TỰ VỊ THẾ KỶ (Xuân Vũ): Cô Hoàng

CÔ HOÀNG

Tặng Em, cành hoa năm đóa

Tôi lên học trường quận và ở trọ tại nhà ông Mười. Nhà ông ở sau chợ quận, trong một khu vực khá đông dân cư. Đó là một ngôi nhà ngói xưa ọp ẹp với dáng dấp của một ông già sống sót dưới sức đè nặng của thời gian và bão tố.

Ổng Mười có người cháu gái gọi bằng dượng, tên là Hoàng. Cô Hoàng lúc đó đâu chừng mười chín hai mươi. Cô thi trợt bằng thành chung và về nhà luôn không đi học nữa, cũng không làm gì. Mấy đứa ở trọ chúng tôi được bố mẹ gởi ở đây là vì sự quen lớn với ông Mười chứ không phải ông làm nghề nuôi học trò như mấy nhà ở gần đây. Ông là người rất nghiêm nghị. Mỗi sáng trước khi đi học mỗi đứa chúng tôi đều phải đến ngả mũ kính cẩn thưa: “Thưa ông Mười con đi học.” Nghe đồn rằng ông Mười có bằng cấp cao mà thời bây giờ khắp quận này không mấy ai có. Người ta gọi ông là Tú Mười. Dáng điệu ông nho nhỏ thanh cao và đạo đức của ông thì mọi người chung quanh đều kính phục. Nhiều vụ cãi cọ không giàn xếp được, có tiếng nói nhắn của ông tú tài là êm ngay. Cô Hoàng đặt trong khung cảnh gia đình này ví như cái hoa hồng vừa hé nở cắm trong chiếc độc bình cổ kính.

Quả thật cô Hoàng có một sắc đẹp tuyệt vời. Cô đi thi sắc đẹp toàn tỉnh, hồi đó tiếng thông dụng gọi là “đấu xảo sắc đẹp,” và đã được chấm giải nhất toàn tỉnh. Bọn học trò chúng tôi không biết điều đó, nhưng một hôm tình cờ ông Mười đi vắng chúng tôi men đến bộ ghế trường kỷ ở giữa nhà, nơi ông thường nằm gối đầu trên thành ghế mà đọc sách báo, thì thấy một tờ báo với hàng chữ tít to “Cô Nguyễn Thị Hoàng thuộc quận X… đã trúng giải nhất cuộc đấu xảo sắc đẹp.” Và bên dưới hàng chữ có in một tấm hình nguyên người – mà khi nhìn kỹ thì chúng tôi nhận ra là cô Hoàng. Cô Hoàng mặc áo mốt, quần trắng và che dù đầm. Chúng tôi trao tờ báo cho nhau đọc rồi để lại chỗ cũ. Chúng tôi không hiểu đấu xảo sắc đẹp là làm những gì nhưng cho rằng cô Hoàng được chấm giải nhất là đúng lắm. Cô Hoàng đẹp từ mái tóc, nước da, khuôn mặt, môi mắt cho đến dáng điệu, đến cả cái tên. Cô Hoàng vừa lộng lẫy, vừa đài các.

Từ ngày đọc cái tin trên tờ báo, tôi thấy cô Hoàng càng ít đi ra khỏi nhà, cũng ít khi đi ra khỏi phòng tư, theo kiểu như các tiểu thư khuê môn bất xuất. Bà cô của cô là một người đàn bà con nhà giàu và có học. Các anh chị con của ông bà Mười đều học cao và đỗ đạt hết cả. Chúng tôi được biết là bố mẹ cô Hoàng vì mến đức kính tài của ông bà Mười mà gửi cô ở đây để thọ giáo.

Bà Mười dạy cô Hoàng thêu thùa. Những bức chấn to lớn bề ngang rộng một căn nhà chỉ treo trong những ngày lễ lớn như Tết Nguyên Đán hoặc lễ giỗ, là đều do cô Hoàng thêu dưới sự chỉ dẫn của bà Mười. Có bức cô phải mất bảy, tám tháng ròng rã mới làm xong. Có một bức tôi còn nhớ mãi là bức treo ở nhà trước. Hình thêu một con rồng vàng uốn khúc, khi ẩn khi hiện trong những cụm mây. Vảy rồng thêu tỉ mỉ từng chiếc một, mỗi chân rồng năm móng xòe ra, mắt rồng lấp lánh với hai hạt châu, râu rồng làm bằng kim tuyến, chiếu rọi mỗi khi có ánh nắng hay ánh đèn soi vào. Tất cả bức traah thật sống, nhìn lâu giống như con rồng đang vờn mây lướt gió trong một vòm trời… đã đóng khung bằng bốn thanh gỗ quý.

Một hôm thây chúng tôi đứng nhìn bức tranh và bàn tán về con rồng và mây chữ Nho, ông Mười bèn hỏi: “Các cháu có biết mấy chữ đó nghĩa là gì không?”. Cố nhiên là chúng tôi không thể nào đọc được những chữ Tàu lạ lùng đó. Ông Mười bèn nói: Bốn chữ đó là “Vạn Lý Vân Trình”, nghĩa là “Ngàn Dặm Đường Mây”.

Thấy chúng tôi vẫn còn ngơ ngác, ông Mười lại tiếp: “Nghĩa là đường đi trên mây của con rồng dài ngàn dặm. Rồng thì đi trên mây cho nên gọi là đường mây đường dài, đường phiêu lưu, đường giông bão v.v.. Hiểu chưa các cháu? Ấy, chữ Nho thâm trầm như thế đó!”

Chúng tôi gật đầu tỏ vẻ hiểu rồi, nhưng cũng chỉ mới hiểu lơ mơ. Hiểu làm sao nổi bốn tiếng lạ lùng đó khi mà đầu óc non nớt của chúng tôi vừa mới qua khỏi những trang Quốc Văn, Luân Lý Giáo Khoa Thư?

Trong lúc chúng tôi làm bài ban đêm, cô Hoàng vẫn thường chỉ dạy cho chúng tôi những chỗ “bí.” Thỉnh thoảng cô soạn bài học cũ của cô hồi cô còn đi học cũng trường này với những thầy mà chúng tôi đang học, đem ra cho chúng tôi xem và giảng những chỗ khó cho chúng tôi. Cả bọn chúng tôi nhìn cô giảng, có nghe tiếng cô, nhưng hiểu thì.. không hiểu gì hơn lúc ở trường. Chẳng phải vì cô giảng không rõ mà vì mắt mải bận nhìn khuôn mặt trắng hồng của cô, bận nhìn cặp môi đỏ thắm với tí son như còn sót lại của cuộc đấu xảo sắc đẹp, bận nhìn mái tóc mượt mà của cô thoang thoảng nước hoa. Lại còn bận vì thỉnh thoảng liếc trộm cánh tay trắng như ngà của cô để bất động trên trang vở hoặc nhìn chăm chú vào những ngón tay mũi viết của cô đang đưa đi đưa lại ngọn bút chì. Nhưng dù không hiểu bài mà chúng tôi vẫn thích được cô Hoàng giảng bài. Nhưng cuộc đời không chỉ có thế. Không phải chỉ có cô Hoàng giảng bài thêm cho lũ trẻ, không phải chỉ có bức thêu sinh động “Vạn Lý Vân Trình…”

Bên thềm nhà có một mái nước mưa lớn. Hễ trời mưa thì nước trên nóc nhà tuôn theo máng xối chảy vào đó, để mỗi khi cô Hoàng đi đâu ra vườn có tí đất dính chân, trước khi vô nhà thì cô đứng trên tấm gạch tàu vuông vức đỏ au cầm lấy chiếc gáo dừa múc từng gáo nước mà rửa hai bàn chân gót đỏ như son, rồi đi vào nhà, in từng vết chân xinh xắn trên nền gạch.

Chạy dài trước nhà là hàng rào dâm bụp xanh ngắt rậm ri cao khỏi đầu, thỉnh thoảng mới thấy có người xén. Hoa dâm bụp âm thầm nở kín đáo trong nền lá xanh rì, tuy không có hương nhưng màu sắc mộc mạc của chúng làm tăng vẻ đẹp cho chủ nhân mỗi khi cô đi qua, khua guốc rất khẽ trên mặt đường đất pha cát. Chúng tôi vẫn thường hái những chiếc hoa đỏ thẳm ấy đem đến trường cắm vào lọ hoa trên bàn thầy.

Đời học trò của chúng tôi nếu chỉ có thế thôi thì đã không có chuyện gì đáng nhớ. Nhưng một hôm có một người đàn ông tới. Người đàn ông này còn trẻ lắm, và lại có chức vụ, hơn nữa rất xinh trai.

Hằng ngày tôi đi học, đến trường, vào giờ chơi, bọn tôi có thói quen rủ nhau lén chui qua hàng rào kẽm gai vô sân dinh quận để nhặt me tây chín. Những trái me vỏ đen nhưng bên trong đầy mật. Cứ để thế mà cho vào mồm rồi nhai hít lấy nước ngọt gắt. Đôi khi bị lính áo vàng đuổi chạy, nhưng rồi hôm sau cũng chui rào sang lượm me tây chín. Có lần, lính chộp được một đứa trong bọn tôi. Người lính định lôi nó sang trường để mét ông đốc. Nhưng bỗng một ông mặc com-lê trắng mang giày trắng đi ngang. Ông ta dừng lại vì nghe có tiếng kêu la của cậu học trò bị bắt. Ổng ta đến nơi can thiệp cho cậu bé được tự do trở về trường. Người lính đang ra oai hùm hổ với bọn tôi vậy mà phải riu ríu vâng lịnh ông ta.

Ìt lâu sau, tôi lại gặp người đàn ông này tới nhà cô Hoàng. Chúng tôi đang xem lũ trẻ ngắt những búp non lá dâm bụp gắn vào mép vào cằm làm râu giả và chống gậy làm như cụ già thì ông ta đến, Ông ta cười rất tự nhiên với chúng tôi và nhờ tôi vào thưa với ông Mười có khách đến thăm. Tôi gạn hỏi ông ta là ai thì ông móc một tấm danh thiếp trao cho tôi. Tôi vừa đi vừa đọc thì biết ra là thầy Ký Bích ở trong dinh quận. Thảo nào người lính kia đã buông tha bạn tôi hôm trước. Thầy Ký Bích chưa vào đến nửa sân thì ông Mười đã ra thềm mời khách. Thầy Ký Bích cúi đầu rất thấp, tỏ vẻ cung kính cao độ đốì với ông Mười. Lần này thì thầy Bích mặc quần tây dài và áo thun trắng, trên ngực bên trái có thêu hình con cá sâu quắp đuôi lên, kiểu áo bán trông tiệm mà thầy giáo tôi cũng thường mặc khi đến lớp.

Từ khi tôi ở trọ nhà ông Mười tôi ít thấy khách khứa đến trong cái cảnh nhà lặng lẽ gần như thâm u này. Nhưng từ sau khi cô Hoàng thắng cuộc đấu xảo sắc đẹp tới nay thì có nhiều người đến. Và trong số này thì thầy Ký Bích là người đến thường nhất, hầu như mỗi ngày chủ nhật. Và ông cũng là người ở lại nói chuyện lâu nhất với ông Mười. Mỗi lần thầy Ký đến thì cô Hoàng đang thêu ở bên gian nhà bìa, hay đang làm việc gì cô cũng đều đi vào buồng. Cho đến khi thầy đã về rất lâu thì cô mới đi ra. Theo như sự “thấy” của đám học trò chúng tôi thì chưa lần nào thầy Ký gặp mặt cô Hoàng trong khung cảnh nhà này.

Nhưng rồi cũng có tiếng đồn rằng thầy Ký Bích ở trong dinh quận sẽ cưới cô Hoàng. Đó là điều tất nhiên phải đến. Cô Hoàng thì đẹp, có học lại con nhà gia giáo, còn thầy Ký thì có chức vụ lại rất bô trai, trai tài gái sắc xưa nay lẽ thường, bên Tây bên Tàu hay bên Ta cũng đều như thế.

Trước cửa nhà ông Mười có một con sông nước đỏ au như pha son. Nước lớn rất nhanh, nước ròng thì chảy rất xiết, xuồng ghe không chèo nổi nước ngược. Vì thế, ông Mười cấm nhặt không cho chúng tôi tắm sông. Chúng tôi chỉ còn cái thú độc nhất là đá banh, loại banh ten-nít nhỏ bằng quả cam. Để “trau dồi” thêm nghệ thuật nhồi bóng, chúng tôi có mặt luôn ở sân bóng đá người lớn mỗi khi có trận đấu. Chúng tôi khen ông giữ “gôn” hội này, chê ông “a-de” hội nọ, thích cú đá móc lộn mèo của ông “a-văn-xăng” hội nhà v.v… Do đó mà tôi biết được thầy Ký Bích là thủ thành của hội B quận nhà gồm những công chức trong quận. Nhưng khổ thay hội này hễ ra quân thì may lắm chỉ thủ hòa, chớ không khi nào thắng, phần lớn vì ông giữ gôn dở quá. Hễ đốì phương sút vô ngay khung thành thì kể như thầy Ký chụp hụt. Banh bổng cũng hụt mà banh xệt cũng hụt, do đó mà thầy Ký Bích còn có cái danh là ông “gôn lèo.” Và cũng do đó, khi chơi bóng với nhau ở sân trường hay ở nhà, hễ đứa nào giữ gôn dở thì được tặng cho cái danh hiệu “gôn lèo.”

Một buổi sáng chủ nhật, sau khi giúp chúng tôi làm bài xong, cô Hoàng ra ngồi trên chiếc ghế mây kiểu xưa trước cửa để xem chúng tôi đá bóng. Hồi nầy trông cô càng đẹp bội phần. Cô mặc chiếc áo màu hoàng yến ngắn tay, như để khoe hai cánh tay trắng ngà, trong lúc những hột “pẹc” ôm ấp chiếc cổ nõn nà của cô. Ít khi cô ngồi trước cửa như thế. Chúng tôi hăng hái trổ tài trước mặt người nữ khán giả độc nhất. Đứa nào cũng mong được sự chú ý tốì đa của cô Hoàng.

