kẻ thay mặt Quốc Tế CS lập nên cái đảng quái đản đang dày xéo giang san, cắt đất cắt biển trao cho kẻ thù truyền kiếp. Những tội ác nhuốm máu của nhân dân do Hồ Chí Minh và đảng CS gây nên “tát cạn nước Đông Hải không rửa sạch tanh hôi, Chặt hết trúc Nam Sơn khó ghi đầy tội ác. “

3. Vì vũ khí chiến tranh chính yếu của CS là tuyên truyền, nên họ thường làm hết cách để lợi dụng tù binh Mỹ cho mục đích tuyên truyền dối trá. Bắt giải tù binh đi trước đám đông la hét sỉ vả, đánh đập dã man, sáng chế ra những cực hình không thể nào tưởng tượng nổi để bắt tù binh phải viết bản tự kiểm, nhận lỗi trước nhân dân rồi đọc trên đài phát thanh, truyền hình những lời phát biểu nhận tội, mà chúng dọa đem ra kết án như những tội phạm chiến tranh. Mục đích của chúng là đánh vào dư luận thế giới, lên án Hoa Kỳ xâm lược, tàn sát dân Việt.

Trong cuốn Aid and Comfort, Jane Fonda in North Vietnam các tác giả đã thuật lại lời của một số tù binh từng bị tra tấn vô cùng dã man như thế nào. Người đọc như bị chết ngộp, không dám đọc tiếp. Chỉ cần nhớ rằng những cuộc tra tấn ấy khủng khiếp và tàn bạo đến độ nhiều người đã nghĩ đến tự vẫn cho thoát khỏi.

McGrath đã viết trong cuốn Prisoner of War (Tù Binh): “Tôi đau đến điên loạn. Cánh tay trái của tôi bị trật khớp và gẫy; hai đốt xương sống bị gẫy, đầu gối trái bị nứt. Chúng bẻ trật khớp vai phải và khuỷu tay phải của tôi… Tôi ước ao tôi có thể chết. Khi chúng dọa bắn tôi, tôi van xin chúng hãy bắn đi. Nhưng chúng bảo:”Đừng hòng, mày là tên tội phạm. Mày chưa chịu đau đớn đủ đâu!.”

Những cái tên Sheehan, Halberstam đại diện cho hàng chục ký giả và nhà báo đạo đức giả, bán lương tâm để đề cao Hồ Chí Minh là hiện thân cái ÁC phải đươc mọi người nêu lên thay thế cho cái tên Jane Fonda.

Những kẻ a dua, như văn nghệ sĩ, diễn viên, nhạc sĩ loại Hanoi Jane hay Trịnh Công Sơn… chỉ là đồng lõa vì cả tin, thiếu hiểu biết, do bị dẫn dắt bởi sách báo của những kẻ phản chiến, phản động, phản quốc thực thụ. Xin đừng oán trách họ như những chính phạm. Mà hãy can đảm lôi các chính phạm ra trước tòa án lịch sử.4

4. Những lỗi lầm tầy đình mà báo chí, và truyền thông nói chung đã gây nên cho dân tộc Việt Nam, thiết tưởng ngày nay truyền thông thế giới và đặc biệt và trước tiên là truyền thông Việt Nam ở hải ngoại có trách nhiệm, và sứ mạng tẩy rửa, sửa chữa bằng cách phơi bầy sự thực về con người Hồ Chí Minh và cái gọi là công lao cực kỳ to lớn của ông Hồ (sic, chữ của một số người ngây ngô, mâu thuẫn, muốn thay thế chế độ hiện nay ở Việt Nam bằng thế chế dân chủ tự do, mà mới nhất là tiến sĩ Nguyễn Thiện Tâm, hãy còn dùng để nói về HCM)

minhvo_sign
San Diego, Memoriaì Day, 30-5-2005

<—Trở về Mục Lục
—>9. Thiện Tâm nhưng Đảng Trí? ;

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, MINH VÕ: Tâm Sự Nước Non. Bookmark the permalink.