Không hiểu tại sao trong đám ở trọ nhà ông Mười không có đứa nào thích thầy Ký Bích cả. Thầy không có làm gì mất lòng chúng tôi, trái lại thầy còn tìm cách gây cảm tình với chúng tôi. Cho nên từ khi sáng chế được danh hiệu “gôn lèo” trong làng bóng đá học trò thì chúng tôi lấy làm thích thú, cứ đùa với nhau luôn, mãi rồi thành quen mồm. Cho nên lần này có đứa vừa sút một quả vô ngon thì chúng tôi bèn cười rân và vỗ tay kêu lên: “Ông gôn lèo! Ông gôn lèo chụp hụt!”

Cô Hoàng cũng cười, nhưng cô còn hỏi: “Sao các em gọi em giữ gôn là gôn lèo?” Tôi lẻo mép đáp: “Ông Ký giữ gôn giỏi lắm cho nên trong chúng tôi đứa nào giữ gôn giỏi thì được gọi là ông gôn lèo.”

Cô Hoàng cũng tin như vậy và còn hỏi thêm.

– Ông Ký nào?

Bọn tôi đứa nọ nhìn đứa kia, không đứa nào đáp. Tôi thấy vậy bèn lễ phép thưa: “Dạ thưa cô, thầy ký làm trong dinh quận.” Một đứa lém lĩnh vọt miệng nói thêm: “Thầy Ký đến đây hoài hoài đó cô.”

Tôi thấy cô Hoàng nhìn xuống mũi bàn chân, đôi má như ửng lên một chút. Cô không ngồi xem đá bóng nứa mà đi vô nhà. Có lẽ cô Hoàng giận, tôi nghĩ vậy. Điều đó làm tôi mất hăng hái trong cuộc chơi, rồi chẳng bao lâu bọn cầu thủ giải tán.

Chúng tôi không muốn cái khung cảnh này thay đổi. Cô Hoàng đi thì cảnh nhà sẽ vắng vẻ lạnh lùng. Cô là linh hồn của nhà này. Mỗi khi đi học về chúng tôi yên trí rằng cô Hoàng đang ngồi cắm cúi thêu hoặc đang làm gì ở trong phòng. Vào bữa cơm đôi khi chúng tôi được ăn cơm chung với cả nhà. Thế nào cô Hoàng cũng ép chúng tôi mỗi đứa ăn thêm một chén “để chạy đá bóng cho nhanh.” Tối lại thế nào chúng tôi cũng được cô dạy thêm cho một bài học. Bây giờ lại xảy ra cái việc làm cho cô Hoàng không còn có mặt ở đây chẳng phải một ngày mà mãi mãi. Dù vì lòng ích kỷ đặt không đúng chỗ, chúng tôi vẫn không muốn cô Hoàng ra đi khi chúng tôi còn ở đây.

Nhưng theo lệ thường thì một nàng công chúa nhan sắc dường ấy không thể nào chỉ có một Sơn Tinh đến cầu hôn. Sau thầy Ký Bích có một người khác đến. Người này là họa sĩ.

Trên đường đi đến trường bọn tôi thường ghé lại không biết bao nhiêu là “trạm” để giải trí. Khi thì dừng chân ở các tủ kính của một hiệu thuốc tây và đọc những tên tiểu thuyết, tên những sách hồng. Khi thì mất thì giờ để nhìn xem chú chệt làm kẹo đậu phộng ở sau tiệm chạp phô, khi lại bỏ sách dưới đất leo lên cây trứng cá trước một tiệm thợ bạc để hái những trái chín hường bỏ túi. Nhưng “trạm” thu hút chúng tôi mãnh liệt nhất là cái “ki-ốt” của ông họa sĩ. Ông ta không phải người ở quận này. Ông mướn một phòng ngủ ở khách sạn và hằng ngày dọn những bức tranh ra “ki-ốt” để vừa vẽ vừa bán họa phẩm cho khách hàng. Ông họa nhiều chân dung của những người trong vùng, ông vẽ cảnh, ông họa chân dung của những danh nhân thế giới. Trong những chân dung này, tôi thích nhất bức chân dung của Nã Phá Luân đệ nhất. Tôi có học lịch sử củaNgười, và nay mới được nhìn rõ dung mạo của Người. Có lẽ vì thế mà tôi mến phục tài của người họa sĩ này chăng?

Ông họa sĩ tên là Như Thanh, được mời đến để họa hình ông Mười bà Mười và vẽ lại các chân dung cũ trong gia tộc. Ông họa sĩ tới, mang theo nào giấy vẽ, giá vẽ và lỉnh kỉnh những cọ bút. Ổng Mười ngồi cho ông họa sĩ phác họa trước. Ông Mười mặc áo dài đen, chít khăn đen chữ “nhơn,” chân mang giày hàm ếch. Ông ngồi vắt tréo chân trên một chiếc ghế chạm trổ, trông rất đường bệ nghiêm trang. Khi hai bức chân dung của ông Mười bà Mười được hoàn thành thì ông họa sĩ bèn ngỏ lời xin vẽ chân dung cô Hoàng.

Trong lúc họa sĩ vẽ chân dung ông Mười bà Mười, có rất đông người đến xem. Ai cũng khen tài của ông họa sĩ. Cô Hoàng mới ban đầu thì đứng trong bẹ cửa buồng nhìn ra, nhưng vài hôm sau thì cô ra hẳn bên ngoài, đến gần mà xem cho rõ. Do đó cô lại bị ông họa sĩ “xem” thấy và cũng do đó mà có cái đề nghị bất ngờ. Ông họa sĩ thưa thiệt rằng ông có nghe tin cô Hoàng thắng giải nhất trong cuộc thi đấu xảo sắc đẹp toàn tỉnh và ông ao ước được vẽ một bức tranh mỹ nhân để đi thi đấu xảo hội họa tại Sài Gòn. Lời đề nghị hơi bất ngờ làm cho ông Mười bà Mười không thể quyết định ngay được mà phải tính đi tính lại, và nhất là phải hỏi ý kiến cô Hoàng. Trong lúc chờ đợi sự trả lời của ông Mười bà Mười, thì ông họa sĩ đề nghị vẽ thêm một bức ông Mười đứng nguyên người. Bức này họa sĩ thần tình đến mức ai trông thấy cũng kêu lên: “Y như thiệt!” hoặc “Y như người sống đặt trên giấy!” hoặc “nếp áo nổi lên như sờ được…”

Cuối cùng lời đề nghị của họa sĩ được chấp thuận. Tuy ông Mười nói tiếng “cho phép,” nhưng bên trong lời nói ấy, họa sĩ cũng thừa hiểu rằng đó đã có sự ưng thuận của cô Hoàng. Nghĩa là cô Hoàng đồng ý trang điểm và ngồi hằng giờ cho họa sĩ Như Thanh vẽ, không phải trong một ngày mà trong nhiều ngày cũng như ông Mười bà Mười đã làm.

Cô Hoàng mặc chiếc áo dài màu vàng sẫm có thêu hoa trắng, tóc búi thấp sau gáy, hai bên thái dương những mớ tóc mai lòa xòa buông xõa đóng khung khuôn mặt trái xoan mà cặp môi đỏ mọng và đôi má ửng hồng càng làm nổi bật thêm lên nước da ngà mát mịn bẩm sinh. Cô cũng ngồi trên chiếc ghế chạm trổ kiểu xưa, nhưng lưng ghế lót nhung xanh. Đôi chân cô mang giày cao gót ung dung đặt trên chiếc gốì cùng xanh với lưng ghế.

Vì là họa sĩ chọn ánh sáng nên cô Hoàng phải ngồi ngoài vườn, dưới một gốc nhãn già cành lá lưa thưa để cho ánh nắng mặt trời được tự do mơn man đùa rỡn với nếp áo, màu da hoặc mái tóc của cô.

Họa sĩ đến lúc tám giờ sáng mỗi ngày. Khi ông khoác chiếc áo lấm lem của ông vào người thì cô Hoàng cũng trang điểm xong với kiểu tóc đó, màu áo đó, đôi giày đó, hầu như không chút gì thay đổi, mà ngồi vào ghế uy nghi lộng lẫy như một bà hoàng.

Chúng tôi rất thích thú nhìn xem công việc của ông họa sĩ từ lúc ông phác những đường nét đầu tiên cho đến lúc cô Hoàng hiện rõ trên giấy. Thú vị nhất là những ngày chủ nhật, không sợ trễ học, chúng tôi tha hồ xem. Chúng tôi không rõ nghệ thuật hội họa, chỉ biết là ông dùng màu gì như phấn, mịn màng như bụi, như sương, mà những nét vẽ thì ẻo lả như liễu buông, hoặc sắc sảo như dao cắt, mà từ toàn bộ bức vẽ thì dường như có một mùi hương nhẹ toả ra.

Tôi thấy tay phải hoạt động luôn, còn tay trái thì cầm một lúc cả một bó cọ màu. Khi tay phải cần màu gì thi cứ đưa sang tay trái lấy đúng ngay màu đó mà ông không phải nhìn, dường như những ngón tay của ông cũng có mắt. Đôi khi tôi thấy ông mở mắt to, nhìn thẳng vào mặt cô Hoàng giây lâu, thật lâu, như thôi miên, như tìm hiểu điều gì bên trong gương mặt xinh đẹp đó, như hút tất cả tinh hoa của một đóa hoa vào mắt để rồi buông trả lên bức vẽ. Những lúc như vậy tôi thấy cô Hoàng ngồi thật nghiêm trang mà da mặt thì hơi ửng hồng có lẽ vì ngượng ngùng mà cũng có thể là vì nắng sớm nguyên trinh chạm khẽ.

Nhiều lần trong một buổi sáng, ông Mười thấy họa sĩ làm việc vất vả như vậy, nên bảo người nhà mang nước ngọt hoặc trà tàu rót sẵn để trên một chiếc bàn gần chỗ ông làm việc, nhưng họa sĩ không ngừng tay để uống nước. Dường như ông phải vẽ nhanh cái mà ông định vẽ cho xong, kẻo rồi bất chợt nó không còn trước mặt ông nữa. Ví như ánh nắng linh động từng phút một mỗi khi mặt trời di động. Mỗi buổi sáng, ông chỉ vẽ trong chừng hai tiếng đồng hồ rồi cô Hoàng vào nhà, còn ông thì ở lại đó uống nước và nhìn ngắm những nét vẽ của mình. Một lần, trong lúc ông họa sĩ ngừng tay, ông Mười ra ngồi nói chuyện. Ông họa sĩ vui miệng nói luôn:

– Cháu sẽ đặt tên bức tranh này là bức “Xuân Về” đó, thưa bác.

Ông Mười nhìn bức tranh hồi lâu rồi quay lại ông họa sĩ:

– Nét vẽ của họa sĩ tuyệt lắm, nhưng… tôi xin mạo muội hỏi một câu có được không?

– Dạ, cháu rất hân hạnh được trả lời bác nếu bác cho phép.

– Hổm rày tôi trông thấy sự lao lực của họa sĩ rất nhiều. Tôi không hiểu hội họa, nhưng lại rất thích xem tranh. Hễ thấy tranh đẹp thì mua đem về nhà treo. Có khi… xin thú thật với họa sĩ, chính tôi cũng không biết treo chỗ nào trong nhà để cho ánh sáng làm tăng giá trị của bức tranh, nhất là sơn dầu. Đó là một cái dốt của tôi, xin họa sĩ đừng cười. Còn cái dốt thứ hai của tôi là tôi không hiểu tại sao khi họa sĩ vẽ bức chân dung của con bé Hoàng nhà tôi vào lúc cuốì hè mà họa sĩ lại đặt tên cho nó là bức “Xuân Về?”

Ông họa sĩ mỉm cười và bằng một giọng cung kính đáp:

– Dạ, nghe bác nói, cháu nghĩ bác là người hiểu hội họa, cháu xin phép thưa như thế, mặc dù bác nói là bác không hiểu hội họa. Nhưng bác đã hỏi thì cháu xin thưa. Vì những điều cháu xin thưa cùng bác sau đây là tự trong lòng cháu, dù đúng dù sai thì đó cũng là của cháu. Thưa bác, khi cháu vẽ thì cháu chỉ mượn ngoại cảnh để tả nội tâm, mượn vật để tả tình, tâm của người và tình của vật. Sở dĩ cháu đặt bức chân dung của cô Hoàng là bức “Xuân Về” vì cháu mô tả mùa xuân bằng đường nét yêu kiều của cô Hoàng. Cháu muốn khi đứng trước bức tranh này người xem cảm thấy lòng phơi phới yêu đời, yêu tạo vật như trong lúc xuân về. Cô Hoàng đối với cháu, khi cầm cọ vẽ, không chỉ là cô Hoàng mà là cô Hoàng đang xuân và đẹp lộng lẫy như mùa xuân đang về. Không phải mùa xuân đã đến, mà là mùa xuân đang về..

Ông Mười lắng nghe một cách lý thú và gật gù từng lúc một. Chúng tôi đứng bu chung quanh đó cũng chú ý nghe, nhưng không hiểu gì cho lắm. Chỉ thấy ông Mười gật đầu thì cũng gật đầu theo. Hơn nữa, nhìn cô Hoàng trong tranh chúng tôi quả đã thấy mùa xuân hớn hở huy hoàng ở đâu đây thật, trên hàng rào hoa dâm bụp, tên cành nhãn khẳng khiu.

Câu chuyện giữa họa sĩ Như Thanh và ông Mười đang lúc giao cảm đậm đà thì thầy Ký Bích ở đâu đi tới. Ông buông chiếc xe đạp mới toanh xuống đất rồi đi thẳng đến bên bức tranh, nghiêng đầu xem qua xem lại, rồi cất giọng oang oang:

– Anh thợ vẽ này vẽ khá lắm đó bác Mười. Bác mướn anh ta vẽ hình em Hoàng bao nhiêu tiền vậy?

Ông Mười hơi phật ý vì sự có mặt của thầy Ký Bích và nhất là câu hỏi của ông ta, nên không trả lời, thì thầy Bích quay sang họa sĩ Như Thanh:

– Ông vẽ chừng bao lâu thì xong ông thợ vẽ?

– Một tuần, một tháng, hoặc một năm thì xong. Và… cũng có thể không bao giờ xong! Họa sĩ Như Thanh cười khảy và đáp nhát gừng.

Thầy Ký Bích cười hô hố:

– Trong âm nhạc, có bản nhạc dở dang, mà trong hội họa ông cũng bày ra bức họa chưa hoàn thành nữa sao?

Họa sĩ Như Thanh đáp:

– Đó là tôi nói ví dụ vậy thôi chứ nào tôi đã bày đặt chuyện gì đâu – Họa sĩ nói tiếp – có thể là tôi hoàn thành bức họa, cũng có thể tôi không hoàn thành nó được vì một lý do nào đó mà chính tôi cũng không thể biết trước được.

Thầy Ký Bích có vẻ tự phụ khi nói chuyện với họa sĩ Như Thanh. Thầy Ký luôn luôn gọi họa sĩ là thợ vẽ, cho việc họa hình, vẽ cảnh của ông là vẽ thuê hoạ mướn. Thầy Ký hỏi tiếp:

– Ông học nghề vẽ này ở đâu vậy?

– Dạ thưa thầy Ký, tôi học ở trường ạ. Rồi sau khi tốt nghiệp ở trường ra tôi còn học thêm với họa sư Lê Văn Đệ nữa. Nếu ông Ký là người thích hội họa thì chắc ông Ký biết họa sư Lê Văn Đệ là ai!

– Tôi có nghe nói tới ổng, ổng là người làng Tân Thành Bình chứ gì.

– Và là tác giả của bức tranh nổi tiếng nhất khắp Nam Trung Bắc là bức tranh ba thiếu nữ Nam Trung Bắc.

– À phải rồi, tôi có nghe nói. Tôi có mua một bản treo ở nhà. Nếu không nghe ông nói thì tôi quên mất rồi – Ông Ký Bích dòm nghiêng dòm ngửa bức tranh cô Hoàng rồi tiếp – Hồi đó tôi cũng có người bạn học rủ tôi đi học vẽ, nhưng tôi coi đi coi lại thì với cái nghề đó khó sống quá, và nó lem luốc quá.

Ông Mười thấy cuộc đối thoại không có vẻ tương đắc giữa hai người, cho nên tìm cách mời khéo thầy Ký vào trong nhà để “uống trà”. Nhưng vào nhà được một chốc thì thầy Ký Bích ra về. Ông không trở lại chỗ họa sĩ Như Thanh đang vẽ nữa. Chỉ có một mình ông Mười trở ra xem họa sĩ vẽ tiếp.

Họa sĩ Như Thanh ngắm đi ngắm lại đường nét trên tranh rồi nhìn cô Hoàng. Bỗng nhiên, ông buông nắm cọ xuống bàn và nói với ông Mười:

– Dạ thưa bác, có lẽ sáng hôm nay cháu chỉ vẽ được có thế.

Ông Mười ngạc nhiên hỏi:

– Ủa, trời còn sớm. Nắng còn đẹp, trời trong xanh!

– Nhưng hương sắc mùa xuân dường như đã biến đi ít nhiều – họa sĩ nói – Vâng nắng đang tươi, trời đang thắm, nhưng nét xuân biến động không còn nguyên như mọi buổi sáng khác nữa. – Họa sĩ đưa tay ra để hứng lấy nắng và ngước mắt nhìn trời, rồi thở dài. – Có lẽ ngày mai cháu sẽ trở lại mới vẽ tiếp được..

Ông Mười nhìn cô Hoàng. Quả thật cặp mắt thần của họa sĩ đã nhận thấy sự biến dạng của mùa xuân trên khuôn mặt của người con gái. Khuôn mặt đó đang biểu lộ một điều gì sửng sốt không như ý.

Họa sĩ Như Thanh xếp cọ vào hộp, cởi áo choàng chào ông Mười và cô Hoàng ra về. Ông Mười bảo chúng tôi khiêng bức tranh vào nhà để sáng hôm sau, trước khi đi học, chúng tôi lại mang ra đặt vào chỗ cũ cho họa sĩ tiếp tục làm việc.

Cô Hoàng bước những bước rời rạc vào nhà với nỗi buồn đang nảy mầm rồi lớn vụt lên thành cổ thụ chiếm cả tâm hồn cô.

Kể từ lúc đó trở đi thì tôi không thấy ai trong nhà vui vẻ nữa. Cô Hoàng đã vắng mặt hẳn trong những bữa cơm thân mật với chúng tôi và những buổi dạy kèm buổi tổì. Chúng tôi cũng bớt đùa giỡn, cũng không đá bóng nữa vì cô Hoàng không còn là nữ khán giả của đám “gôn lèo” chúng tôi.

Tôi đoán là thầy Ký Bích đã không hài lòng vì sự hoạt động của ông “thợ vẽ” trong nhà ông Mười và về sự trang trọng của ông Mười cùng cô Hoàng đốì với ông ta. Có lẽ thầy muốn ông thợ vẽ vẽ phéng cho xong đi, ông Mười trả tiền và ông ta đừng có bén mảng tới mà vẽ vời gì nữa.

Còn họa sĩ Như Thanh cũng không mấy gì thú vị vì sự ở-đâu-lại-đến của thầy Ký Bích nhất là lối ăn nói tự phụ sỗ sàng của ông ta. Nhưng Như Thanh có vẻ phớt tỉnh đốì với thầy Ký.

Riêng ông Mười thì đã đoán được sự xung đột ngầm giữa hai chàng Sơn Tinh và Thủy Tinh trong cuộc tao ngộ đầu tiên vừa rồi, nhưng tiếc thay ông không đóng nổi vai trò vua Hùng để có thể phán một lời quyết định mà sự phán quyết này chủ yếu là nơi đứa cháu gái. Thời buổi này, phong kiến và tân thời đang giao hòa, lễ giáo bị giản lược ít nhiều con gái có lắm đứa cha mẹ đặt đâu ngồi đó, nhưng cũng có đứa không nghe. Cô Hoàng theo Tây học, đọc sách nhà trường Tây, ai biết được trái tim cô còn được bao nhiêu máu Việt Nam cổ truyền.

Sáng hôm sau, ông Mười chờ đợi họa sĩ tới như hàng ngày, nhưng thấy cô Hoàng trễ nãi trong việc trang điểm, nên ông nhắc khẽ. Cô Hoàng, với vẻ mặt buồn dàu dàu, thưa “Con chắc là họa sĩ Như Thanh không đến nữa đâu, thưa dượng.”

Ông Mười đang rót dở tách trà, ngừng tay hỏi:

– Sao con biết chắc được ?

– Dạ, con cảm thấy như vậy. Và con tin như vậy.

Ồng Mười ngồi nhấm nháp tách trà và ngó chừng ánh nắng xuyên qua song cửa. Nắng mai hồng ấm áp rung rinh đùa giỡn trên những cành nhãn đầy lá xanh tươi. Nhưng nắng lên đã cao mà chưa thấy họa sĩ tới. Ổng Mười sốt ruột, đứng lên ngồi xuống mãi, không nhấp cạn tách trà.

– Họa sĩ có nói với con rằng ổng không đến à?

– Dạ không! Ổng không nói điều gì hết, nhưng con đoán là ông ta buồn lắm.

Cô Hoàng ngập ngừng giây lâu rồi tiếp – Mắt ông ta nhìn con như nói thế.

Chờ mãi, họa sĩ vẫn không thấy đến, ông Mười đâm ra nóng nảy, ông bảo người nhà đi ra chợ đến chỗ “ki-ốt” cua họa sĩ. Người nhà trở về cho biết “ki-ốt” đã đóng cửa. Ông Mười bảo tới khách sạn tìm. Người nhà đi rồi trở về cho biết trên vách phòng của họa sĩ có treo tấm bảng “đi vắng”

Thế là sự tiên đoán của cô Hoàng rất đúng. Ông Mười phải giật mình về sự nhạy cảm của cô Hoàng.

Trong nhà, nụ cười tiếng nói thưa đi và tiếng thở dài lại thường xuyên xen vào cuộc sống. Chúng tôi buồn lây. Riêng tôi thì mất hẳn cái thú riêng là nhìn những bức họa trên đường đến trường. Mỗi lần đi ngang cái “ki-ốt” quen thuộc đó, tôi dừng lại và ghé mắt vào những kẽ hở trên vách để nhìn vào trong coi những bức họa mà tôi vẫn quen nhìn, hãy còn đó hay cũng đã đi rồi. Bên trong tốì om om, nhưng tôi đoán là nhứng bức họa vẫn còn treo ở chỗ cũ.

Tại sao ông họa sĩ không đến nữa? Chúng tôi hỏi nhau và không đứa nào trả lời được. Riêng thầy Ký Bích thì đến nhà ông Mười thường xuyên, gần như mỗi buổi chiều sau giờ tan sở. Có lẽ ông thầy Ký thấy ân hận ít nhiều về những lời lẽ không được hòa nhã lễ phép đốì với ông họa sĩ trong buổi gặp gỡ đầu tiên, cho nên bây giờ trong các câu chuyện với ông Mười, ông nhắc đến ông họa sĩ với vẻ đứng đắn hơn. Ông không còn dùng tiếng “thợ vẽ” đốì với ông họa sĩ nữa. Một hôm, ông đến chơi. Ông ngắm đi ngắm lại bức họa cô Hoàng và gật gù khen:

– Đẹp lắm! Đẹp lắm!

– Nhưng mà ổng lại không đến để vẽ cho xong – ông Mười nói.

– Ủa, ông ta không đến, bao lâu rồi, thưa bác?

– Đâu cả tuần nay.

– Có lẽ ổng bệnh chăng?

– Không, ông ta đi vắng.

– Không phải đi vắng đâu bác! Có lẽ ổng cần tiền trả tiền phòng nên bận vẽ tranh khác để lấy tiền. Để chốc nữa cháu về, cháu sẽ ghé lại khách sạn, đưa cho ông ấy một ít tiền để sống.

– Tôi đã trả đủ tiền các bức hình trước rồi.

– Còn bức em Hoàng, xin bác để cháu trả.

– Hình như ổng có nói với con cháu Hoàng nhà tôi là ổng vẽ tặng cho nó.

Thầy Ký Bích ngồi thẫn thờ hồi lâu mới lấy lại hồn. Ông đã đọc báo, đọc sách. Những vụ nhà thơ làm thơ tặng cho phái nữ, nhà hội họa vẽ đàn bà con gái, những nhạc sĩ làm bài ca tặng cho các cô gái… ốì chà chà, những cái vụ đó rắc rôì lắm. Hễ có các ông đó tới đâu thì đàn bà con gái mê mệt tới đó. Cái ông Như Thanh này vẽ tặng cho cô Hoàng bức họa này thì ắt là có việc gì trong đó rồi.

Có lẽ ông Ký Bích nghĩ như vậy, hơn nữa ông còn đề quyết như vậy, nhưng ông không tiện nói ra với ông Mười. Còn ông Mười thì cũng thừa hiểu rằng những đường tơ vô hình đã khởi đầu giăng mắc, ít ra là từ phía họa sĩ Như Thanh. Họ yêu nét đẹp, màu đẹp. Họ yêu những điều ấy còn hơn chính họ. Họ quên ăn quên ngủ để vẽ… Thì có lý nào đứng trước một “mùa xuân” như con bé Hoàng mà lòng chàng họa sĩ kia không tơ vương? Ông không ngờ tới việc họa sĩ Như Thanh không đến, nhưng khi họa sĩ không đến, thì ông biết ngay lý do.

Thầy Ký Bích nói:

– Nếu như ông ta không đến thì để cháu tìm họa sĩ khác vẽ tiếp bác ạ.

– Vẽ tiếp sao được, mỗi họa sĩ có cặp mắt khác nhau.

– Vậy thì để cháu mướn họa sĩ khác vẽ một bức mới to hơn.

Ông Mười thở dài. Ông biết nỗi lòng thầy Ký Bích. Thầy Ký Bích là con bướm lâu nay tới đây là để vờn đóa hoa ấy. Nay lại có con bướm lạ, cho nên con bướm đến trước phải lo âu.

Ông cũng hiểu rõ sự buồn thoáng hiện trên gương mặt cô Hoàng. Tia mắt của họa sĩ thu hút, đã làm xao xuyến Hoàng? Hoàng còn ngây thơ. Khi Bích đến thì Hoàng cho đó là người trong mộng, nhưng bây giờ có chàng nghệ sĩ kia xuất hiện thì trong lòng nàng, bóng dáng Bích như bị mờ đi ít nhiều.

Một hôm, thầy Ký Bích đến xin với ông Mười làm lễ hỏi. Ông Mười đáp rằng lễ hỏi cần phải được cô Hoàng trả lời thì mới cử hành được. Rồi sau đó ông sẽ mời ba má cô Hoàng đến đây để chứng kiến. Ông Mười gọi cô Hoàng ra nhà trước để hội kiến với thầy Ký Bích trước mặt ông.

Cô Hoàng mặc chiếc áo trong tranh, chiếc áo màu vàng có thêu hoa trắng. Cô bước ra với nét mặt bình thường. Ông Mười bảo cô ngồi trên chiếc ghế dành sẵn cho cô, đốì diện với thầy Ký. Bà Mười cũng ra ngồi bên cạnh ông Mười.

Thầy Ký Bích đứng dậy chắp tay, thưa:

– Thưa hai bác, cháu yêu em Hoàng từ lâu. Nay cháu xin phép hai bác cho cháu đưa ba má cháu đến đây để làm lễ hỏi – thầy Ký thưa xong vẫn đứng.

Ông Mười nói với cô Hoàng:

– Cháu Bích nói vậy, cháu tính sao, cô dượng tùy nơi cháu.

Bà Mười nói tiếp:

– Cô ấy cháu Bích là người đàng hoàng. Cô có ý thưa với ba má cháu rằng đây là se tơ phải mối, ném cầu phải nơi nhưng lâu nay cô chưa có dịp nói với cháu.

Cô Hoàng nhìn xuống mũi giày, lặng thinh.

Bà Mười nói với cô Hoàng:

– Thôi, vậy là cô hiểu ý cháu rồi – rồi quay sang thầy Ký Bích – cháu để tôi hỏi lại em Hoàng rồi tôi cho cháu hay sau.

… Bẵng đi một dạo ở chợ người ta thấy vắng bóng hẳn anh chàng họa sĩ bày tranh bán trong “ki-ốt,” nhưng không mấy ai hiểu lý do. Bỗng một buổi sáng nắng đẹp trời xanh, người ta lại thấy chiếc “ki-ốt” mở toang bốn phía và bên trong những bức tranh lại khoe màu giống như sân khấu lại kéo màn với những đào kép mới.

Lần này họa sĩ đang cặm cụi tô, phết, ngắm nghía một bức họa mới chưa từng bày bán. Người ta xúm lại xem rất đông. Nhìn bức tranh mới, có người thốt ra: “À, hình cô Hoàng vừa ăn đấu xảo sắc đẹp ở tỉnh.”

Đó cũng chính là bức họa mà họa sĩ đã vẽ ở nhà ông Mười và lâu nay họa sĩ ngưng vẽ. Một buổi sáng khi chúng tôi đi ngang “ki-ốt” của ông, ông bảo chúng tôi về thưa với ông Mười cho người đem bức họa ra đây cho ông hoàn thành nốt. Chúng tôi về thưa lại và ông Mười đã cho bọc bức họa lại rất kỹ rồi bảo chúng tôi khiêng ra cho họa sĩ. Và bây giờ họa sĩ đang vẽ nốt bức họa đó.

Một buổi chiều, chúng tôi đi học về ngang “ki-ốt” thì thấy họa sĩ đang bọc bức họa rất kỹ, bọc xong lại còn lấỵ đinh cúc đóng chung quanh. Rồi họa sĩ biếu chúng tôi mỗi đứa một hào bạc và bảo: “Các em khiêng bức tranh này về cho ông Mười nhé. Nhớ đừng làm rớt, làm rách, cảm ơn các em!”

Chúng tôi nhận tiền, một hào bạc, trong đầu đã nghĩ tới những ly nước đá chanh, những bát hủ tiếu, và nhanh nhẩu khiêng bức tranh về cho ông Mười.

Ông Mười mừng lắm, bảo chúng tôi dựng bức tranh trên ghế, nơi cô Hoàng ngồi cho họa sĩ vẽ. Rồi tự tay ông lấy kềm để nhổ đinh cúc gỡ lớp vải bọc quanh bức tranh. Tôi trỏ cho ông Mười xem dòng chữ trên mặt vải bọc tranh, bằng tiếng Pháp: “Xin mở ra vào ngày hôn lễ cô Hoàng”. Chữ viết nhỏ bằng mực đen ở góc trái của khuôn hình mà vì vui mừng, ông Mười không trông thấy lúc đầu. Khi tôi nói thì ông Mười ngưng tay, không mở lớp vải bọc nữa. Ông là người tôn trọng những nguyên tắc của cuộc sống. Và bức họa vẫn dựng trên ghế, chờ ngày được khui ra.

Cách đó không bao lâu đám hỏi được tiến hành với tất cả sự nghiêm trang của nghi lễ cổ xưa đúng mức. Rồi đến đám cưới. Chuyện đời cứ như thế. Một người yêu một người, hai người lây nhau. Hai người không yêu nhau cũng vẫn lấy nhau. Hai người yêu một người, hai người lấy nhau, người kia đau khổ nhưng rồi cũng sẽ yêu người khác và quên người xưa mình từng yêu. Chưa bao giờ có chuyện hai người đàn ông yêu một người đàn bà, mà kết quả sau cùng là cả ba đều sống độc thân suốt đời hết cả. Phải có một người đau khổ, một người hạnh phúc, trong hai người đàn ông cùng yêu người đàn bà đó.

Người hạnh phúc ở đây là ai? Là thầy Ký trẻ tuổi đẹp trai chăng?

Người đau khổ ở đây là ai? Là người họa sĩ tài hoa nhưng yếu thế chăng? Cũng chưa đã hẳn, biết đâu sau cái cười nụ lại có tiếng khóc thầm, và ngược lại!

Nhưng dù thế nào rồi thì đám cưới cô Hoàng với thầy Bích vẫn xảy đến. Một đám cưới linh đình, nghi lễ rườm rà trang nghiêm, cô dâu chú rể đẹp đôi nhất từ xưa tới nay trong vùng. Cô Hoàng là cô gái đẹp nhất ở cả cái tỉnh này đã đi lấy chồng mà chỉ để lại phía sau vết xe hoa có một trái tim hơi rạn nứt. Thế là cô phúc hậu lắm.

Giữa buổi lễ thành hôn có đông đủ các viên chức giàu sang, học thức, ông Mười đã trịnh trọng khui lớp vải bọc để trình cho quan khách một bức họa mà ông đã biết là bức họa nào rồi. Để cho quan khách chắc lưỡi khen: Người đẹp hơn tranh, hoặc tranh đẹp hơn người. Nhưng khi bức họa được khui ra thì ai nấy thảy đều ngạc nhiên. Người trong tranh đẹp hơn người ngoài, nhưng không phải chỉ có một người mà hai. Một cô gái và một chàng trai. Cô gái hẳn là cô Hoàng rồi. Còn người con trai? Người trai là ai? Đó là Bích. Người mà họa sĩ chỉ gặp có một lần và chỉ trong vài phút thôi. Người ta ngạc nhiên vì nét họa đẹp, tươi như sống, giống như tạc, nhưng những ngạc nhiên nhất không phải là ông Mười bà Mười hoặc cô Hoàng mà là thầy Bích. Thầy Bích không hiểu tại sao mình không ngồi cho Như Thanh vẽ một phút nào mà họa sĩ lại vẽ mình chung với Hoàng, như hai người ngồi chụp ảnh chung… làm cho bức họa “Xuân Vê ” của nhà họa sĩ càng đầy đủ ý nghĩa. Ông Mười có gởi thiệp mời họa sĩ, nhưng chàng đâ đóng cửa “ki-ốt,” và đã rời khỏi nơi đây từ vài hôm trước.

Bọn học trò chúng tôi được sống một ngày trọn vẹn vui tưng bừng rộn rịp những cuộc vui đầy xác pháo. Đôi má cô Hoàng hồng đẹp hơn bao giờ hết: mùa Xuân đã về.

Sau đám cưới, cô Hoàng không còn ở trong ngôi nhà thâm u này nữa. Cô đi theo chồng. Cô từ giã chúng tôi với nước mắt ràn rụa.

Còn ông Mười thì được một trường tư thục đâu ở Sàigòn mướn dạy Pháp văn. Ít lâu sau, ông Mười và bà Mười cũng đi. Ngôi nhà bỏ lại cho một người đầy tớ già trông coi. Còn chúng tôi thì phải đi ăn cơm tháng ở một nhà gần đấy.

Hằng ngày chúng tôi đi học phải đi ngang ngôi nhà này, qua hàng dâm bụp này. Thỉnh thoảng bọn tôi ghé lại lượm nhãn rụng dưới những gốc nhăn già. Ở cái gốc nhãn nơi cô Hoàng ngồi cho họa sĩ vẽ, có một thỏi màu rơi, bị mưa nhòe ra đất. Trong nhà, bức thêu “Vạn Lý Vân Trình” vẫn còn đó, nhưng con rồng như bị mắc cứng trong những cụm mây, không còn có vẻ bay lướt như xưa, mắt nó không chiếu sáng nữa. Linh hồn của nó đã đi rồi.

BÀ HOÀNG

Những gốc nhãn già như rũ xuống, lá rụng như lệ rơi. Nơi gốc cây nhãn cô Hoàng ngồi cho họa sĩ Như Thanh vẽ, còn in dấu chân ghế, cỏ mọc đã phủ, nhưng trong tâm trí tôi cô Hoàng vẫn ngồi đây nghiêm nghị như một bà Hoàng, còn họa sĩ Như Thanh thì nhìn cô với cặp mắt lạ lùng. Đám cưới của cô với thầy Ký Bích chấm dứt chuỗi ngày vui nhộn hồn nhiên của chúng tôi. Chúng tôi không đá bóng ở sân nhà nữa vì không có người khán giả đặc biệt xem. Mỗi lần trời mưa, tôi đi ngang, ghé lại rửa chân ở mái nước trước nhà, tôi như thây dấu chân của cô Hoàng in trên gạch đỏ au, còn mãi đó không trôi.

Tôi học hết cấp sơ học để lên trung học trên tỉnh thành. Tôi xa dần những trò chơi say đắm ngày còn bé và trong tâm trí cũng nhạt dần những kỷ niệm yêu thương của khuôn viên nhà trường thơ ấu và xóm quanh nhà ông Mười.

Trường trung học là một trường nổi tiếng của Đông Dương, một trong vài ba trường có tỷ số học sinh đỗ đạt cao nhất trong các kỳ thi. Muốn vào đó phải vất vả lắm. Nếu chỉ dùng học lực để chen vào thì không nói làm chi nhưng mà người ta lại không chỉ đòi hỏi học lực. Con ông cháu cha dùng tiền để cạy cửa cho con cháu họ vào. Vì thế cho nên học sinh ở trường quận mới ra tỉnh thành lần đầu như tôi đã đỗ với hạng tám mươi tám trong khi chỉ có chín mươi học sinh được chọn từ sáu trăm thí sinh của sáu tỉnh Tiền Giang Nam kỳ.

Nhưng dù sao tôi cũng đã vào được ngôi trường mà cả gia đình tôi ước ao cho tôi. Và ngờ đâu chuyện cô Hoàng lại còn dài trong đời sống niên thiếu của tôi. Mỗi buổi chiều thứ bảy, trường có buổi ghi tên đi ra ngoài thành phố tại phòng Tổng giám thị. Nếu có thân nhân hoặc người bảo trợ nhận lãnh thì học sinh muốn ra mới được ra chơi, hoặc nửa ngày hoặc cả ngày chủ nhật. Tôi ít hay ra cả ngày vì chẳng có gì vui ngoài mấy cái xe cà rem, xe bánh mì patê gan và cái loa hát nhạc cải cách ở nhà lồng chợ. Thường thường tôi nằm ở trong trường hoặc đánh bóng bàn hoặc ra bãi cỏ sân trường đọc truyện hoặc xem hình lõa thể phụ nữ trong các tạp chí Paris Magazine mà bè bạn chí thiết đem lọt hàng rào kiểm soát của giám thị.

Một hôm có thằng bạn rủ tôi ra ngoài bến Bắc coi sông Mékong chơi vì ở đó có chiếc tàu Amiral Charner vừa đến bỏ neo. Chúng tôi đi với mục đích coi sông cái và tàu chiến, nhưng khi lang thang trên vỉa hè không biết thế nào mà hai đứa lại rẽ vào nhà Xẹc Tây cũng gần bờ sông, ở đó có nhiều chuyện vui như múa rốì, bơi lội, đánh ten-nít, coi cũng đỡ buồn. Hôm ấy chúng tôi ghé lại phòng triển lãm nơi thường trưng bày những tranh ảnh đẹp để bán. Hai đứa bị thu hút vào một nhà nghệ sĩ cắt hình profil bằng kéo trên giấy đen láng. Ông ta cắt liền tay. Chuyện này có vẻ lạ. Nhà nghệ sĩ sử dụng chiếc kéo khéo léo nhanh nhẹn như một phép thần thông.

Mỗi khi một tấm hình cắt xong thì liền được dán trên nền giấy trắng để cho thân chủ và khán giả mộ điệu bình phẩm và tán thưởng. Ai cũng khen tài người nghệ sĩ cắt hình. Ông chỉ cắt một lần, không sửa gọt lại, y như là có nét vẽ ẵn trên giấy rồi ông cắt theo. Có bà đầm khen nồng nhiệt vì ông cắt hình lông nheo của bà thật khéo và thật đúng. Thay vì trả giá bình thường bà đầm thưởng cho ông gấp hai chục lần, nghĩa là từ năm đồng vọt lên một bộ lư, làm cho người nghệ sĩ cảm ơn rốì rít.

Hai đứa chúng tôi mải mê xem cắt hình, nhưng rồi cũng chán. Không có thứ gì trên đời lại hấp dẫn người ta mái được. Bọn tôi quay ra định đi đến bờ sông để thực hiện mục đích mà mình ngắm lúc ra đi. Nhưng khi sắp ra khỏi phòng thì mới biết là tự nãy giờ sau lưng mình có nhiều người đang mê say nhìn ngắm những bức tranh treo trên tường. Tôi bị bạn thúc giục, nhưng hãy còn đứng nán lại nhìn. Nhìn rồi đứng lại, rồi quay lại xem.

Tôi kêu lên: Cô Hoàng!

Thằng bạn tôi không biết tôi kêu ai, bèn hỏi: Cô Hoàng nào?

Tôi vẫn đứng trân trân, không đáp. Tôi đứng ở giữa phòng tranh mà hồn tôi như bay về tận những gốc nhãn già trong vườn nhà ông Mười, tôi tưởng tôi đi qua dãy hàng rào bông bụp xanh dờn với những chiếc bông đỏ ẩn trong lá như những nụ cười kín đáo, tôi tưởng thấy lại cô Hoàng ở những nơi quen thuộc hàng ngày xưa kia.

Thấy tôi cứ đứng im mà mắt dán lên tường như bị thôi miên, thằng bạn cười:

– Ơ kìa, mày mơ thấy Nam Phương Hoàng Hậu sao thế? Ở ngoài quán sách có bán hình bà Hoàng đấy! Có muốn mua thì đi với tao.

Tôi lắc đầu. Không phải là bà Hoàng đó. Bà Hoàng của tôi ở đây là cô Hoàng. Cô Hoàng ngày nay đã trở thành bà Hoàng nhưng trong tranh của họa sĩ Như Thanh cô vẫn còn là cô Hoàng. Cô còn trẻ và thơm như đóa hoa trinh.

Tôi trỏ tay lên tường, thong thả nói:

– Cô Hoàng kia kìa! Rồi tôi đi đến gần bức tranh hơn để nhìn.

Tuy là giữa ban ngày nhưng trong phòng vẫn mở đèn điện. Riêng mỗi bức tranh lớn thì có một bóng đèn nhỏ gắn trên khung rọi xuống, nhưng cũng có vài bức thì lại nằm ẩn trong ánh sáng lờ mờ. Có lẽ đó là ý muốn của tác giả chăng? Vì có những bức phải trưng bày như thế thì nội dung mới nổi.

Bức tranh làm cho tôi kêu lên là bức tranh vẽ chân dung cô Hoàng ngồi dưới gốc nhãn trong vườn nhà ông Mười vào năm tôi còn học trường quận, một cô Hoàng vô cùng lộng lẫy trẻ đẹp và đường bệ như một bà hoàng. Tấm tranh đó, tôi còn nhớ rõ như in trong trí, họa sĩ Như Thanh vẽ khi thầy Ký Bích sắp sửa cưới cô. Tôi cũng còn nhớ trước ngày đám cưới, ông Mười có bảo tôi ra chỗ “ki-ốt” của họa sĩ trao tận tay tấm thiếp mời đám cưới, nhưng nó đã đóng cửa.

Cô Hoàng ở đây y hệt như cô Hoàng ngày xưa. Tôi chưa hết ngạc nhiên thì thằng bạn lôi tay tôi vừa nói, vừa đưa tay chỉ quanh phòng:

– Phòng tranh này chỉ một mình Bà Hoàng mày ngụ trị hay sao ? Xem kìa!

Tôi nhổ mắt tôi ra khỏi cô Hoàng cố cựu để nhìn sang những bức khác. Ổ kìa, nhiều cô Hoàng quá. Điều này làm tôi ngây ngất, bàng hoàng và lúng túng. Sắc đẹp có khả năng lay chuyển tất cả, huống nữa là trái tim của một chàng trai đang biết ngắm nhìn những đường cong ẻo lả. Bên cạnh cô Hoàng bên gốc nhãn, một cô Hoàng ngồi trên bãi cỏ xanh non mởn. Cách đó vài bức khác, lại một cô Hoàng đi trong nắng với chiếc ô mở rộng che trên đầu, mà hàng rào bông bụp làm nền xanh ngắt, rồi một cô Hoàng xõa tóc và sau lưng là một vầng trăng thu rõ tròn và to, kế đó, một cô Hoàng ngồi đùa với mấy chú mèo con. Và cuối cùng là một cô Hoàng nằm trên giường mặc áo ngủ, ngực hơi hở, mà cặp đùi hơi phơn phớt lộ sau bức màn tuyn. Bức này làm cho tôi hết sức kinh ngạc… Tôi cũng không hiểu tôi bị thu hút vì những làn cong tuyệt mỹ hay vì câu hỏi tự trong thâm tâm tôi: “Làm sao họa sĩ lại vẽ được cô Hoàng như thế này…?”

Cả một phòng tranh có rất nhiều tranh nhưng hình như tất cả những bức không phải là cô Hoàng đều mờ đi. Và lòng tôi gợn lên những làn sóng lạ kỳ. Tôi như ghen ghét cả hai người đàn ông đã chiếm đoạt cô Hoàng của tuổi thơ tôi. Thầy Ký Bích lẫn họa sĩ Như Thanh.

Tôi đang đứng ngớ ra giữa phòng thì thằng bạn lôi tay tôi đi vì sắp tới giờ vào trường. Nhưng giữa lúc đó tôi lại đụng nhằm một người đàn ông. À đây rồi, họa sĩ Như Thanh. Tôi gọi tên ông ta ngay như một niềm hạnh ngộ. Ông còn đang đào bới trong trí nhớ để tìm ra cậu học sinh thì tôi tự xưng tên. Chỉ một câu ngắn làm ông nhớ ra ngay tôi và ngôi nhà quen thân mà ông từng đến. Ông gật gù, nhìn hai chiếc phù hiệu nhà trường “CMV” trên ve áo tôi và hỏi:

– Cậu đã lên đây rồi… cơ à?

– Dạ. Em còn một năm nữa thì thi…

– Ra trường đấy! Định học ngành gì em ?

– Dạ chưa biết.

Chuyện qua lại xã giao chẳng kéo dài được bao nhiêu. Rồi họa sĩ hỏi tôi:

– Em có thường qua nhà ông Mười ?

– Dạ mỗi lần bãi trường, em có đi qua một lần, trước khi về nhà. Rồi không suy nghĩ gì thêm, tôi nói luôn – Nhà ông Mười bây giờ buồn lắm.Ông bà Mười đã đi từ lâu rồi. Nghe nói ông Mười đi lên Sài Gòn dạy học. Nhà bây giờ do một người đày tớ già trông nom. Bức thêu “Vạn Lý Vân Trình.” mấy năm trước thì em thấy còn treo đó, nhện giăng bít hết. Không rõ năm nay còn đó hay không, em cũng không biết, vì em đến chỉ đứng ngoài gốc nhãn rồi buồn quá không vô nhà nữa. Trong nhà đâu còn ai!

Mắt họa sĩ Như Thanh nhìn vào tôi như lặp lại câu nói: “Nhà bây giờ đâu còn ai!” Rồi ông thở dài.

Tôi bất ngờ hỏi:

– Sao họa sĩ không đến dự đám cưới cô Hoàng? Ông Mười bảo em đi tìm họa sĩ để mời dự lễ và để trả tiền bức họa.

Họa sĩ cười khẽ:

– Có là bao mà ông Mười phải bận tâm. Hồi đó tôi cũng định đến dự lễ nhưng có chuyện phải đi gấp.

Tôi nhanh nhẩu đáp:

– Chúng em có mang bức họa về và ông Mười mở ra đúng vào lúc hai họ nhóm họp đông đủ.

Họa sĩ lại cười khẽ:

– Thế là cũng như tôi đã đến dự rồi.

Tôi trỏ bức cô Hoàng ngồi dưới gốc nhãn và hỏi một cách hồn nhiên:

– Bức này họa sĩ đã tặng cô Hoàng vào ngày cưới rồi mà. Sao lại còn đây?

– Tôi cũng không hiểu tại sao? Họa sĩ đáp ngắn gọn với nụ cười hóm hỉnh.

– Sao họa sĩ lại vẽ được những bức tranh khác trong lúc họa sĩ không gặp cô Hoàng nữa?

– Tôi không hiểu tại sao – Họa sĩ Như Thanh đáp gọn gàng và tiếp – Nếu mai này em thiên về hội họa thì em sẽ tự trả lời cho em rõ hơn là tôi hôm nay.

Tôi không quen họa sĩ Như Thanh nhưng lòng cảm mến luôn luôn đậm đà và càng ngày càng cao lên kể từ những ngày đầu tôi dừng lại ở “ki-ốt” của họa sĩ để ngắm các bức vẽ trên đường tới trường. Bây giờ tôi lớn lên, tôi càng mến phục họa sĩ. Tôi không hiểu gì hết, nhưng dường như tôi đã hiểu nhà nghệ sĩ này ở một điểm nào đó mà chính tôi cũng không hiểu được cho tách bạch như trong hình học hay số học.

Tôi phải từ giã họa sĩ giữa lúc họa sĩ còn đang tỏ vẻ lưu luyến tôi để về trường với thằng bạn. Suốt dọc đường và trong đêm đó hễ có dịp là nó hỏi tôi và gợi chuyện:

– Mày quen cô Hoàng đó à? Đẹp như một bà Hoàng.

– Thì cô tên là “Hoàng” rồi còn gì nữa!

– Mày có yêu cô ta không?

– Cô ta bây giờ là “bà” rồi. Lâu rồi.

– Trong tranh thì xứng với mày bây giờ lắm đây chứ!

– Thôi đừng có nói nhảm!

– Mày yêu Hoàng rồi! Trông cái mặt mày ngớ hẳn ra khi mày kêu lên: “Cô Hoàng” lúc ấy, và từ lúc đó mày luôn luôn đăm chiêu.

Tôi giật mình như bị giám thị gọi.

Bãi trường năm ấy tôi về quê. Cũng như lệ thường, tôi phải xuống xe ở chợ quận và trong lúc chờ người nhà đánh xe ngựa tới rước, tôi ghé tạt qua xóm nhà ông Mười,ở đó có mấy đứa con chú tôi đang ở trọ để học. Sẵn dịp tôi cho chúng đi xe cùng về nhà luôn một chuyến.

Lúc tôi lên lớp nhất trường quận tôi có một người bạn gái tên là Xuyến. Nàng ngồi trước tôi một bàn. Nàng giỏi toán, còn tôi thì coi môn học đó như kẻ thù. Mỗi lần tôi bí, Xuyến để bài sang một bên. Từ bàn sau, tôi đọc rõ cả, và cứ thế mà chép. Hãy cứ được điểm cái đã rồi sau sẽ tìm giải nghĩa sau. Một hôm Xuyến cũng để bài sang một bên, nhưng khi tôi nhìn lên thì tôi chẳng đọc thấy con số nào mà chỉ thấy một chữ to cắt từ một trang báo “AIMER” (Yêu). Tôi không biết Xuyến định nói gì. Chắc nàng hỏi tôi chữ ấy có nghĩa gì chăng? Xuyến thi rớt sơ học năm trước nên phải ngồi lại. Xuyến lớn hơn tôi những hai tuổi.

Về sau tôi mới biết là Xuyến yêu tôi. Nhà Xuyến cách chừng một quãng phía dưới nhà ông Mười nên sáng nào tôi cũng nom thấy Xuyến đi qua, và lần nào tôi cũng thấy Xuyến nhìn vào rồi bước nhanh.

Khi tôi lên tỉnh thành, mỗi lần tôi trở về, ghé lại đây để rước đám em, tôi cũng tìm cớ đến nhà Xuyến. Xuyến đã nghỉ học để trông nom cửa hàng cho bố ở ngoài chợ. Nếu tôi không thấy Xuyến thấp thoáng ở nhà thì tôi ra chợ tìm cách gặp nàng. Thấy tôi ăn mặc trắng phau, thi nàng nói kháy: “Bây giờ đâu cần gì xem toán của ai nữa.’

Tôi nói: Toán không cần xem, nhưng còn nhớ “chữ” kia. Cứ như thế đến vài năm. Tôi nhận thấy Xuyến thay đổi nhanh quá. Nàng lớn và đẹp hẳn lên. Má hồng, mắt sắc và môi ướt mọng. Nhưng vẫn trách tôi về sự “xem toán của ai” và tôi cũng vẫn đáp rằng luôn luôn nhớ “chữ” ấy. Năm nay tôi về. Tôi đi một mạch đến xóm nhà nàng, lòng nôn nao mong gặp nàng để được nghe nàng trách móc “không cần ai” và để được trả lời như những lần trước. Nhưng không gặp Xuyến ở nhà. Ra cửa hàng, tôi thoáng thấy Xuyến. Nhận ra tôi, Xuyến lẩn vào trong. Tôi nhởn nhơ trước cửa hàng mãi không thây Xuyến ra nữa. Tôi hơi hờn, định sẽ viết một lá thư.

Tôi trở lại nhà trọ của lũ em. Trên đường đi tôi lại gặp cô Hoàng đang đứng thơ thẩn ở trước ngõ ngôi nhà ngói cũ. Tôi giật mình kêu lên thất thanh: “Cô Hoàng” như lúc tôi kêu ở giữa phòng tranh hôm nọ.

Thoáng đầu cô Hoàng nhận không ra tôi, nhưng chỉ qua một vài giây bỡ ngỡ, cô gọi đúng tên tôi. Cô mừng như gặp bạn tri âm. Cô bảo ngay:

– Em vào trong nhà chút đã. Đi đâu mà có vẻ vội vàng vậy?

– Dạ… em đi đi… rước mấy đứa em. Miệng nói vậy mà chân vẫn bước theo người đàn bà như một khối kim bị sức hút của đá nam châm. Trong nhà sự bày trí có vẻ tươm tất, chứng tỏ có người ở đây từ lâu. Tôi nhìn lên ngưỡng cửa buồng. Chú rồng trong mảnh trời thu hẹp giữa khung gỗ hãy còn vùng vẫy mà không bao giờ vượt thoát những cụm mây.

Cô Hoàng bảo tôi: “Em ở lại đây chơi nhé.”

– Dạ, em phải rước mấy đứa em cùng về.

Cô Hoàng nói ngay:

– Cô ở đây có một mình.

Tôi vừa mắc nón lên cái gạc nai vừa kêu lên:

– Ủa còn thầy đâu?

– Thầy ở đằng quận.

– Thầy bận lắm sao cô?

– Cũng bình thường thôi. Nhưng cô bảo chừng nào thầy nghĩ đúng về cô, rồi cô mới cho về. Còn bây giờ thì cô nhất định ở một mình cho yên ổn.

Tôi càng ngạc nhiên hơn. Ra, có một sự gì bất thường giữa cặp trai tài gái sắc mà ai cũng thèm thuồng địa vị của họ đây chăng? Tôi chưa hỏi thì cô đã nói:

– Để cô kể chuyện cho em nghe. Số là hồi năm ngoái trong một chuyến về quê thầy, thầy và cô trễ chuyến Bắc sang sông nên thầy và cô đi bách bộ chơi. Bỗng gặp một người bạn của thầy. Ông ta mời thầy vào nhà Xẹc Tây ở gần đó để giải khát. Ngờ đâu ở đó lại xảy ra câu chuyện.

Tôi hỏi:

– Chuyện gì mà xảy ra vậy cô?

Cô Hoàng không trả lời mà hỏi tôi:

– Em ăn cơm chưa? Để cô đi nấu cho một bữa cơm xoàng nghe! – Cô vui vẻ – Em cũng biết, ngày trước cô ít vô bếp, nhưng bây giờ thì đồ Tây đồ Tàu gì cô cũng nấu rành hết! Nhất là các món thầy thích dùng.

Tôi không thể từ chối trước một sự bắt ép của một người có quyền lực với tôi và là một người đẹp mà tôi chiêm ngưỡng từ lâu.

Cô chạy ra chạy vào và nói chuyện luôn để cho tôi khoi sốt ruột đòi về.

– Thế nào, em tin là em có thể đậu nổi với điểm ưu không?

– Dạ, còn một năm nữa cô ạ, em chưa biết!

– Em có khá lên trong môn toán không?

– Dạ cũng trên trung bình chút ít.

– Lên đó thì không có bạn nào cho ngó toán nữa hả?

Tôi đỏ mặt thẹn thùng. (Tôi đã kể cho cô nghe chuyện tôi coi bài của Xuyến). Cô nói tiếp:

– Con gái chỉ học được vài lớp, rồi ở nhà, lấy chồng. Thế là hết.

Chập sau cô bưng ra một mâm cơm gồm có canh, cá chiên và vài món nữa. Khi tôi ngồi vào bàn thì cô cũng lấy đũa chén cùng ăn với tôi.

– Để em ăn một mình em mắc cỡ miệng, ăn không ngon. Rồi cô tiếp: – Cô đã ăn cơm một mình như thế này ngót một năm trời rồi đó.

– Thầy không đến với cô sao?

– Có đến, nhưng cô không cho ở lại.

– Sao vậy cô?

– Tại cô giận thầy chớ sao!

– Sao cô giận thầy dữ vậy?

Tôi nghĩ thầm trong bụng. Ông thầy ký đẹp trai có lẽ lắm người đẹp bu tới chớ gì. Đó là sự thường. Nhưng không phải. Cô Hoàng nói:

– Trễ chuyến Bắc đó, thầy đưa cô vào nhà Xẹc. Ngờ đâu trong đó có phòng trưng bày tranh để bán. Em biết là những bức tranh gì không?

Tôi đoán ra sự giận hờn của cô Hoàng rồi, nhưng tôi đáp:

– Không, em đâu có biết tranh gì đâu cô! Ở đâu vậy Cô?

– Em có nhớ nhà họa sĩ đã vẽ hình cô không?

– Có chớ! Ông ây tên là Như Thanh. Ông ấy vẽ hay lắm.

– Cũng chính họa sĩ này đã trưng bày tranh bán ở đó. Mà ngặt một nỗi, cô cũng không thể hiểu tại sao, cô đếm hơn mười bức chơn dung và hình đứng hình ngồi của cô, mà bức nào bức ấy đều thật đẹp, và thật giống cô.

Tôi hỏi:

– Rồi sao cô giận thầy?

Cô Hoàng cười:

– Em không hiểu bây giờ thì sau này em sẽ hiểu. Em biết không? Khi xem các bức tranh vẽ về cô, thầy tỏ ý không hài lòng. Thầy hỏi ông họa sĩ để cho thầy mua hết tất cả những bức ấy.Nhưng ông họa sĩ cười nhã nhặn, và trỏ tấm bảng nhỏ gắn ở góc phải của mỗi bức tranh: “KHÔNG BÁN” Thầy càng tỏ vẻ không hài lòng tợn hơn nữa khi đọc tấm bảng đó.

– Cô không gặp ông họa sĩ lần nào nữa, sau khi ngồi ở vườn nhãn hả cô?

– Cô đi về quê thầy, còn để ý làm chi tới tranh và hình nữa mà gặp. Cô tiếp – Cô cũng không hiểu tại sao ông họa sĩ lại vẽ được đến nhiều hình cô như thế?

Cô Hoàng kể tiếp:

– Trên đường về quê năm ây, thầy rất buồn. Cô hỏi thầy. Thầy không nói. Khi về đến nhà, mãi tận khuya thầy cứ thở dài sườn sượt. Cô biết thầy có ý nghĩ gì rồi. thật đúng vậy. Thầy hỏi cô: Có gặp họa sĩ lần nào khác không? Cô nói không bao giờ. Thầy còn hỏi gằn: Tại sao có cả bức tranh cô nằm trong màn tuyn kia. Cô nói cô không hiểu được. Thầy gắt: “Em phải hiểu, vì đó là em!

Thế là cô giận thầy và bỏ quê thầy, cô về đây. Thầy đến xin lỗi cô mỗi ngày nhưng cô vẫn chưa hết giận. Chuyện có thế và cô cũng không hiểu tại sao cô giận thầy lâu đến thế!

Cô Hoàng trông trẻ đẹp như xưa, không mấy gì thay đổi, chỉ hơi đẫy người hơn tí. Điều đó làm cho thân hình cô càng đầy đặn và sắc đẹp càng mặn mà hơn. Tôi từ giã cô. Tôi muốn kể lại với cô câu chuyện của tôi và họa sĩ Như Thanh ở phòng tranh, nhưng rồi thôi, tôi không thuật lại gì hết. Tôi giữ nó trong lòng. Cả tôi nữa, cũng không hiểu tại sao.

Trên chuyến xe ngựa về quê năm ấy, mây đứa em con của chú tôi mới tỉ tê với tôi rằng Xuyến vừa có người đến dạm hỏi và lễ vu qui đã định trước Tết, tôi thấy buồn, giận và tức. Tôi hiểu tại sao, hay tôi không hiểu tại sao? Thì có lẽ cũng như cô Hoàng, cũng như họa sĩ Như Thanh.

BÀ CỤ HOÀNG

Lần đầu tiên tôi đến Paris, kinh đô ánh sáng, trung tâm chính trị văn hóa của thế giới. Cũng như trước đây khi tôi đến Rome, Luân Đôn – đến Paris tôi cũng thây bỡ ngỡ, lạ lùng. Nhưng may nhờ có Vũ, một người bạn đã quen nhau trên chữ nghĩa hằng chục năm trời, nay mới gặp mặt.

Ngoài ra cũng còn nhờ những trang sách mô tả người và cảnh Paris mà tôi đã quen hồi thời làm học trò. Nhưng mặc dù được mô tả rất tài tình, người trong sách và người ngoài đời vẫn khác biệt rất xa. Paris của tôi quen là Paris của Những Người Khốn Khổ, của Người Hà Tiện, của Nữ Trang Giả, của Người Gù Lưng Nhà Thờ Notre Dame. Màu sắc, dáng đi, giọng nói ngày nay, tuy vẫn Paris, nhưng là của một Paris có hàng trăm năm vượt đi về phía ánh sáng.

Sáng nay Vũ đưa tôi đến quán cà-phê Au Clairon des Chasseurs. Ngày nay ở Paris, như ở Sài Gòn trước đây, người ta vẫn giữ cái thú uống “cà-phê phin.” Không như ở Mỹ, cầm cốc cà-phê vừa vọt lên xe, vừa uống vừa lái xe. Người bồi bàn ở Paris có cái lịch sự làm vui lòng khách: để cho khách tha hồ ngồi đếm những giọt cà-phê nhểu xuống đáy ly và kéo chuyện cù cưa, đã không sốt ruột, lại còn vui lòng thấy khách ngồi lâu tâm sự với nhau ở quán mình. Vũ bảo tôi gọi thức uống và món lót lòng.

– Un café au lait! Tôi cất tiếng gọi.

Vũ cười thân mật:

– Tôi biết thế nào anh cũng gọi như thế. Đó là lốì gọi cách đây lâu rồi. Nó đã xưa rồi. Anh gọi thế người ta sẽ không hiểu gì hết.

– Vậy gọi thế nào?

– Une crème! Ngày nay ở Paris người ta không gọi café au lait nữa.

– Người ta không lẫn une crème với cà-rem-cây của mình sao?

– Không đâu, ngôn ngữ thời trang đã thay đổi rồi. Cả Paris này cũng thế.

Không nghiện cà-phê nên tôi chỉ uống cà-phê sữa, còn Vũ là tay hút ống píp trường canh, nên cần những giọt đắng để hài hòa với nhựa thuốc gắt!

Ngồi ở quán cà-phê Paris, thấy thật thú vị, thật thoát trần. Những ưu tư, đau khổ hầu như khách đã để lại ngoài ngưỡng cửa. Khi bước vào đây là rũ sạch bụi trần ai. Giữa khói thuốc um mờ, mùi bia và rượu mạnh ngan ngát và chuyện vãn râm ran, đôi khi réo rắt vài tiếng đàn tài hoa, thấp thoáng những mớ tóc bồng, những hàng ria đậm, ta thấy mình bỗng trở thành thi sĩ đang đuổi bắt những vần thơ giữa âm thanh và mây khói.

Tôi xong ly cà-phê sáng, Vũ nhét cối thuốc mới và vồn vã hỏi tôi:

Toa muốn đi đâu nào?

Biết đâu mà đi bây giờ? Giữa một trời rộn rịp, cuốn hút, lăn quay những xe và cộ, những phồn và hoa…? Thây tôi chưa quyết, Vũ nêu ra mấy ngõ mở:

– Đi xem họa sĩ căng giá vẽ ở khu đồi Montmartre, ở đó có cả họa sĩ Việt Nam, hay đi xem đua ngựa cũng gần ngay đó. Một bên là nghệ thuật, một bên là phàm tục. Tuy khác biệt nhau về bản chất, nhưng hai thứ đó vẫn tựa lưng nhau. Chỉ một bước là từ bên này toa đã dẫm chân sang bên kia rồi.

Tôi hoang mang không biết nên đi xem nghệ thuật hay vào khu vực đỏ đen. Mặc dù thế Vũ vẫn đưa tôi đi.

Mải mê trò chuyện, hai đứa chúng tôi để cho mình biến thành hai chiếc lá trôi theo dòng nước. Chân lan man bước mà lòng không định hướng đi. Phiêu lưu thế nào mà lại lạc bước tới Métro Château Rouge, rồi phất luôn sang đường André Del Sartre. Đã thế thì chúng tôi thừa thắng bước theo dãy tam cấp ngõ Paul Albert và ngõ Maurice Utrillo, tiện chân leo thẳng lên đỉnh đồi Montmartre rồi đi nữa, đi mãi.

Bỗng nhiên, tôi kêu lên:

– Đây là đâu mà giống xứ mình quá vậy?

– Cửa ô Ivry – Vũ trỏ tay về phía trước – Có muốn làm một tô hủ tiếu Mỹ Tho không?

– Lại gặp Mỹ Tho giữa Paris ?

– Nhưng Mỹ Tho do người Tàu nấu. Chắc toa không thích bằng Cơm Cồn Hến của Huế, Phở Gia Long của Sài Gòn, cơm Tám Giò Chả của Hà Nội. Nhưng dù sao nó cũng mang lại cho ta một “thoáng nghi ngờ” trong nước mắm cà cuống ăn bánh cuốn của Thạch Lam – Vũ lại tiếp – ở đây toa sẽ trông thây những tà áo rất Sài Gòn, sẽ được nếm lại múi măng cụt trắng phau mịn màng và ngửi lại mùi thơm tuyệt diệu của múi mít nghệ.

– .. Của Xuân Hương?

Hai đứa cười ha hả, tương đắc.

Vì đồng niên kỷ, đồng chạng lại đồng nghiệp, nên hai đứa chúng tôi cứ dìu nhau đi như hai hạt bụi lang thang quyện vào cái Hồng Trần Paris như một mê hồn trận.

.. Một hôm cơm nước ở nhà Vũ xong, Vũ hỏi tôi:

Toa đang viết gì ?

– Đang viết thì có đến vài ba cái, nhưng gắt nhất là đang kẹt cái kết của một truyện ngắn.

Vũ xoa tay:

– Được rồi! Tớ sẽ giúp toa! Vũ bặp bặp ống píp, khói tỏa mịt tâm tư và tiếp – Tớ chưa biết đoạn đầu của truyện, nhưng có thể đây sẽ gợi cho toa một cái kết. Có thể cả một quyển tiểu thuyết cũng nên. Biết đâu đây! Thiếu gì chuyện ngẫu nhiên lý thú trong văn chương. Như Pouchkine đã từng gợi ý cho Gogol viết kiệt tác “Những Linh Hồn Chết” vậy!

Tôi cười:

– Chúng mình sắp trở thành văn hào thi hào hết cả rồi nhỉ?

Hôm đó Vũ đưa tôi đến thăm một gia đình Việt Nam ơ ngoại ô Paris.

Đứng ở trước cửa, Vũ bấm chuông. Trong lúc chờ đợi cửa mở, Vũ hỏi:

Toa ở Bến Tre phải không?

– Phải!

– Thế thì hay lắm. Ổng cụ chủ nhà là người cùng tỉnh với toa đấy! – Vũ khẽ vỗ vào ngực tôi.

– Thế hả!

Tôi giật mình như có một mũi kim xuyên qua tim. Bến Tre ! Đó là tỉnh của tôi, mảnh đất Tiền Giang Sông Cửu, nơi tôi cắt rốn chôn nhau. Đã bao lâu rồi tôi xa nó. Hai ngọn cù lao nằm giữa sông nước chĩa thẳng ra biển như chiếc lưỡi con rồng thè ra liếm bọt bể Đông. Ba mươi, hay bốn mươi năm tôi không còn nhớ nữa, tôi sống với mộng mị, với gió bụi, với khổ lụy, với những thứ lý tưởng ngu xuẩn người ta trao cho. Mấy mươi năm, hơn nửa đời người lo những chuyện vá trời lấp biển không đâu. Tôi đã đánh mất Quê Hương yêu quí.

Bây giờ nghe nhắc lại tên nó mà gan ruột cháy lên, mà hận vô cùng.

Cánh cửa sực mở. Ánh đèn bật lên. Một ông cụ đầu râu tóc bạc phơ áo quần trắng một màu mây đứng giữa trần ai nhưng rất tiên phong đạo cốt.

Ông thân mật mời chúng tôi vào. Chúng tôi ngồi ở phòng khách. Vũ vừa hút thuốc vừa nhìn vừa ngó chung quanh phòng còn tôi gục đầu bóp óc. Tôi nhớ tôi có gặp ông cụ ở đâu? Không trên đời thì trong mộng. Tôi nhất định đã gặp ông cụ ít ra là vài lần.

Bỗng một bàn tay đặt nhẹ lên vai tôi và môt giong thầm thì:

Toa xem kìa, một bức tranh của thời Phục Hưng còn sót lại.

Tôi ngẩng lên, bàng hoàng như vừa qua một cơn mơ nhìn theo hướng mắt của Vũ. Tôi chưa kịp nói gì thì Vũ đã đọc thay tôi!

– Rồng bay giữa những cụm mây. Vạn lý vân trình. Nét chữ nhấn “lá liễu” tuyệt đẹp!

Tiếng của Vũ như trao cho tôi cái mối dây để phăng lại chuyện xưa. Bức tranh thêu cũ đã từng quen thân với tôi một thời xa lắc nhưng vẫn chưa phai. Thời đó tôi là một cậu bé đi học trường quận ăn cơm trọ ở nhà một ông tú tài có người cháu gái tên Hoàng đấu xảo sắc đẹp ăn hạng nhất toàn tỉnh. Hình ảnh cô Hoàng mặc áo vàng lướt qua hàng rào bông bụp xanh rờn rung rinh trong nắng mai hiện lên phất phới trong óc tôi. Rồi… Thầy Ký Bích, người đẹp trai nhất trong dinh quận yêu cô Hoàng. Họa sĩ Như Thanh cũng yêu nàng nhưng nhận thấy mình không thể địch nổi với viên thầy ký nên đã vẽ một bức tranh cô Hoàng để tặng cho gia đình và yêu cầu chỉ mở ra trong ngày hôn lễ cô, rồi chàng họa sĩ thất tình lặng lẽ đóng cửa xưởng họa ra đi.

Dòng hồi tưởng của tôi bị đứt quãng bởi tiếng guốc lẹp kẹp chậm chậm lê ra. Ông cụ đang bưng mâm trà trên tay.

Tôi vội vàng chạy tới đỡ lấy và kêu lên:

– Ông Mười! Ông còn nhớ cháu không?

Ông cụ buông mâm trà cho tôi và đứng ngớ ra. Tôi đặt mâm trà lên bàn xong thì ông cụ cũng vừa bước ra và ngồi xuống ghế. Vũ nhanh nhẹn vừa chuyên trà vừa vui vẻ hoi tôi:

Toa đã nhận ra cố nhân rồi chứ gì? Tôi hướng đạo có tài không?

– Tôi nhận ra ông Mười rồi! Tôi nhận ra rồi.

– Nhưng tôi thì chưa nhận ra chú em – Ông Mười vẫn nhìn tôi chăm chăm. – Tôi năm nay đã tám mươi hai rồi các cháu. Già cả đâm lú lẫn. Các cháu miễn thứ cho.

Tôi nâng tách trà mời cụ và nói:

– Cháu trèo nhãn vườn nhà cụ mòn chân đây mà!

– Thế cơ à! – Ông Mười giật nẩy người nhưng vẫn còn ngơ ngác.

Tôi tiếp:

– Cháu là thằng bé được cô Hoàng kèm toán mỗi tổì.

– Ủa vậy sao? Ông Mười vẫn ngạc nhiên – Nói vậy chứ em đây là …

– Đám con nít ăn cơm nhà cụ đi học trường quận.

– À, à, tôi nhớ ra rồi! Nhưng chú là… là…

– Cháu là thằng bé cụ bảo cầm lá thiếp đi mời họa sĩ Như Thanh để dự lễ thành hôn cô Hoàng nhưng khi ra đến xưởng họa thì họa sĩ đã bỏ đi đâu rồi, ổng chỉ nhờ người trao lại tấm chân dung của cô Hoàng và thầy Ký…, xin lỗi, thầy Ký Bích.

– Vậy sao? – Ông Mười kêu lên, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi tiếp – Họa sĩ Như Thanh.. Ờ, phải rồi ông ta vẽ cả hình con Hoàng lẫn thằng Bích chung một tấm. Và dặn chỉ mở giấy phong ra trong ngày hôn lễ…

– Dạ thưa đúng đấy – Tôi hớp tí trà và tiếp – Nếu không nhờ bạn cháu thì cháu không thể nào gặp lại cụ. Thời gian quá dài. Gần năm mươi năm. Ông tú tài Mười hồi đó với ông cụ bây giờ khác nhau quá xa.

Ông Mười nhìn tôi cười hiền hậu:

– Vậy ai có thể bảo cậu bé trèo nhãn vườn nhà tôi ngày xưa lại là người khách tóc hoa râm đang ngồi trước mặt tôi bây giờ?

– Nếu cháu gặp cụ ngoài phố chắc cháu không tài nào nhận ra.

– Nhưng sao vào trong nhà này chú lại nhận ra? Ngôi nhà này với ngôi nhà ngói xưa giữa vườn nhãn có gì giống nhau đâu? Chung quanh đây đâu có dừa xiêm, măng cụt như xứ mình!

– Cháu nhận ra cụ nhờ bức tranh. Tôi nhắc lại và trỏ lên vách.

Vũ duyên dáng ngắt lời tôi:

– Anh bạn đến đây là nhờ cháu đó ông Mười! Nhưng anh ấy nhận ra ông Mười là nhờ bức tranh “Vạn Lý Vân Trình” kia kìa! Cháu thích quá nên bảo hắn xem, chẳng ngờ đó là một kỷ niệm giúp hắn tìm ra cố nhân. Cháu thích nét bút lông nhấn “lá liễu” quá.

Ông Mười ngẩng lên và nói – Chữ nho là của một người bạn thân của tôi, còn bức tranh là của nhà tôi dạy cho con cháu Hoàng thêu khi nó thi rớt về ở nhà. Con Rồng này đã đi theo tôi khắp nơi lưu lạc của đời tôi. Đó là bảo vật độc nhất mà tôi còn giữ được khi sang đất nước này.

Vũ rót trà vào tách của ông Mười và hỏi:

– Cháu được hân hạnh được ông Mười chỉ giáo cho nhiều việc về cách chống bọn “Vịt cừu” yêu quái, cháu đoán chừng ông Mười sang đây đã lâu lắm chứ không phải sau năm mất nước.

– Tôi không nói giấu gì hai chú. Tôi lên Sài Gòn dạy đám con Tây. Được vài năm thì cách mạng nổ ra. Tôi có vô khu vài năm… mà thôi, bỏ đi …

Tôi suýt hỏi thăm đến bà Mười và cô Hoàng là những người thân yêu đã để lại trong lòng tôi những tình cảm không phai, nhưng tôi linh tính có điều gì rất buồn sẽ được ông Mười kể ra, nên tôi thôi không hỏi tới nữa mà để cho Vũ và ông Mười trao đổi ý kiến với nhau về các cuộc tranh đấu vạch mặt bọn Vịt cừu ở Paris.

Tôi lặng nhìn bức tranh cũ như tao ngộ một người thân yêu sau nghìn năm xa cách. Con Rồng lẩn khuất trong những đóa mây ngũ sắc bay vun vút trong vũ trụ. Con Rồng do một đôi tay mỹ nhân tạo nên và ban cho nó một tinh thần. Lúc nào nhìn Rồng, tôi vẫn thấy Rồng bay và vì thế tôi nghe vũ trụ xoay vần, mặt đất tôi đang đứng đang đi cũng chuyển luân, không nằm tại chỗ như tôi tưởng. Quá khứ trở về trong tôi mãnh liệt.

Khi tôi cùng Vũ đi qua vườn Luxembourg hôm nọ vào buổi sáng trời rét ngọt căm căm, tôi mới thấy tận mắt những lá rơi từng chiếc trên vai trắng tuyết của những bức tượng đồng.

Và tôi càng thấy thấm thìa câu văn của A. France. “…Bây giờ tôi càng ngày càng già đi, tôi càng thấy lại Tôi trong cậu bé Jean buổi sớm tựu trường, chiếc cặp trên lưng, nhảy chân sáo qua vườn hoa Luxembourg mà trái tim hơi se thắt…”

Thời đá banh lăng, tắm sông, trèo nhãn ở vườn nhà ông Mười, một người con gái đẹp nhất tỉnh mỗi tối ngồi bên cạnh dạy kèm toán, những buổi sáng đến trường dừng chân trước xưởng họa của họa sĩ Như Thanh dí mũi vào khung kính để chiêm ngưỡng chân dung của Napoléon, quãng đời ấy của tôi là quãng đời thần tiên nhất.

Nó còn có bao giờ trở lại với tôi nữa?

Tôi đang thả hồn trôi về dòng sông đỏ lựng phù sa và cành nhãn oằn trái chín của tôi thì bỗng ngoài đường có tiêng xe đỗ lại.

– Ông Mười có khách. – Vũ khẽ bảo tôi.

Ông Mười xua tay:

– Không đâu, hai chú cứ yên tâm ngồi chơi. Nhà có chút bận rộn, nhưng đến mai kìa, còn bây giờ thì chúng ta hoàn toàn tự do.

Tôi nhìn ra cửa. Một người con gái mặc áo dài Việt Nam đi vào. Đột nhiên tôi đứng nhổm dậy và kêu lên:

– Kìa, cô Hoàng!

Người con gái mặc chiếc áo màu vàng phơn phớt mưa bụi, đôi má hồng đào, khuôn mặt trái soan, tay xách lẳng hoa đi vào. Cô Hoàng đang lướt đi trên đường bên hàng rào bông bụp xanh rờn rung rinh những đóa hoa như mắt ai núp nhìn sau lá. Cô Hoàng rửa chân bên mái nước mưa rồi bước vào nhà, từng dấu chán in rõ ràng trên màu gạch nung. Cô Hoàng ngồi dưới cội nhãn sau vườn, trong nắng mai hồng trước ngọn cọ thần run rẩy của họa sĩ Như Thanh. Cô Hoàng thanh lịch nhất tỉnh nhà đã làm thổn thức biết bao nhiêu trái tim tao nhân mặc khách và làm bàng hoàng một cậu học trò chưa đến tuổi yêu…

– Cô Hoàng!

Ông Mười đang trò chuyện với Vú, bỗng ngưng ngang, nhìn tôi. Ông chưa vội nói gì, hình như muốn để cho tôi sống lâu dài trong niềm hạnh phúc bất ngờ và giây lát ấy.

Còn người con gái vội vàng đặt giỏ hoa xuống đất và đứng lại, ngỡ ngàng trước người khách đang ngạc nhiên trước sự xuất hiện của mình. Để chấm dứt tình trạng “chưa thông cảm nhau” giữa hai đàng, ông Mười nói với giọng xúc động mà cố giữ cho được tự nhiên:

– Đó không phải cô Hoàng ngày xưa ở quê nhà của chú, mà đó là cháu nội của cô Hoàng!

Tôi sực tỉnh ra, và hiểu sự thực nhưng vẫn cứ ngạc nhiên, ngạc nhiên vì cuộc hành trình ngàn dặm mây của Rồng đã đạp vũ trụ xoay quá nhanh: hơn nửa đời người, chỉ trong khoảnh khắc, từ bé đến già ngỡ là một giấc chiêm bao!

Ông Mười bảo cô gái:

– Con đem hoa đặt trên bàn thờ bố con đi, rồi ra xe giúp bà đem các thứ vào nhà.

Cô gái bước qua phòng khách rồi vào trong. Dáng đi của cô gái giống cô Hoàng thuở nào như tạc. Như cô Hoàng tái sinh trong đứa cháu nội của cô.

Chập sau, một bà cụ bước vào, vai mang, tay xách. Chiếc áo dài đen, màu tóc bạc quá nửa. Mắt thâm quầng. Ông Mười bảo:

– Cô Hoàng của chú là bà đó đó.

Tôi bước ra xách tiếp các món cho bà và nói:

– Cô Hoàng, cô còn nhớ em không?

Người đàn bà nhìn tôi như hỏi: Em là ai? Tôi vỗ khẽ vào ngực như Carnot đứng trước mặt thầy cú trong sách quốc văn.

– Em là thằng bé được cô dạy toán ngày xưa đây mà!

Tôi buột miệng hỏi luôn, không đoán được chuyện gì sẽ tới.

– Còn thầy đâu cô?

– Thầy của em hả?… Người đàn bà ngập ngừng rồi nghẹn ngào – Thầy chết trong trại cải tạo Hoàng Liên Sơn đã ba năm rồi!

Ông Mưởi tiếp:

– Nó là Đốc Phủ Sứ về hưu, nhưng vẫn phải đi học tập. Học mãi sáu năm vẫn chưa thuộc bài. Học cho tới chết. Chưa biết xuống đó, ông Hồ Chí Minh còn bắt nó học tiếp nữa hay thôi ?

Ồng Mười ngưng một chốc rồi nói tiếp:

– Nghe đồn nó bị giam chung với luật sư T. Không biết có đúng không. Chỉ biết rằng cả hai đều chết chung một trại.

Niềm vui gặp lại người thân cách mặt quá lâu ngày chợt tan biến. Nỗi buồn tràn tới ào ào.

Lúc nãy tôi tưởng khi gặp lại cô Hoàng, thì sẽ được cô nhắc lại những chuyện trèo nhãn, tắm sông của bọn tôi, chuyện họa sĩ Như Thanh, nhất là chuyện thầy không bằng lòng khi thấy họa sĩ vẽ hình cô thành tranh và đem trưng bày ở nhà Xẹc Tây, rồi cô giận thầy bỏ vô nhà ông Mười, nơi tôi được gặp cô lần cuối cùng. Hồi ây cô đã đội vương miện Hoa khôi của tỉnh nhà. Thế mà bây giờ, hoa khôi đã trở thành bà nội. Con người như giọt nước tràng giang cuốn hút, như hạt bụi trong thời cuộc xoay vần. Đường mây ngàn dặm của Rồng thăm thẳm xa. Trái đất nghiêng về bóng tối để che những đổ nát và những dòng máu lệ trên quê mẹ Việt Nam tôi, để lấp những dải khăn sô trên mái tóc của hàng triệu người bất hạnh.

Mỗi một gia đình lưu vong đang lấy xứ người làm quê mình đều là một thảm kịch: Chồng, con, thân thuộc còn nằm trong chiếc lồng sắt to kia, hay vùi xương đất lạnh. Tôi không hỏi thêm cô Hoàng nữa, sợ lại làm tóe máu vết thương.

…Vũ và tôi ra về, mỗi đứa mang theo một hòn đá đè trên tim. Định rong chơi phố đêm. Paris về đêm càng phơi trần vẻ đẹp. Nhưng thôi, hai đứa đi về nhà để tìm sự yên nghỉ.

Chúng tôi ngồi lặng bên cốc cà-phê. Vũ nhét thuốc châm hút và nói:

– Bà Hoàng là mẹ của một anh hùng. Chính bà cũng là một anh hùng trong thời đại chúng ta đang sống. Toa có để ý thấy tấm ảnh trên chiếc bàn thờ nhỏ ở góc phòng không?

– Có. Đó là ảnh của dượng Hoàng, tôi biết rất rõ. ổng rất đẹp trai. Rất là đẹp trai. Thiệt xứng đôi với cô Hoàng. Người ta gọi ông là thầy Ký Bích.

Vũ khẽ tợp tí trà và chậm rãi rít vài hơi thuốc, rồi lắc đầu:

– Không phải đâu! Đó là con trai lớn của ổng. Tên là Huy.

– Thế cơ à? Tôi kêu lên – Nhưng nó làm sao mà…. ?-

– Té ra tôi không gặp thầy Bích mà cũng như tôi đã quen với thầy, nhờ khuôn mặt thằng Huy. Hai bố con giống nhau đến nỗi toa phải lầm!

Vũ tựa lưng vào thành ghế như để lấy sức kể một chuyện dài. Vũ nói tiếp:

– Tôi quen với gia đình ông Mười trong một dịp tình cờ. Sau vài lần chuyện vãn thì tôi mới biết ông là bạn của thầy học Pháp văn của tôi. Do đó mà ông coi tôi như người thân. Tôi tới lui thăm viếng gia đình ông luôn. Ông Mười tâm sự với tôi là ông có đi kháng chiến chống Pháp mất vài năm. Năm 1945, ông bị cán bộ Việt Minh địa phương lên án tử hình, nhưng nhờ tài biện luận mà ông thoát khỏi án chết. Hai người khác cùng ra trước tòa với ông bị kết án tử hình và bị bắn ngay sau đó. Mặc dù vậy, ông Mười vẫn ra chiến khu Đ, viết báo, truyền đơn bằng tiếng Pháp rải vào Sài Gòn và dịch các bản tin Pháp ra Việt ngữ cho các báo kháng chiến.

Nhưng đến năm 1949 thì ông Mười bỏ về thành vì ông nhận thấy bộ mặt độc tài và khinh rẻ trí thức của Cộng sản. Trí thức không có nghĩa gì hơn là Việt gian. Ông bỏ về Sài Gòn rồi đi Pháp luôn.

Chồng bà Hoàng lúc bấy giờ đã lên chức Đốc Phủ Sứ thượng hạng, được hưởng nhiều bổng lộc của nhà nước cho nên mặc dù ông Mười muốn thầy Bích đem cả gia đình sang Pháp, thầy và cô vẫn không chịu đi. Mãi cho đến 1975 thì không đi kịp nữa. Thầy bị bắt đi cải tạo. Ông Mười với tư cách một công dân Pháp đã can thiệp cho gia đình cô Hoàng sang với ông. Đó là vào năm 197… – Vũ ngưng để lấy hơi bằng nhựa thuốc.

– Còn cháu Huy? – Tôi sốt ruột hỏi.

– Thằng Huy đã đổ kỹ sư điện trong nước. Cho nên khi sang Pháp, nó tìm được việc làm một cách dễ dàng. Gia đình sống trong cảnh sung túc. Nhưng cô Hoàng ôm canh cánh bên lòng nỗi đau tử biệt sinh ly. Chưa biết ngày nào mới xum họp với chồng. Sự day dứt đó kéo dài trong sáu bảy năm ròng. Bỗng một hôm thằng Huy đi làm rồi không về nữa, cô Hoàng chỉ nhận được mấy giòng chữ: “Con về nước giải phóng đồng bào và cứu thoát ba con. Má đừng lo, đừng buồn. Con không thể ăn ngon ngủ yên trong lúc nhà tan nước mất. ” Tôi có nhìn thấy tận mắt những chữ đó của Huy trên một tờ giấy học trò. Đến nay tôi vẫn còn nhớ từng chữ và tuồng chữ cứng cát của chàng trai anh dũng.

Vũ ngưng một chốc, hút vài hơi thuốc, rồi tiếp:

– Đâu chừng hai năm sau, tức là hồi năm ngoái đây, cũng vào lúc sắp Tết ta như hôm nay. Trời Paris lạnh ngắt, mười lăm độ dưới không độ, một người bạn trong cộng đồng mang tới một mẩu tin trên tờ Nhân Dân Hà Nội: ‘‘Trần Quang Huy, Lê Phục Quốc, Nguyễn Quốc Hưng và đồng bọn hoạt động lật đổ chánh quyền, đã bị bắt tại Vũng Tàu. Phiên tòa họp ngày 18-1-85 tại TP Hồ Chí Minh đã kết án tử hình ba tên đầu đảng và khổ sai chung thân bọn a tòng. ”

Vũ ngưng hẳn câu chuyện, nói sang một vấn đề khác:

– Đấy toa thấy không, Hà Nội đâu có chủ trương văn học nghệ thuật thuần túy. Mỗi một chữ của chúng viết là một giọt máu, một lóng xương của dân mình chết thảm. Vậy mà trong lúc này còn có những người cổ động văn chương thuần túy, quay lưng lại với thực tại của đất nước. Từ lâu, tôi vẫn chủ trương chống cái lối này, nhất là sau vụ án tử hình thành Hồ trên đây. Tôi đã đến gặp bà Hoàng. Đây là một dịp để trui luyện thép bút của mình, một dịp để cho mình mở mắt to hơn, nhìn rõ hơn.

Tôi tưởng tôi sẽ gặp một bộ mặt đau đớn sầu khổ, mắt đỏ hoe vì khóc lóc, thân hình rã rời vì vật vã. Nhưng không. Bà mẹ ấy vẫn hiên ngang với dáng người mảnh khảnh gầy gò. Tóc trắng phau giữa rừng cờ vàng ba sọc đỏ. Đoàn người biểu tình ào ạt trước sứ quán Việt Cộng. Những sinh viên trẻ, những công chức đứng tuổi, bạn của Huy đốt nến cầm tay diễu qua trước mặt sứ quán xã nghĩa sát nhân.

Bà mẹ vẫn đứng yên, lẳng lặng như một cây cổ thụ giữa trời im gió, tay mang băng trắng chữ đen: “Hãy cứu lấy con tôi!”

Nhưng Hà Nội lỳ lợm, ác quỷ với bộ mặt sứ quán trắng bệch, câm như hến trước làn sóng đả đảo vang ầm, trước những ngọn nến đốt cháy cả tuyết.

Hai tuần sau – Vũ kể tiếp với giọng rầu rầu – Hai tuần sau tôi mới gặp lại người mẹ ấy. Vẫn áo dài đen mắt thâm quầng, nhưng băng trắng chữ đen đã rụng theo sinh mạng của con trai bà.

Bà đến chùa. Bên nhà chúng đã đem ba vị anh hùng ra hành quyết. Bên này bà đi cầu siêu cho con. Bà đau buồn vô hạn. Nhưng bà thấy yêu con hơn. Nó lớn hơn bà tưởng. Nó đi cứu bố nó. Nó đi cứu nước.

Tiếng đọc kinh của vị sư già rền vang trong biệt điện. Những ngọn nến chiếu rọi nụ cười muôn thuở của Phật Thích Ca. Anh linh của đứa con trai là làn khói bay vờn hôn tóc mẹ già.

Vũ nói mấy câu sau cùng với giọng rưng rưng:

– Huy mất đi, tôi mất một người bạn đường chân thành và nhiệt huyết. Nhưng ngọn đuốc của Huy không rơi xuống. Chúng ta đang cầm nó, tiếp tục giơ lên. Mỗi lần tôi đến thăm gia đình, nhìn bức tranh, lòng tôi tự nhủ thằng Huy hi sinh, Rồng có thêm mây để tung lướt. Con Rồng Việt Nam đã uống cạn nước hai đại dương.

*

Trước khi tôi rời Paris, Vũ đưa tôi đến thăm ông Mười và cô Hoàng một lần nữa. Tôi mang một bó hoa hồng tươi đặt trên bàn thờ em Huy. Ngày cận Tết, chiếc bàn thờ ánh lên rực rỡ với những đóa hoa và những ngọn nến! Tôi và Vũ đốt nhang khấn vái theo phong tục cổ truyền. Chưa bao giờ tôi ngửi thấy mùi nhang thơm đến thế.

Cô Hoàng mời chúng tôi dùng cơm thân mật với gia đình. Phút chia ly lòng tôi quyến luyến lạ thường. Gần như ngày xưa, mỗi lần sắp nghỉ hè, chúng tôi cho quần áo sách vở vào sẵn trong va ly, để khi tan học chiều về là ù té chạy về vác luôn ra bến xe. Cô Hoàng ra đứng ở đầu hàng bông bụp, rưng rưng: “Các em về rồi trở lên mau nhé! Cô ở trên này một mình buồn lắm!”

Bây giờ nếu cô Hoàng tiễn chân tôi rời Paris chắc cô sẽ nói câu khác, nhưng lòng tôi vẫn rộn lên một sự bịn rịn trẻ thơ. Tôi thấy như mình còn đang sống trong ngôi nhà mái ngói cũ kỹ rêu xanh nằm trong vòng hương ngọt của nhưng cội nhãn già.

Vũ và ông Mười đọc báo, có những tờ tới cách mấy bữa trước mà chưa ai khui ra đọc, vì cả nhà bận rộn Tết nhất, hội hè.

Tôi ngồi nhìn bức tranh “Rồng Mây” để tìm ý tứ làm một bài thơ lưu niệm trao lại gia đình. Thì bỗng Vũ chìa tờ báo đang đọc sang ông Mười:

– Ông Mười đọc giùm cháu cái tin này cái đã! Hà hà!

Ổng Mười ngoảnh sang đọc trong lúc Vũ cười khúc khích. Ông Mười đọc xong rồi ngẩng lên nói thinh không:

– Quả thật trời đất công bình, tích ác thì phùng ác.

Vũ cười ha hả và kéo tờ báo sang bên tôi. Tôi đọc nhanh:

“Tin thêm về vụ kho đạn Long Bình phát nổ (Tin Việt Nam): Theo tin đài Bắc Kinh, nhiều hãng thông tấn ngoại quốc và một nguồn tin trong nước đáng tin cậy, thì kho đạn Long Bình do quân đội Mỹ để lại đã phát nổ. Chánh quyền Cộng sản cố giấu nhẹm vụ này, nhưng không che dấu được mắt các phóng viên ngoại quốc, và nhất là mắt dân chúng. Tin kho đạn nổ tung loan đi rất nhanh. Dân chúng nườm nượp kéo tới xem, và cho đây là điềm xấu cho chế độ Cộng Sản. Tội ác của chế độ Cộng Sản và của già Hồ khiến cho trời không dung đất không tha. Không ai châm ngòi mà tự nhiên lại nổ tung…”

Cô Hoàng ở sau bếp nghe xôn xao bèn chạy lên, hỏi:

– Có tin gì vui dữ vậy chú Vũ?

– Trời đã sai thiên lôi đánh nát mả Hồ tặc để trả thù cho em Huy và các bạn em đây này, thưa cô. Tết này sẽ vui hơn Tết qua nhiều đó cô.

xuanvu_sign

Hoa-Kỳ, ngày sinh-nhật thứ 60
(19 tháng 3 1990)

This entry was posted in 4.Truyện ngắn, Xuân Vũ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s